Chương 4: Hướng đông lúc rạng sáng
Sáng thứ hai trên Đỉnh Gió, Cốc ngồi quay mặt về hướng tây, và cậu nôn vào gốc chè.
Cậu cố ý làm thế. Sáng hôm trước, khi thấy hai bàn tay mình run trong nắng sớm, cậu đã không dám tin. Có thể là do đỉnh núi trong lành. Có thể do đói. Có thể do cậu mệt quá nên tưởng tượng ra. Cha dạy cậu, ruộng nào lúa tốt khác thường thì đừng mừng vội, phải tháo nước ra coi lại cái bờ, coi lại cái cống, coi lại cái mạch đất, rồi mới tin. Vậy nên sáng nay cậu ngồi ở cùng chỗ, cùng giờ, nhưng quay lưng về phía mặt trời.
Ba hơi vào thì năm giọt cùng tới, đều nhau, rồi đánh nhau ngay trong ngực. Cậu chỉ kịp bò ra tới gốc chè.
Bà Yên đang đứng ở cửa nhà gỗ, cầm chén trà. Bà nhìn cậu nôn, nhìn cậu lấy nước trong chum súc miệng, không nói gì, rồi quay vào.
Sáng thứ ba, cậu quay mặt về hướng đông như hôm đầu, nhưng đợi tới lúc mặt trời đã lên cao một con sào mới ngồi. Giọt mát có tới, mảnh hơn. Bốn giọt kia cũng tới, rõ hơn hôm đầu. Không nôn, nhưng chỗ dưới rốn cậu lợn cợn như có cát. Cậu ngồi được nửa nén hương thì phải đứng dậy.
Sáng thứ tư, cậu ngồi lúc trời còn tối, quay về hướng đông, và đợi.
Khi chân trời vừa chuyển màu, giọt mát đầu tiên chạm đỉnh đầu cậu. Cậu không làm gì khác. Chỉ hít vào chậm, và ở cuối mỗi hơi, cậu ngắt hơi thở lại một chút, ngắn, như người ta ngắt sợi lạt khi buộc mạ. Cậu không biết vì sao mình làm thế. Chỉ thấy rằng khi ngắt như vậy, mấy giọt ấm, giọt nặng, giọt gắt ở xa xa kia không theo vào được, như cá con bị chặn ở miệng đó.
Giọt xanh xuống. Nằm yên. Chồng lên giọt hôm qua.
Cậu nhớ lại lời cha, hồi cậu sáu bảy tuổi, theo cha ra ruộng lúc tờ mờ sáng. Cha bảo, buổi sáng tháng Giêng là lúc cây thở mạnh nhất, mạ cấy giờ ấy bén rễ nhanh, cấy giữa trưa là mạ héo. Cha không biết gì về linh khí. Cha chỉ biết về mạ.
Ngày nào cũng như ngày nào. Cốc ngủ ở gian chứa củi, thức dậy trước gà gáy, ngồi quay về hướng đông. Mặt trời lên thì cậu đứng dậy, quét lá, gánh nước, lau thước đá. Gần trưa, cậu tránh xa cây cột đồng cho bà Yên đo bóng, rồi đi xuống chín trăm bậc để làm ruộng buổi chiều ở tầng một. Chiều tối lại leo lên chín trăm bậc.
Ngày đầu tiên làm cả hai chiều như thế, tới bậc thứ sáu trăm thì chân cậu run lẩy bẩy. Cậu phải ngồi xuống tảng đá nghỉ, nhìn những ngọn đèn ở dãy nhà Lúa bên dưới bật lên từng cái một.
Ở khoảng đất bằng ấy, chiều hôm sau, cậu gặp Kiều Vọng.
Hắn đứng một mình trên mỏm đá nhô ra vực, luyện kiếm. Thanh kiếm trong tay hắn là thép xanh, mảnh như lá lúa, và mỗi khi hắn chém xuống thì lưỡi kiếm để lại trong không khí một vệt đỏ như sợi chỉ than, một lúc sau mới tắt. Hắn chém đi chém lại một thế, chừng ba mươi lần, lần nào vệt đỏ cũng đúng chỗ cũ, không lệch một sợi tóc. Mồ hôi chảy ròng ròng trên thái dương hắn.
Cốc đi qua, cúi đầu. Kiều Vọng không dừng kiếm.
– Lên chỗ bà già ấy vui không, củi?
– Dạ, quét lá thôi ạ.
– Quét cho kỹ. – Vọng chém thêm một nhát. Vệt đỏ rạch ngang mặt trời đang lặn. – Quét xong ba mươi ngày thì về dãy nhà Lúa mà ngủ cho no. Củi khô thì mới cháy đều.
Cốc không hiểu câu ấy. Cậu leo tiếp. Đi được một quãng xa, cậu ngoái lại. Kiều Vọng đã ngừng chém, đứng im trên mỏm đá, nhìn xuống phía dãy nhà Lúa, nơi đèn đã thắp. Hắn đứng như thế cho tới khi Cốc khuất sau khúc quanh.
Bà Yên không hỏi vì sao cậu không về dãy nhà Lúa ngủ. Hôm thứ ba, bà chỉ nói:
– Tao nhắn thằng Mông rồi. Ba mươi ngày phạt thì mày ngủ trên này cho tiện việc. Hết phạt thì cuốn xéo.
– Dạ.
– Cái ổ rơm ấy, mỗi tuần mày phơi một lần. Rơm ẩm thì sinh rệp.
Cậu phơi rơm. Cậu cũng làm thêm những việc bà không bảo. Cái mái lá gian củi bị dột hai chỗ, cậu lên lợp lại. Đống củi bị mối ăn chân, cậu xếp lại lên mấy hòn đá kê. Bà Yên đi ngang qua, nhìn, rồi tiếp tục đi.
Mồng năm tháng Hai là ngày phát lương.
Cốc phải về dãy nhà Lúa vì Ông Bá Hiền phát lương tận tay, đứa nào vắng thì giữ lại tháng sau. Ông ngồi trên một cái ghế đẩu ở hiên dãy Một, trước mặt là một cái rương gỗ nhỏ và một cái thúng đựng bánh giầy gói lá chuối. Tạp dịch xếp hàng. Mỗi đứa ba viên linh thạch hạ phẩm, nhỏ như hạt mít, sáng mờ như thủy tinh đục, và một cái bánh giầy.
– Cốc à. – Ông Bá Hiền đặt ba viên đá vào lòng bàn tay cậu, rồi giữ tay cậu lại một chút. – Mấy hôm nay không thấy cháu ngủ ở nhà. Bà Yên trên ấy có khó không?
– Dạ không ạ.
– Bà ấy khó tính lắm. – Ông cười, cái bụng rung rung. – Hồi bác còn trẻ, đi ngang qua đài bà ấy, đứng chắn bóng, bị bà ấy lấy gậy gõ cho một cái vào ống chân, sưng ba ngày. Cháu cố nhé. Hết phạt thì về đây, bác để giường cho.
Ông đặt thêm vào tay Cốc cái bánh giầy, còn dúi thêm một cái nữa.
– Cho cháu. Leo chín trăm bậc thì phải ăn.
Tối ấy, Bổng đòi Cốc ở lại. Hôm ấy là sinh nhật nó, mười lăm tuổi tròn. Bổng xin được ở Bếp Lớn một nồi chè đỗ đen nấu đường phên, mang về dãy Hai chia cho cả dãy. Mận cũng sang, mang theo một gói kẹo lạc mua ở chợ phiên. Chú Ba Trấu ngồi ở giường cuối, cầm bát chè, húp từng thìa nhỏ, cười móm mém. Ai đó thổi một bài sáo trúc không đúng điệu.
Trời đã tối hẳn. Leo chín trăm bậc trong đêm không đèn thì không ai làm. Cốc ngủ lại giường mười bốn.
Sáng mồng sáu, cậu ngồi dậy lúc gà gáy, quay mặt về phía cửa sổ hướng đông của dãy nhà, thở ba hơi.
Không có gì cả.
Không phải năm giọt đánh nhau. Mà không có giọt nào. Chỗ dưới rốn cậu, nơi mấy ngày nay đã có một vũng mát nho nhỏ, giờ chỉ còn lại đáy. Như cái ao bị ai tháo cống trong đêm.
Cậu ngồi im rất lâu. Bổng ngáy bên cạnh. Chú Ba Trấu ho ở cuối dãy.
Có phải vì cậu ăn chè ngọt, thức khuya, nên khí tan? Có phải vì không quay đúng hướng? Có phải vì ngủ ở chỗ thấp, linh khí đục hơn trên đỉnh núi? Cậu nghĩ tới tất cả những thứ ấy, và cậu không biết thứ nào đúng.
Cậu nhìn xuống tấm ván sàn dưới chân giường. Rồi cậu nhìn cây cột cái. Rồi cậu đứng dậy, xỏ dép, đi ra cửa, bắt đầu leo.
Mất bốn buổi sáng thì vũng mát dưới rốn cậu mới đầy lại như cũ.
Ngày mười tháng Hai, ở buổi học tối của Truyền Công đường, ông chấp sự Đường làm cái việc ông làm mỗi tháng một lần, là thử tầng cho tạp dịch. Ông đi dọc các hàng chiếu, đặt lên lòng bàn tay mỗi đứa một chiếc lá khô.
– Dẫn khí ra lòng bàn tay. Lá động thì là có khí. Lá bay lên được một tấc là tầng hai. Lá xoay tròn là tầng ba. Không động thì về tập tiếp.
Phần lớn lá động. Lá của Bổng nhấp nhổm như con châu chấu, bay lên chừng một tấc rồi rơi. Lá của Mận xoay ba vòng, chậm, rồi dừng. Lá của chú Ba Trấu xoay đều đều, không nhanh, không chậm, như đã xoay đúng thế bốn mươi năm nay.
Ông chấp sự đặt chiếc lá lên tay Cốc. Không nhìn cậu, mắt vẫn nhìn ra cửa sổ.
Cốc thở ba hơi. Cậu không gọi năm giọt. Cậu chỉ gọi cái vũng mát dưới rốn mình, dẫn nó lên, qua ngực, qua vai, xuống cánh tay, như dẫn nước từ ao ra ruộng qua một cái rãnh nhỏ.
Chiếc lá trên tay cậu không bay lên. Nó run, rồi cái cuống của nó, tự nó, uốn cong lên, như có hơi sương làm nó mềm. Rồi nó dựng đứng trên lòng bàn tay cậu, đứng thẳng như một mầm cây vừa nhú.
Ông chấp sự Đường lần đầu tiên rời mắt khỏi cửa sổ.
Ông cúi xuống nhìn chiếc lá. Ông nhìn mặt Cốc. Rồi ông nhìn lại chiếc lá. Chiếc lá vẫn đứng, rồi từ từ ngả xuống, nằm lại trên tay cậu.
– Tầng một. – Ông nói, giọng không còn đều đều nữa. – Mà lạ. Lá không bay, lá đứng. Khí của ngươi... – Ông ngập ngừng, rồi lắc đầu, đứng dậy đi tiếp. – Tầng một. Tập tiếp.
Đi về, Mận chạy theo Cốc tới tận bờ giếng.
– Cậu làm gì trên ấy?
– Quét lá. Gánh nước.
– Đừng có đùa. Tớ ba năm trên này rồi, chưa thấy lá nào đứng lên như thế. – Mận nắm tay áo cậu. – Trên ấy khí khác à? Cho tớ lên với.
– Trưởng lão Mông chỉ phạt mình tớ.
– Thì tớ cũng xô ngã ai đó cho bị phạt.
– Đừng.
Mận nhìn cậu, mắt một mí nheo lại. Rồi nó buông tay áo cậu ra.
– Cậu giấu à?
– Không phải giấu. – Cốc nói. – Tớ chưa biết nó là gì. Biết rồi tớ nói.
– Hứa đấy nhé.
– Ừ.
Bổng đi phía sau, hai tay cầm bánh giầy, chẳng hiểu chuyện gì, chỉ nói:
– Trên ấy có cái gì ăn được không, Cốc?
Sáng mười bốn tháng Hai, trời nhiều sương. Cốc không ngồi trong gian củi nữa. Mấy hôm nay cậu ra ngồi dưới gốc chè cổ thụ, vì cậu thấy ở đó giọt mát tới dày hơn. Cậu ngồi sát gốc, lưng gần chạm vào lớp vỏ cây sần sùi, mặt quay về phía đông, hai bàn tay úp lên rễ chè nổi trên mặt đất, chứ không ngửa trên gối như ông chấp sự dạy.
Cậu không nghe tiếng gậy.
Một cái gõ vào giữa lưng, không mạnh, nhưng đúng vào một chỗ khiến cả người cậu giật nảy, và mấy giọt xanh đang trôi xuống ngực bị đánh tan như bọt nước.
Bà Yên đứng sau lưng cậu, tay chống gậy, miệng không nhai trầu. Lần đầu tiên Cốc thấy mặt bà không cáu kỉnh, không châm chọc. Mặt bà trắng, môi mím lại.
– Đừng có nghịch. – Bà nói.
– Con không nghịch. Con chỉ...
– Tao biết mày đang làm gì. Nửa tháng nay tao biết. Rạng sáng. Hướng đông. Ngắt hơi cuối. Ngồi dưới gốc chè. Mày tưởng tao mù à? – Bà thở mạnh qua mũi. – Đừng có nghịch. Mày không biết mày đang đùa với cái gì đâu.
– Bà biết nó là gì ạ?
Bà Yên không trả lời. Bà nhìn qua đầu cậu, ra phía đông, nơi mặt trời đang lên, đỏ như lòng đỏ trứng vịt sau lớp sương. Bà nhìn rất lâu, lâu tới mức Cốc tưởng bà đã quên cậu ngồi đó.
Rồi bà quay đi, khập khiễng về phía cây cột đồng. Đi được ba bước, bà dừng lại, không ngoái đầu.
– Thằng trước cũng bắt đầu y như mày.
— Hết chương 4 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe