Chương 21: Chiếu đất thứ mười hai
Con quay chạy được ba vòng trên tấm chiếu mới, rồi bắt đầu trôi.
Cốc ngồi xổm cạnh giường cuối dãy Một, nhìn nó. Đêm mồng bốn tháng Sáu, ngọn đèn dầu đặt dưới đất, con Mơ ngồi bó gối trên giường, mắt tròn xoe. Tấm chiếu rơm trộn đất sét cậu đan suốt hai tối, cậu tự tay vẽ đường đất lên mép theo trí nhớ, cái đường lượn như đường mòn trên đồi, có chỗ gãy khúc, có chỗ thắt lại. Cậu vẽ chậm, nhấc tay bảy lần.
Con quay trôi khỏi mép chiếu, xuống ván sàn, đi một đường thẳng về phía cây cột cái ở xa tít giữa dãy. Đi được nửa đường thì đổ. Mũi đinh chĩa về phía dốc.
– Lại đổ. – Con Mơ nói. – Anh quay dở hơn cha.
Cốc nhặt con quay lên. Cậu sờ mép chiếu. Đường đất của cậu khô, nứt chân chim, chẳng giống gì một con cá vụt qua chỗ nước đục cả. Chỉ là một vệt bùn.
Sáng hôm sau con Mơ vẫn tái. Không tái như buổi sớm ở dãy Tư, nhưng tái. Cậu bắt nó ăn hai bát cơm. Nó ăn được một.
Chiều mồng năm, Cốc lên Đỉnh Gió.
Mười bốn ngày cậu không lên. Lá chè rụng phủ kín mặt đài thành một lớp dày, khô, giòn. Cái chum sành ở góc vơi chỉ còn một phần ba, mặt nước có bụi. Thước đá thì sạch. Có ai đó vẫn lau nó, mỗi ngày.
Bà Yên đứng cạnh cây cột đồng, chống gậy, nhìn xuống vạch trưa. Bà gầy đi. Áo xám rộng thùng thình ở vai.
Cốc đặt cái chiếu cuộn tròn xuống đất. Cậu cúi đầu.
– Thưa trưởng lão. Con xin trưởng lão vẽ cho con một đường.
Bà Yên không quay lại. Bà đánh dấu chấm than lên vạch, đứng thẳng dậy, tay đè lên hông trái. Rồi bà đi về phía nhà gỗ, khập khiễng, đi ra với cái thùng đất sét cũ đã khô cứng, ngồi xổm xuống bên cái chiếu.
– Nước.
Cốc đi múc ở chum, đổ vào thùng. Bà khuấy bằng tay. Bà không hỏi chiếu cho ai. Bà không hỏi cái chiếu cậu tự vẽ hỏng đâu. Bà chấm ngón trỏ vào đất, đặt xuống mép chiếu, và vẽ. Một mạch. Không nhấc tay. Không ngẩng lên.
Lần này Cốc biết mình đang nhìn cái gì. Cái đường ấy là một mẩu nhỏ của những đường khắc dưới sàn bốn dãy nhà, của những đường to bằng ngón tay chạy giữa Hang Mạ. Bà vẽ nó như người ta viết tên mình.
– Đất sét đừng lấy ở chân bờ dưới dãy nhà nữa. – Bà nói, vẫn không ngẩng lên. – Mày đào lõm cả một khúc rồi. Mưa giông tháng Bảy xuống, bờ ấy sụt. Sang chân bờ phía tây mà lấy, cũng đất ấy.
– Dạ.
Bà vẽ xong, chùi ngón tay vào vạt áo, đứng dậy, đi vào nhà.
Cốc đứng nhìn cái cửa nhà gỗ khép lại. Rồi cậu cầm đôi thùng, đi xuống khe. Ba trăm bậc xuống, ba trăm bậc lên. Tám đôi thùng. Lúc cậu đổ đôi thùng cuối, nước sóng sánh tới miệng chum, thì mặt trời đã lặn. Trong nhà gỗ đèn đã thắp. Cửa vẫn khép.
Cậu cuộn cái chiếu, đi xuống.
Đêm hôm ấy, cậu trải cái chiếu mới dưới chiếu cói của con Mơ, rồi ngồi xổm xuống mép giường, quấn dây, giật.
Con quay đứng trên mặt chiếu. Nó chạy vo vo. Năm màu nhòa vào nhau thành một màu xám nhạt như khói rơm, một chấm đen chạy vòng vòng chỗ vết cháy. Nó chạy mãi ở đúng một chỗ, không trôi đi đâu cả, như cái cọc đóng giữa ruộng. Chạy cho tới khi hết đà, chao chao, rồi đổ, lăn một vòng, mũi đinh chĩa vào vách.
Con Mơ vỗ tay.
– Lần này anh quay giỏi.
Từ hôm ấy, Cốc có cách đếm.
Rơm thì không thiếu. Vụ xuân vừa gặt, kho sau Bếp Lớn chất rơm mới tới tận nóc, vàng óng, thơm mùi nắng. Bổng cứ chiều chiều lại ôm ra một bó, giấu dưới đống củi, bảo bếp chính là rơm lót ổ gà. Mận về từ hôm mồng một, nó ngồi đan ở hiên dãy Hai, đan nhanh hơn Cốc gấp đôi, mép chiếu lồng hai lần kiểu người núi như chú Ba Trấu đã dạy. Con Ớt ngồi cạnh nó tước rơm. Con Riềng, em Ớt, mười tuổi, má đỏ, chạy đi chạy lại xách nước. Không ai hỏi vì sao lại đan chiếu giữa mùa hè. Tạp dịch đan chiếu là chuyện thường.
Cốc lấy đất sét ở chân bờ phía tây. Hai ngày một lần, cậu cuộn chiếu lên vai, leo chín trăm bậc.
Bà Yên vẽ. Mỗi lần một cái. Bà không hỏi gì. Cậu cũng không nói gì ngoài câu "thưa trưởng lão, con xin". Vẽ xong bà vào nhà, cậu đi gánh nước đổ đầy chum, quét lá, rồi xuống. Có một lần, lúc cậu vừa đặt cái chiếu xuống, bà đã ngồi sẵn với thùng đất khuấy rồi, như biết hôm ấy cậu sẽ lên.
Cái thứ tư cho con Mơ. Cái thứ năm cho thằng Tẹo, vì Bổng không chịu để thằng em họ nằm trên chiếu của mình mà bản thân ngủ ở bếp mãi, "bếp nóng, tao lớn người, tao chảy hết mỡ". Cái thứ sáu cho con Riềng. Cái thứ bảy cho con Ớt, con Ớt cầm cái chiếu, sờ đường đất ở mép, rồi nhìn Mận, rồi nhìn Cốc, không hỏi gì.
Cái thứ tám, thứ chín, thứ mười, thứ mười một cho bốn đứa nhỏ nhất dãy Tư. Con Lụa, con Thắm cùng xóm Đìa với Mơ. Một thằng bé ở làng ven sông tên Cún, sáng nào cũng đái dầm, vì ngủ say quá. Một con bé tên Nhót, chín tuổi, nhỏ như đứa lên bảy, hay ngất. Cốc chọn chúng bằng cách đi dọc dãy Tư lúc gà gáy, đặt tay lên trán từng đứa.
Đêm nào chiếu mới vào giường, đêm ấy cậu quay con quay trên đó. Con quay không trôi. Cậu mới đi.
Con Mơ hồng lại sau năm đêm. Sáng nào nó cũng chạy ra giếng gốc khế khoe với Cốc là đêm qua nó nằm mơ thấy giàn bầu, rồi đòi hái khế, rồi bị Bổng dọa khế ấy chua tới mức rụng răng. Thằng Cún thôi đái dầm. Con Nhót không ngất nữa, nhưng vẫn bé như đứa lên bảy. Cái đó thì chiếu không chữa được.
Mồng ba tháng Sáu bắt đầu cấy vụ mùa, từ tầng một lên. Ngoại môn được cử chở mạ. Cốc đẩy xe cút kít chở khay mạ từ Hang Mạ ra, theo con đường hầm đất đêm Hạ chí cậu đã đi trong bóng tối. Ban ngày hang khác hẳn. Cửa lớn phía dốc mở toang, ánh sáng tràn vào, người ra vào tấp nập. Những đường khắc trên nền hang bị phủ một lớp rơm rải lối đi, chỉ lộ ra những khúc ngắn sáng mờ, chẳng ai cúi xuống nhìn.
Ông Bá Hiền đứng giữa hang chỉ khay nào đi tầng nào. Thấy Cốc, ông cười, vẫy lại.
– Khay này cháu đẩy ra khúc bờ phía đông nhé. – Ông chỉ vào một chồng khay mạ cao hơn hẳn mạ chung quanh, xanh đậm, lá vươn thẳng. – Mạ chỗ cháu ngồi đêm ấy đấy. Lên tốt nhất hang. Bác để riêng, cấy dưới chân dãy Tư.
Cốc đẩy xe ra. Cậu không dám nhìn lại.
Ngày mười chín tháng Sáu, vào mười tám ngày Thổ cuối hạ.
Khí đỏ trong ngực cậu, cái khí mà cả tháng Năm cậu đã ép cho tới chảy máu cam, giờ lui dần, chậm, như nước rút khỏi ruộng sau một trận mưa to. Cốc cởi dép, ngồi xuống bờ đất ở ruộng tầng một, chỗ chân bờ phía tây, hai bàn tay úp xuống. Thổ dâng lên. Nặng, ấm, đục, mùi đất cày. Nó gặp cái khí đỏ đang lui và lần này không có gì chao đảo cả. Hỏa sinh Thổ. Lửa lui vào thì thành tro, tro thì thành đất. Cái khí đỏ đã nén quá tay hồi tháng Năm, đã cháy đáy nồi, giờ chảy vào lớp đất ấy như than rơi vào bếp tro, không còn nóng rát nữa.
Cậu nhớ câu bà Yên nói hồi tháng Ba: mười tám ngày Thổ không cho mày lên, nhưng cái gì mày có, nó giữ cho mày.
Lần này nó không chỉ giữ.
Trưa hai mươi tư tháng Sáu, ngồi trên bờ đất ăn cơm nắm, Cốc thấy cái bờ trong người mình nứt ra rồi đắp lại, êm, như người ta khơi rộng thêm một cái mương. Tầng sáu.
Chiều hôm ấy cậu cuộn cái chiếu thứ mười hai lên vai, leo chín trăm bậc. Bà Yên đã ngồi sẵn bên thùng đất. Trước khi chấm tay vào đất, bà đặt lên lòng bàn tay cậu một chiếc lá chè khô.
Cậu dẫn khí. Chiếc lá bốc lên, cao quá đầu cậu, xoay, rồi lơ lửng ở đó lâu tới mức một con ong bay qua đâm vào nó.
– Tầng sáu. – Bà Yên nói. Rồi bà cúi xuống vẽ. – Giữa Thổ mà lên được. Cái lửa mày đốt hồi tháng Năm không mất, nó thành tro, tro thành đất. Mày gặp may đấy.
Đó là câu dài nhất bà nói với cậu kể từ buổi sáng hai mươi mốt tháng Năm.
– Dạ.
Bà vẽ xong. Cốc cuộn chiếu lại. Cậu đứng đó một lúc, cái chiếu trên vai. Bà Yên không đứng dậy. Bà ngồi xổm bên thùng đất, hai tay buông trên đầu gối, nhìn ra phía đông.
– Cái này cho ai? – Bà hỏi. Lần đầu tiên bà hỏi.
– Cho Mận.
Bà gật đầu, như đã biết.
Tối hai mươi lăm, Cốc mang cái chiếu sang đầu bên kia tấm phên dãy Hai. Mận đang ngồi tết tóc cho con Riềng. Cậu đặt cái chiếu xuống cạnh nó.
Mận nhìn cái chiếu. Tay nó dừng lại giữa bím tóc.
– Cái thứ mấy?
– Mười hai.
– Cậu không hỏi tớ cái chiếu trước đâu à? – Mận nói, giọng thấp. – Cậu không hỏi tớ nó rách thật hay không à?
– Không.
Mận ngồi im. Con Riềng ngoái lại nhìn chị, rồi nhìn Cốc, rồi đưa tay lên giữ bím tóc dở.
– Tớ trải dưới giường tớ. – Mận nói cuối cùng. – Đêm nay.
– Ừ.
Cậu đi về phía cửa. Bổng đang ngồi ở bậc cửa dãy Hai, hai tay cầm cái bánh đa nướng mà không ăn, đợi cậu.
– Chiều nay tao xuống Hang Mạ lấy mạ thừa về cho lợn. – Bổng nói, giọng nhỏ. – Hang vắng. Tao thấy bác Hiền đứng một mình giữa hang.
Cốc ngồi xuống cạnh nó.
– Bác đi dọc mấy cái giàn mạ thừa chưa cấy. Bác sờ từng khay. Sờ lá mạ, sờ đất, như sờ trán đứa ốm. Rồi bác đếm. – Bổng bẻ cái bánh đa làm đôi, mà không đưa cho ai. – Bác đếm to. Một. Hai. Ba. Tao núp sau chồng nong không dám thở.
– Bác đếm tới bao nhiêu?
– Chín. – Bổng nói. – Bác đếm tới chín thì dừng. Bác đứng im lâu lắm. Rồi bác cười, bác bảo "chín đứa", rồi bác xách đèn đi ra.
Cốc bấm đốt ngón tay. Cái chiếu dưới lưng Bổng. Tám cái từ con Mơ tới con Nhót. Cái thứ mười hai vẫn còn đang cuộn trên vai cậu lúc chiều.
Chín.
— Hết chương 21 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe