Chương 3: Bóng nắng trưa
– Trả đây.
Cốc nói câu ấy lần thứ hai thì Mã Tuấn đã giơ con quay lên quá đầu, cao hơn tầm tay cậu cả gang.
Lúc ấy là sáng hai mươi sáu tháng Giêng, bên giếng nước cạnh gốc khế. Cốc vừa múc xong đôi thùng, cúi xuống buộc lại quai thì con quay tuột khỏi túi áo, lăn tới chân một đôi ủng vải. Mã Tuấn là đệ tử ngoại môn, mười tám tuổi, cao lớn, mặt vuông, cổ áo luôn mở hai cúc. Hắn hay xuống bờ giếng này buổi sáng, không phải để múc nước, mà vì ở đây có tạp dịch để sai.
– Trả cái gì? – Hắn lắc lắc con quay. – Đồ chơi trẻ con. Thằng đá xám còn chơi quay à?
Mấy đứa ngoại môn đi cùng hắn cười. Bên kia giếng, mấy đứa tạp dịch đứng im, thùng nước trên vai.
– Của cha tôi khắc.
– Thế à? – Tuấn xoay con quay, nheo mắt nhìn vệt cháy trên múi đỏ. – Sư huynh Kiều Vọng đốt rồi mà. Hỏng rồi. Để ta vứt hộ.
Hắn vung tay về phía ruộng.
Cốc không nghĩ. Cậu lao vào ôm ngang hông hắn. Tuấn to hơn cậu một cái đầu, nặng hơn cậu chắc hai yến, và là Luyện Khí tầng năm. Ôm hắn như ôm một cái cột đình. Nhưng hắn đang đứng một chân trên mép bờ giếng ướt rêu, tay đang vung ra, và cái lực của Cốc đến đúng lúc trọng người hắn ngả theo cánh tay.
Hai đứa cùng đổ. Cốc ngã xuống bờ đá. Tuấn lăn qua mép bờ, rơi đánh ùm xuống ruộng tầng một.
Con quay văng lên, rơi xuống đá, nảy hai cái. Cốc chụp được nó.
Dưới ruộng, Mã Tuấn ngồi dậy giữa bùn, nước ngập tới ngực, mặt mũi lấm lem, trên đầu vắt một mớ bèo tấm. Lần này thì cả bên tạp dịch cũng không nhịn được cười.
Nửa canh giờ sau, Cốc đứng giữa Chấp Pháp đường.
Gian nhà ấy tối và lạnh. Sàn đá xanh, tường không treo gì ngoài một tấm bảng gỗ khắc các điều luật. Trưởng lão Mông ngồi sau một cái án thư thấp, hai tay đặt lên mặt án, không chắp sau lưng như hôm thử căn. Mã Tuấn đứng bên phải, đã thay áo, tóc còn ướt. Kiều Vọng đứng sau lưng thầy, mắt nhìn đi chỗ khác như chuyện này chẳng liên quan gì tới hắn.
– Tạp dịch Đàm Cốc xô ngã đệ tử ngoại môn. – Trưởng lão Mông nói. – Có đúng không?
– Dạ đúng.
– Vì sao?
– Anh ấy lấy đồ của con, định vứt xuống ruộng.
– Đồ gì?
Cốc lấy con quay ra, đặt lên mặt án. Trưởng lão Mông nhìn nó. Ông không cầm lên. Ông chỉ nhìn, như nhìn khối đá xám hôm rằm.
– Mã Tuấn, có đúng không?
– Bẩm sư bá, con chỉ trêu nó. – Tuấn nói. – Con không định vứt thật.
– Ngươi giơ lên quá đầu, tay vung về phía ruộng. Mười một người nhìn thấy. – Trưởng lão Mông nói, giọng không lên không xuống. Rồi ông quay sang Cốc. – Luật tông môn, tạp dịch ra tay với đệ tử ngoại môn, phạt ba mươi ngày lao dịch. Ngươi có biết Quan Tinh Đài không?
– Dạ không.
– Đỉnh Gió, phía tây, chín trăm bậc. Từ mai, ba mươi ngày, sáng lên quét, tối về. Không trừ việc ruộng, ruộng thì làm buổi chiều. – Ông gõ ngón tay xuống mặt án một cái. – Mã Tuấn, ba mươi ngày gánh phân cho tầng một. Lấy đồ của người khác giữa ban ngày, đệ tử ngoại môn làm thế, mất mặt tông môn.
Tuấn há miệng định nói gì đó. Kiều Vọng đứng sau, khẽ ho một tiếng. Tuấn ngậm lại.
Cốc cầm con quay lên, cúi đầu, đi ra. Tới cửa, cậu nghe Kiều Vọng nói nhỏ với thầy, giọng không hẳn là để cậu nghe mà cũng không hẳn là để cậu khỏi nghe:
– Sư phụ phạt nó lên chỗ bà già ấy, thì khác gì cho nó đi chơi.
Trưởng lão Mông không đáp.
Sáng hôm sau, hai mươi bảy tháng Giêng, Cốc bắt đầu leo.
Chín trăm bậc đá xếp từ sân chính vòng qua sườn tây lên Đỉnh Gió. Bậc không đều, có bậc cao tới đầu gối, có bậc mòn lõm như lòng chảo. Rêu mọc kín mặt đá ở những đoạn khuất nắng. Cứ hai trăm bậc lại có một khoảng đất bằng đặt một tảng đá cho người ngồi nghỉ. Ở tảng đá thứ ba, Cốc ngoái lại, thấy cả bảy tầng ruộng linh mễ trải dưới chân như những cái bậc thang xanh khổng lồ, dãy nhà Lúa chỉ còn bằng ba khúc mía đặt nằm ngang.
Cậu lên tới đỉnh thì mặt trời đã gần đứng bóng. Lần đầu, chín trăm bậc ấy ngốn của cậu gần trọn buổi sáng.
Quan Tinh Đài không như cậu tưởng. Cậu tưởng một tòa lầu cao, mái cong, có đệ tử áo trắng đứng hầu. Đây chỉ là một khoảng đất bằng trên đỉnh núi, rộng chừng một sân đình làng, lát đá xám đã nứt nhiều chỗ, cỏ mọc qua khe. Ở giữa là một cây cột đồng xanh rỉ, cao gấp đôi người, thẳng đứng như cái cọc tiêu giữa đồng. Dưới chân cột, nằm dọc theo hướng bắc, là một cái thước đá dài chừng năm sải, mặt trên khắc vạch dày đặc. Ở góc đài có một gian nhà gỗ mái lá, một cây chè cổ thụ thân to bằng cột đình, tán xòe rộng, và một cái chum nước sành to.
Một bà già đang đứng giữa đài, chống gậy, cúi nhìn xuống cái thước đá.
Bà nhỏ người, lưng hơi khòm, mặc áo xám đã bạc màu, tóc trắng búi gọn sau gáy cài một cái trâm tre. Miệng bà nhai trầu, môi đỏ. Bà đứng lệch người về một bên, chân trái co nhẹ, như hông bên ấy có tật.
Cốc bước tới định chào. Vừa đứng vào chỗ có nắng, bà gắt lên:
– Đứng xích ra! Mày đứng chắn bóng tao.
Cốc nhảy sang bên. Cái bóng của cậu đổ xuống mặt thước đá, trùm lên cái bóng mảnh của cây cột đồng. Cậu vội lùi thêm hai bước nữa.
Bà già không nhìn cậu. Bà nhìn đầu bóng cây cột đồng, giờ đã thò ra khỏi bóng của cậu, rơi đúng vào một vạch trên thước đá. Bà lấy một mẩu than nhỏ trong túi áo, cúi xuống, khó nhọc vì cái hông, đánh dấu một chấm ngay vạch ấy. Rồi bà đứng thẳng lên, nhổ bã trầu vào gốc chè, mới quay sang.
– Thằng nào đây?
– Dạ, con là Đàm Cốc, tạp dịch dãy nhà Lúa. Trưởng lão Chấp Pháp phạt con ba mươi ngày lên quét đài.
– Thằng Mông phạt mày lên đây? – Bà nhíu mày, rồi bật một tiếng cười khan. – Nó tưởng ở đây có việc à. Đài này mười năm chẳng ai quét, vẫn sạch như thường. Gió nó quét.
– Dạ.
Bà nhìn cậu từ đầu tới chân. Mắt bà nhỏ, sâu, có cái tinh của người già quen nhìn những thứ ở rất xa.
– Mày là thằng Xám.
Cốc không hỏi vì sao bà biết. Tin đồn ở Vân Lũng Tông chắc chạy được lên tới cả đỉnh núi.
– Dạ.
– Tao là Yên. Mấy đứa dưới kia gọi tao là bà Yên. Đứa nào nể thì gọi trưởng lão. Tao không cần mày nể. – Bà chỉ gậy về phía gốc chè. – Lá rụng thì quét. Chum vơi thì gánh nước dưới khe lên đổ đầy. Thước đá thì lau, lau bằng giẻ khô, đừng có đổ nước lên đấy, đá nó nứt. Và trưa nào cũng đừng có lảng vảng quanh cây cột. Trưa là giờ tao đo bóng.
– Đo bóng làm gì ạ?
– Để biết hôm nay là ngày gì.
– Hôm nay hai mươi bảy tháng Giêng ạ. – Cốc nói, rồi ngập ngừng. – Lịch ghi thế.
Bà Yên nhìn cậu như nhìn một đứa trẻ vừa bảo mặt trời là cái đĩa.
– Lịch là ai làm, mày biết không?
Cốc lắc đầu.
– Là tao. – Bà nói, rồi quay vào gian nhà gỗ, không nói thêm câu nào.
Cốc quét. Lá chè già rụng đầy mặt đài, dày, giòn, quét lên kêu xào xạo. Cậu gánh nước dưới khe đá phía sau đỉnh, khe ở thấp hơn đài chừng ba trăm bậc, mỗi chuyến đi về mất nửa nén hương. Chum sành to, đổ tám đôi thùng mới đầy. Rồi cậu quỳ xuống lau cái thước đá.
Mặt thước dài, mát lạnh, những vạch khắc trên ấy dày như vân gỗ, có vạch to, vạch nhỏ, cạnh vạch có chữ khắc nhỏ li ti mà Cốc chỉ đọc được vài chữ. Lập Xuân. Vũ Thủy. Kinh Trập. Cậu biết mấy chữ ấy. Cha cũng hay nói, Kinh Trập thì sấm đầu mùa, sâu bọ thức dậy, phải đi kiểm bờ ruộng.
Lau tới chân cây cột đồng, cậu thấy một dấu khắc nhỏ ở sát chân đế, chỗ cột cắm xuống đá. Dấu chỉ to bằng đồng xu, một vòng tròn, mép vòng có năm cái khía nhỏ đều nhau, như năm cánh của một bông hoa chưa nở. Rỉ đồng xanh đóng kín các khe của nó.
Cốc lấy giẻ chà cho sạch. Vừa lúc ấy bà Yên đi ra, tay cầm một cái chén trà bốc khói, mùi vỏ quýt khô thơm cay.
– Bà ơi, cái dấu này là gì ạ?
Bà Yên liếc xuống. Bà nhìn cái dấu lâu hơn cần thiết một chút.
– Dấu thằng thợ đúc. – Bà nói. – Đứa thợ nào chẳng khắc dấu lên đồ nó làm. Lau đi, đừng có hỏi.
Quá trưa thì Cốc phải xuống. Cậu còn phải làm ruộng buổi chiều. Nhưng khi cậu vừa xỏ dép thì trời đổi màu. Mây từ phía tây trườn qua đỉnh núi, xám như bông gòn bẩn, và mưa xuân bắt đầu rơi, thứ mưa bụi mỏng như rây bột, ướt từ từ mà ướt tới xương.
Bậc đá chín trăm cái, rêu phủ, mưa bụi. Cốc đứng ở mép đài nhìn xuống, bậc thứ mười đã trơn bóng như mỡ.
– Đi xuống bây giờ thì gãy cổ. – Bà Yên nói từ trong cửa gian nhà. – Cái hông tao là do trượt bậc thứ hai trăm mười một đấy. Mày muốn thì cứ đi.
Cốc không đi.
Mưa không ngớt tới tối. Bà Yên cho cậu một bát cơm nguội với ít muối vừng, chỉ cho cậu gian chứa củi nhỏ dựng sát bên nhà gỗ, cửa quay về hướng đông. Trong gian có một ổ rơm khô, một cái chăn dạ cũ có mùi long não, và một đống củi xếp ngay ngắn tới tận mái.
– Ngủ đấy. Mai dậy sớm, xuống làm ruộng bù. Tao sẽ bảo thằng Mông là tao giữ mày lại.
Đêm trên Đỉnh Gió lạnh hơn đêm ở dãy nhà Lúa nhiều. Gió lùa qua khe vách gỗ, rít lên từng hồi. Cốc nằm co trong chăn, lạnh tới mức không ngủ sâu được. Cậu nghe tiếng mưa trên mái lá, tiếng lá chè cổ thụ va vào nhau, và một lúc nào đó, tiếng bà Yên ho trong gian nhà bên.
Dưới lưng cậu, ổ rơm không ấm lên. Nó lạnh suốt đêm, như rơm thường.
Cậu chợp mắt được vài lần. Lần cuối mở mắt, ngoài khe cửa hướng đông đã có một vệt sáng màu xanh lơ nhạt. Mưa đã tạnh. Không khí trên đỉnh núi trong tới mức hít vào là buốt mũi.
Cốc ngồi dậy. Cậu không nghĩ gì nhiều. Cậu chỉ làm cái việc mà ông chấp sự Đường bảo phải làm mỗi sáng: ngồi xếp bằng, lưng thẳng, lòng bàn tay ngửa trên gối. Cửa gian củi mở hé. Trước mặt cậu, ở phía đông, chân trời đang chuyển từ xanh lơ sang hồng.
Ba hơi vào.
Giọt đầu tiên chạm vào đỉnh đầu cậu mát như sương đọng trên lá mạ. Cậu chờ những giọt khác. Những giọt ấm, giọt nặng, giọt gắt. Chúng có tới. Nhưng chúng tới rất mỏng, rất xa, như tiếng người gọi bên kia đồi. Chỉ có cái giọt mát ấy là rõ. Nó trôi xuống qua ngực cậu, chậm, mềm, và tới chỗ dưới rốn, nó không chạm vào cái gì để mà đánh nhau.
Nó nằm yên ở đó.
Cốc ngồi im không dám thở mạnh. Một giọt nữa. Rồi một giọt nữa. Mát, xanh, như nhựa của một cái chồi non mới bẻ. Chúng xuống, chúng nằm yên, chồng lên nhau, và cái chỗ trống lạnh dưới rốn cậu sáng hôm qua giờ ấm lên một chút, đầy lên một chút, như một cái ao đầu mùa mưa.
Không nôn. Không ù tai. Không tê tay.
Khi mặt trời nhô lên khỏi dãy núi phía đông, Cốc mở mắt. Ánh nắng đầu tiên rọi qua khe cửa, rơi đúng lên hai bàn tay đang ngửa của cậu, và cậu thấy hai bàn tay ấy đang run.
— Hết chương 3 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe