Chương 26: Ấn của chưởng môn
Trưởng lão Mông lên tới Quan Tinh Đài trước khi gà gáy, và ông không thở dốc.
Cốc đang gánh đôi thùng nước đầu tiên từ khe lên thì thấy ông đứng ở mép đài, hai tay chắp sau lưng, áo đen của Chấp Pháp đường bạc trắng sương ở vai. Ông đứng nhìn cây cột đồng. Ông không nhìn cái thước đá, không nhìn cây chè cổ. Ông nhìn cái dấu nhỏ ở chân đế cột, chỗ Cốc đã chà sạch rỉ từ tháng Giêng.
Cửa nhà gỗ mở. Bà Yên đứng ở bậc cửa, chống gậy.
Hai người nhìn nhau qua mặt đài. Từ hôm mười một tháng Bảy, họ chưa nói với nhau câu nào.
– Chưởng môn cho gọi thằng này. – Trưởng lão Mông nói. – Không gọi sư cô.
– Nó gọi nó thì nó đi. – Bà Yên nói. Rồi bà quay sang Cốc. – Đặt thùng xuống. Hôm nay Thu phân. Ngày dài bằng đêm. Về trước khi tối.
Cốc đặt đôi thùng xuống cạnh chum.
Hậu điện nằm sau lưng Đại điện, khoét sâu vào vách núi. Cốc chưa từng tới đó. Không ai tới đó. Muốn vào phải đi qua một hành lang đá dài, tối, có những ngọn đèn dầu nhỏ đặt trong hốc tường, cứ mười bước một ngọn. Lão Sấm, người hầu lưng gù, đi trước cầm đèn. Lão đi rất chậm, chân lết trên đá, thỉnh thoảng lại dừng, quay lại nhìn xem hai người có còn theo sau không.
– Chưởng môn mệt. – Lão nói, giọng khào khào. – Nói ngắn thôi. Ông ấy nói mà ngủ đi thì đừng gọi.
Cuối hành lang là một cánh cửa đá. Lão Sấm đặt tay lên, nói khẽ một câu. Cửa lùi vào vách, trượt sang bên.
Cốc rùng mình. Cũng cánh cửa như thế. Cũng câu nói khẽ như thế. Như đêm Hạ chí ở Hang Mạ.
Bên trong là một gian đá vuông, không có cửa sổ. Ở giữa có một cái bồ đoàn cói đã mục mép. Trên bồ đoàn, một ông già ngồi xếp bằng.
Ông ta già hơn bất cứ ai Cốc từng thấy. Già hơn chú Ba Trấu, già hơn ông già bán hạt ở chợ Gò Mạ. Người ông ta khô như một khúc củi để trên gác bếp mấy mùa, da bám sát xương, màu nâu sẫm. Tóc không còn, chỉ có mấy sợi trắng lơ thơ sau gáy. Hai tay đặt trên đầu gối, ngón tay dài và co quắp như rễ cây khô. Quanh người ông ta có một thứ ánh sáng rất mờ, màu vàng đục, như ánh của một ngọn đèn sắp hết dầu nhìn qua một tờ giấy dó.
Đó là chưởng môn Vân Lũng Tông, Thạch Uyên. Sáu trăm mười tuổi.
Ông mở mắt. Mắt ông đục, nhưng nó nhìn thẳng vào Cốc.
– Thằng con quay. – Ông nói. Giọng ông khô như hai tờ giấy cọ vào nhau. – Lão Sấm kể. Lão kể ngươi đứng xoay giữa đài như con quay, tới giờ Ngọ thì đẩy thằng kia xuống ruộng.
– Dạ.
– Ngồi xuống.
Cốc quỳ xuống trước bồ đoàn. Trưởng lão Mông đứng sau lưng cậu.
– Thiết Lâm. – Chưởng môn nói. – Ngươi cũng ngồi đi.
– Đệ tử đứng.
Chưởng môn không ép. Ông nhắm mắt lại một lúc, như để lấy hơi. Cốc nhìn lồng ngực ông. Nó gần như không động.
– Ngươi là đệ tử bà ấy. – Ông nói, mắt vẫn nhắm. – Bà ấy kể cho ngươi chuyện năm ba trăm năm mươi mốt rồi chứ?
– Dạ.
– Bà ấy kể ta quỳ ở trên đài chưa?
– Dạ, có.
– Ta quỳ thật. – Ông nói. – Năm ấy ta mới lên ghế, năm trăm năm mươi tuổi, Nguyên Anh, mà ta quỳ trước một đứa Kết Đan mới thành, vì cả núi chỉ có nó vẽ được. Ta hứa với nó ba năm. Ta nói thật lúc ấy. Ta muốn ba năm thật.
Ông mở mắt.
– Năm ba trăm năm mươi tư, thằng Phí Đại Thông bê lên đây một chồng sổ kho. Năm ấy được mùa, nhờ trời mưa, nhờ cả cái trận. Nó tính cho ta: tắt trận thì năm sau hụt bao nhiêu, năm sau nữa hụt bao nhiêu, Thiên Hành Cung đòi bao nhiêu. Nó tính đúng. Nó tính giỏi lắm. – Ông im một lúc. – Nó tính xong, ta chọn. Không ai bắt ta chọn. Đêm ấy bà ấy tới gõ cửa, bảo sẽ nói cho cả núi. Ta đóng ấn.
– Ấn ấy là gì ạ? – Cốc hỏi.
– Một cái ấn bằng Nguyên Anh. – Chưởng môn nói. – Ta lấy một mẩu Nguyên Anh của ta, đè lên cái nút giữa trận, cái nút có dấu của bà ấy. Từ đấy không thần thức nào thấy trận nữa. Mà không ai tháo được trận nữa. Kể cả người vẽ. Còn ấn là còn khóa.
– Thế thì trưởng lão Chấp Pháp...
– Ba mươi năm đi tìm, không thấy. – Chưởng môn nói. – Ta biết. Ta biết Thiết Lâm tìm. Ta biết em gái nó. Ta ngồi đây, ta biết hết. Lão Sấm kể cho ta mọi thứ. Đứa nào ngất ở lễ cấy, đứa nào xuống núi, đứa nào chôn ở sườn bắc. Ta biết hết.
Sau lưng Cốc, trưởng lão Mông không động đậy. Cốc không quay lại nhìn ông.
– Năm ba trăm năm mươi bảy, thằng Phí trình ta một tờ lệnh. – Chưởng môn nói tiếp, chậm hơn. – Điểm danh cuối năm ở dãy nhà Lúa, đêm Đông chí. Ta ký. Ta không đọc kỹ. Ta không nghĩ tới đêm ấy là đêm gì. Sang xuân thì người ta bảo có đứa tạp dịch đi ra Vực Sương. Đứa ấy của bà ấy.
Ông nhắm mắt lại. Lần này lâu.
Lão Sấm đứng ở góc gian đá, cầm đèn, nhìn chưởng môn, rồi nhìn hai người, rồi lắc đầu rất khẽ.
Cốc tưởng ông đã ngủ. Cậu nghe tiếng đèn dầu xèo một cái. Cậu nghe tiếng thở của trưởng lão Mông sau lưng mình, chậm và nặng.
– Ta còn chừng bốn tháng. – Chưởng môn nói, mắt vẫn nhắm. – Thầy thuốc bảo thế. Ta tự biết. Tới tháng Chạp.
– Bạch chưởng môn...
– Ta gọi ngươi tới để nói một chuyện. – Ông mở mắt. – Cái ấn ấy buộc vào Nguyên Anh của ta. Ta còn thì ấn còn. Ta chết thì ấn tan. Lúc ấy trận lộ ra cho mọi thần thức trên núi này thấy. Cho cả người ngoài núi thấy. Lúc ấy tháo hay giữ là việc của các ngươi.
Ông nhìn Cốc.
– Ta xin một việc. – Ông nói. – Đừng tháo trước khi trả cống. Để ta chết với một cái tông môn còn nguyên. Ta đã đổi mấy trăm đứa tạp dịch lấy cái tông môn này. Ta muốn biết ít ra ta đã đổi được.
Cốc nhìn ông già khô như khúc củi ấy. Cậu nghĩ tới chú Ba Trấu nằm nghiêng trên cái giường cuối dãy Hai, đắp tấm chăn bông của Ông Bá Hiền tới tận cằm. Chú bảo chú chẳng tiếc gì. Có cơm ăn. Có chỗ ngủ. Mẹ chú chết không phải đói.
– Con không hứa được ạ. – Cậu nói. – Con không phải người tháo.
Chưởng môn nhìn cậu rất lâu. Rồi khóe miệng khô của ông nhếch lên một chút. Cốc không biết đó là cười hay là đau.
– Ừ. – Ông nói. – Thì ngươi bảo bà ấy.
Ông đưa tay ra hiệu cho lão Sấm. Lão Sấm đặt đèn xuống, đi tới cái hốc đá trên vách, lấy ra một phong thư, đưa cho chưởng môn. Chưởng môn không cầm. Ông bảo lão Sấm đưa cho Cốc.
– Đọc đi.
Cốc mở ra. Giấy dó trắng, dày, loại giấy tốt mà ở Vân Lũng Tông chỉ Đại điện mới dùng. Nét chữ đẹp, mảnh, nghiêng về bên phải, đuôi mỗi chữ cong lên như cái mầm cây vừa nhú.
"Kính gửi chưởng môn Vân Lũng Tông. Năm nay tôi được cử thay người thu cống của mười hai tông. Lập Đông tôi tới. Nghe nói chưởng môn bế quan đã lâu, thọ nguyên đã cạn tới mùa đông. Kính mong chưởng môn giữ gìn, để tôi còn được gặp mặt một lần. Mấy chuyện cũ, tôi muốn nói với người trên núi. Vô Niên kính bút."
Cốc đọc tới chữ cuối, rồi đọc lại.
– Thọ nguyên đã cạn tới mùa đông. – Chưởng môn nói. – Thầy thuốc của ta biết điều ấy từ tháng Sáu. Ông ta không nói với ai ngoài ta và lão Sấm. Thư này tới tháng Bảy.
– Ông ta biết trước cả thầy thuốc? – Trưởng lão Mông hỏi, lần đầu tiên lên tiếng.
– Ông ta biết. – Chưởng môn nói. – Ta không biết ông ta là ai. Ta không biết ông ta muốn nói chuyện cũ nào với người trên núi. – Ông nhắm mắt lại. – Ta sợ là ta biết.
Lần này ông nhắm mắt thật. Hơi thở ông thưa dần, dài dần. Lão Sấm đi tới, đắp lên vai ông một tấm chăn dạ cũ, rồi quay lại, đưa tay chỉ ra cửa.
Hai người đi ra hành lang đá. Cánh cửa trượt lại sau lưng họ, không một tiếng động.
Trong hành lang tối, trưởng lão Mông đi chậm lại cho ngang hàng với cậu.
– Ông ấy bảo sợ là ông ấy biết. – Ông nói khẽ. – Ngươi có nghĩ ra ai không?
Cốc lắc đầu. Cậu nghĩ tới nét chữ nghiêng, đuôi chữ cong như mầm cây. Cậu chưa từng thấy nét chữ ấy. Nhưng không hiểu sao, cậu lại nghĩ tới một cái chiếu cói sờn dưới gốc cây gạo thứ hai ở chợ Gò Mạ, và một cái bóng dài đổ về phía tây giữa trưa, chỉ trong một cái chớp mắt. Cậu không nói ra. Cái ấy thì có liên quan gì.
Lúc trở ra tới sân Đại điện thì đã quá giờ Ngọ. Nắng Thu phân dịu, xiên, không gắt như mùa hạ. Bảy tầng ruộng vụ mùa trải xuống dưới chân núi, lúa đang ngậm sữa, xanh pha vàng.
Trưởng lão Mông không về Chấp Pháp đường. Ông đi xuống, xuống tới dãy nhà Lúa, dừng lại ở hiên dãy Ba.
Ban trưa, dãy Ba vắng. Cửa mở. Qua khung cửa, Cốc thấy hai hàng giường gỗ, cây cột cái giữa nhà, và một vệt nắng nằm dài trên sàn ván lim.
Trưởng lão Mông đứng ở bậc cửa. Ông không bước vào.
– Ba mươi năm ta đứng ở chỗ này. – Ông nói. – Không phải chỉ đêm ấy. Năm nào về núi ta cũng tới đứng một lần. Ta không vào. Ta nghĩ vào thì phải thấy cái giường.
Cốc đứng sau lưng ông, im lặng.
– Bốn tháng. – Ông nói. Ông đưa tay vào ngực áo, chạm vào một cái gì đó bên trong, rồi rút tay ra. – Bốn tháng nữa thì ấn tan.
Ông quay đi, đi về phía Chấp Pháp đường, hai tay chắp sau lưng như mọi khi.
Cốc đứng lại ở hiên dãy Ba. Cậu thò tay vào túi áo trái, lấy con quay ra, quấn dây, cúi xuống, giật. Con quay rơi xuống bậc cửa, chạy vo vo, rồi đi. Nó trượt qua ngưỡng cửa, vào trong dãy nhà, chậm và đều, về phía cây cột cái.
Cậu đứng nhìn nó đi, cho tới khi nó đổ. Rồi cậu vào nhặt nó lên, và đi về Đỉnh Gió, về cho kịp trước khi tối.
— Hết chương 26 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe