Chương 36: Sợi cước mới
– Mẹ ơi, sao nhà bà ấy lại ở trên cột?
Gạo đứng ở chân cầu thang nhà bà Pòm, ngửa cổ nhìn lên, cái ba lô hình khủng long còn trên lưng. Thằng bé chưa thấy nhà sàn bao giờ. Nó nhìn những cái cột gỗ đen bóng, nhìn gầm sàn có khung cửi và mấy con gà mái đang bới đất, nhìn cái cầu thang gỗ chín bậc, mỗi bậc mòn lõm ở giữa như cái thìa.
– Để mùa mưa nước không vào nhà, – Lam nói. – Để ban đêm con thú không vào. Để ở trên thì mát.
– Thế con trèo lên được không?
– Con chào bà đã.
Bà Pòm đứng ở đầu cầu thang. Bà nhìn thằng bé rất lâu, đôi mắt nhỏ, sâu, như mắt người đang đếm. Rồi bà nói một câu tiếng Thái, ngắn, cười, cái cười làm cả khuôn mặt nhăn nheo của bà xếp lại như tấm vải chàm vừa gấp.
– Bà bảo, – chị Ính dịch từ phía sau, – thằng cu giống mẹ ở cái trán.
Chiều thứ Bảy, hai mươi bảy tháng Sáu. Huổi Pha mùa mưa khác hẳn Huổi Pha tháng Ba. Suối đục ngầu, nước dâng lên ngập mấy hòn đá to như lưng trâu, chảy ào ào. Trên các sườn đồi, lúa nương đã lên xanh mướt, từng vạt từng vạt như ai trải chiếu. Cây nhãn đầu sân đã đậu quả, những chùm nhãn non xanh bằng hạt ngô. Mưa vừa tạnh, trên mái nhà còn rỏ nước tí tách, mùi đất ẩm, mùi khói bếp, mùi rơm mục.
Hai mẹ con lên bằng chuyến xe khách sáng của tuyến Tân Lương – Nậm Ca. Lam không đi xe máy. Không phải vì sợ. Cô muốn thằng bé ngồi cạnh mình, nhìn qua cửa kính những con đèo cô đã đi suốt ba tháng nay. Qua cua Tay Áo, nó hỏi sao cái rãnh bên đường có vệt sơn màu đỏ. Cô bảo có lần mẹ ngã ở đấy. Nó hỏi mẹ có đau không. Cô bảo có, nhưng khỏi rồi. Nó nhìn theo cái rãnh cho đến khi xe qua hẳn khúc cua, rồi quay lại, nắm lấy cổ tay phải của mẹ, xoa xoa, giống hệt bà Pòm hôm khám bệnh ở sân trạm.
Bữa cơm tối có cá suối nướng, măng đắng luộc, gà nấu lá chanh, xôi nếp nương. Gạo ăn hết hai nắm xôi, chấm chẳm chéo cay đến chảy nước mắt mà vẫn chấm tiếp. Hai đứa con của Pắn, đứa lớn bốn tuổi, ngồi sát bên nó, nhìn cái đồng hồ màu cam trên cổ tay nó như nhìn một món đồ chơi từ trên trời rơi xuống. Gạo cho đứa lớn bấm thử cái nút. Đồng hồ kêu tít một tiếng. Hai đứa cười rũ.
Pắn về muộn, sau chuyến xe chiều. Anh mặc áo sơ mi của nhà xe mới, màu trắng, cổ áo đã ố mồ hôi. Anh ngồi xuống mâm, gắp một miếng cá, nhìn thằng Gạo một lúc.
– Con chị à?
– Con em.
– Giống chị. – Anh nói, rồi gắp cho thằng bé miếng cá to nhất.
Đêm ấy hai mẹ con ngủ trên nhà sàn, trên tấm đệm bông chị Ính trải sẵn ở gian ngoài, màn tuyn trắng. Thằng Gạo nằm nghe tiếng suối, tiếng ếch nhái, tiếng mưa lại rơi lộp độp trên mái, hỏi mẹ ba lần đấy là tiếng gì, rồi ngủ. Lam nằm thức. Cô nhìn lên gác bếp, chìm trong bóng tối, chỉ có than hồng trong bếp hắt lên một quầng đỏ mờ. Chỗ sợi cước từng buông xuống, cô không nhìn thấy gì. Cô biết mẩu cước ngắn vẫn còn đó, buộc vào giàn tre, đầu cắt sắc.
Chín giờ sáng Chủ nhật, chiếc bán tải màu xám đỗ ở gốc cây nhãn.
Tuân bước xuống, áo sơ mi kẻ ô, đi dép quai hậu, như cái hôm ngồi ở quán chè chân cầu sắt. Đi cùng anh là hai cán bộ công an xã Nậm Ca và ông trưởng bản Huổi Pha, người đã ngồi hút thuốc lào dưới gầm sàn hôm hai mươi mốt tháng Tư. Tuân ôm trước ngực một cái hộp các tông dài, dán băng niêm phong.
Gạo đứng ở đầu cầu thang, nhìn xuống.
– Mẹ ơi, chú kia là công an à?
– Ừ.
– Chú có súng không?
Tuân đã leo đến bậc thứ năm. Anh dừng lại, ngẩng lên nhìn thằng bé, nghiêm mặt.
– Chú chưa mang, – anh nói.
Thằng bé gật đầu, như thế là hợp lý.
Bà Pòm đã ngồi sẵn trên chiếu, áo cánh chàm mới, khăn piêu đội đầu, như hôm cắt sợi cước. Bếp lửa hôm nay nhóm, nhưng nhỏ, chỉ đủ một ấm nước. Tuân đặt cái hộp xuống trước mặt bà. Cán bộ công an xã đọc biên bản trả lại đồ vật, chậm, từng dòng, chị Ính dịch.
Trả lại cho bà Lò Thị Pòm một chuỗi vỉ thuốc rỗng xâu bằng sợi cước, đã thu giữ ngày hai mươi mốt tháng Tư. Số vỉ trả lại: hai mươi tám. Năm vỉ được giữ lại làm vật chứng cho vụ án, gồm ba vỉ số hai mươi ba, hai mươi tư, hai mươi lăm, và hai vỉ số hai mươi tám, ba mươi hai. Sẽ trả lại khi vụ án kết thúc. Kèm theo đây là giấy biên nhận. Một vỉ thuốc dở, thu được ngày mười bảy tháng Năm, xác định là vỉ thuốc của ông Lò Văn Tương, được giữ lại làm vật chứng, sẽ trả lại khi vụ án kết thúc. Kèm theo đây là giấy biên nhận.
Bà Pòm nghe hết. Rồi bà hỏi một câu, bằng tiếng Kinh, nhìn Tuân.
– Ông công an đếm lại cho bà xem.
– Cháu đếm, bà ạ.
Tuân mở hộp. Sợi cước nằm cuộn trên một lớp giấy trắng. Những cái vỉ đen sì khói ở trên, sáng dần xuống dưới. Vòng chỉ đỏ vẫn ở đó, thắt nút, đã sạm màu. Ngay bên dưới vòng chỉ đỏ là một khoảng sợi cước trơn, không có vỉ nào, dài chừng một gang tay, chỗ ba cái vỉ của đoàn từ thiện đã bị tháo ra. Rồi đến những cái vỉ mua ở chợ, cũng có hai chỗ trống.
Anh đếm thành tiếng. Một. Hai. Ba. Đến hai mươi hai, anh dừng ở vòng chỉ đỏ, nói: "Đây là chỗ ông buộc." Rồi anh đếm tiếp. Hai mươi ba. Hai mươi tư. Hai mươi lăm. Hai mươi sáu. Hai mươi bảy. Hai mươi tám.
Thằng Gạo ngồi bó gối cạnh mẹ, môi mấp máy, đếm theo.
Bà Pòm điểm chỉ vào biên bản, ngón tay cái ấn vào hộp mực đỏ, ấn xuống giấy. Bà cầm hai tờ giấy biên nhận, gấp làm tư, cho vào túi áo cánh, cài khuy. Rồi bà cầm lấy đầu sợi cước, đứng dậy.
Bà không buộc thẳng lên giàn tre. Bà buộc nối vào cái mẩu cước ngắn còn trên ấy, đúng chỗ bà đã cắt hai tháng trước, thắt một cái nút kép, kéo thử hai lần cho chắc. Sợi cước buông xuống. Hai mươi tám cái vỉ va vào nhau lách cách, một tiếng như tiếng mấy đồng xu cũ, rồi đứng yên, lắc lư nhè nhẹ trong luồng khói bếp mỏng.
– Bà ơi, – Gạo hỏi, nhỏ, kéo áo mẹ. – Sao bà treo vỏ thuốc lên đấy?
Lam nhìn bà Pòm. Bà Pòm nhìn thằng bé, rồi nói với Lam một câu tiếng Thái. Chị Ính không dịch. Chị nhìn Lam, đợi.
– Ông nhà bà ngày xưa uống thuốc, – Lam nói với con, chậm, như kể một câu chuyện trước khi ngủ. – Uống hết vỉ nào thì ông xâu lên đấy, để bà nhìn thấy nó dài ra là biết ông còn sống.
– Thế bây giờ ông đâu?
– Ông mất rồi.
Thằng bé nhìn lên sợi cước rất lâu. Nó không hỏi sao nữa.
Bà Pòm đi đến cái cột nhà cạnh bếp. Trên cột có treo một cái ống nứa nhỏ, nút bằng lõi ngô. Bà rút nút, dốc ra lòng bàn tay một cái đinh sắt dài chừng một đốt ngón tay, đầu đã đen vì lửa. Rồi bà đi vào buồng trong, sau tấm vải chàm ngăn. Lam nghe tiếng mở nắp hòm gỗ. Bà trở ra, tay cầm một cái hộp sắt nhỏ, loại hộp đựng bánh quy, nắp in hình hoa hồng đã tróc sơn.
Bà ngồi xuống cạnh bếp, mở hộp.
Trong hộp có bốn cái vỉ thuốc rỗng, xếp chồng lên nhau, ngay ngắn. Nhôm còn sáng loáng, chưa vương một chút khói nào.
Lam nhận ra vỉ thuốc ấy trước khi nhìn thấy chữ. Amlodipin năm miligam, Trung Hà. Thuốc thầu của tỉnh, lĩnh ở trạm, chị Mai ký nhận từng hộp. Bà Pòm bắt đầu uống từ hôm mười sáu tháng Năm, hôm bác sĩ Sáng đo huyết áp cho bà ở sân trạm. Hơn bốn mươi ngày. Bốn vỉ đã uống hết.
– Bà để dành, – chị Ính nói khẽ, bây giờ mới dịch. – Mẹ em uống hết vỉ nào thì cất vào hộp. Mẹ bảo đợi công an trả cái chuỗi của bố em đã. Treo của bố em lên trước. Rồi mới treo của mẹ.
Bà Pòm gẩy mấy hòn than hồng ra khỏi bếp, đặt cái đinh lên trên. Mọi người ngồi im. Tuân ngồi xếp bằng ở góc chiếu, chén nước chè trên tay, không uống. Ông trưởng bản ngừng hút thuốc lào. Ngoài sân, con gà mái cục tác, rồi im.
Đầu đinh đỏ dần lên.
Bà Pòm lấy một cái kẹp tre, kẹp lấy cái đinh. Tay kia bà cầm cái vỉ thứ nhất, đặt lên một miếng gỗ phẳng. Bà nhìn vỉ thuốc một lúc, như ông Lượng nhìn một cái vỉ dưới kính lúp. Rồi bà ấn đầu đinh nung vào góc vỉ.
Một tiếng xèo nhỏ. Một sợi khói trắng mảnh như sợi tóc. Mùi nhôm cháy, mùi nhựa cháy, thoang thoảng.
Một cái lỗ tròn, gọn, ở góc vỉ.
Bà làm tiếp với cái vỉ thứ hai, thứ ba, thứ tư. Mỗi lần lại đặt cái đinh lên than cho nó đỏ lại. Thằng Gạo bò lại gần, quỳ bên cạnh bà, nín thở nhìn. Bà không đuổi nó. Đến cái vỉ thứ tư, bà đưa cho nó cầm cái miếng gỗ phẳng, ra hiệu bằng tay: giữ chặt. Thằng bé giữ chặt bằng cả hai tay, mặt nghiêm như khi đọc bài trước lớp.
Rồi bà rút trong túi áo ra một cuộn cước câu cá còn mới, trong suốt, cắt một đoạn dài bằng sải tay. Bà xâu bốn cái vỉ vào, theo thứ tự, cái nào uống trước xâu trước. Bà đứng dậy, với tay lên gác bếp, buộc sợi cước mới vào giàn tre, ngay cạnh sợi cước cũ, cách một gang tay.
Hai sợi cước buông xuống cạnh nhau. Một sợi dài, những cái vỉ đen sì ở trên, sáng dần xuống dưới, có những khoảng trống. Một sợi ngắn, bốn cái vỉ sáng loáng, chưa có khói nào bám vào.
Thằng Gạo đứng dậy, ngửa cổ nhìn. Nó đếm, môi mấp máy. Rồi nó quay sang bà Pòm.
– Bà ơi, bà có bốn cái.
Bà Pòm cúi xuống nhìn thằng bé. Bà đặt bàn tay khô như rễ cây lên đầu nó, xoa một cái. Rồi bà nói, bằng tiếng Kinh, chậm, từng chữ như bước qua suối, mỗi bước một hòn đá.
– Lần sau cháu lên, cháu đếm.
— Hết —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe