AI Truyện

🔍 Trinh thám

Ba mươi ba cái vỉ rỗng

Chuỗi vỉ thuốc trên gác bếp · Chương 1/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc🎧 9 phút · giọng Bảo Đức

Đọc

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Ông nhà bà uống đủ. Không sót buổi nào,…
  2. 1:36Cô đứng lên, nhón chân, đếm bằng mắt. Ba…
  3. 2:57Em là Lam, phóng viên báo Sơn Lương, –…
  4. 4:13Ba vỉ này ạ? – Lam chỉ.
  5. 5:00Chín vỉ. Trừ cái ông đang uống dở hôm…
  6. 5:52Cháu mang đi. – Bà nói. – Cái treo…
  7. 6:50Chị có biết vì sao tôi mua cho bố…
  8. 8:09Những vỉ trên cùng đen quá, chẳng đọc được…

Chương 1: Ba mươi ba cái vỉ rỗng

– Ông nhà bà uống đủ. Không sót buổi nào, – bà Pòm nói, rồi chỉ tay lên gác bếp. – Cháu nhìn đấy mà đếm.

Lam ngửa cổ. Trên giàn tre đen bóng khói, giữa mấy xâu ngô giống và một tảng thịt trâu gác bếp, có một sợi cước buông thõng xuống, dài gần bằng sải tay. Xâu trên sợi cước là những cái vỉ thuốc rỗng, cái nọ chồng lên cái kia như vảy cá. Mấy cái trên cùng đã đen sì, nhôm bị khói ăn thành màu chì. Càng xuống dưới càng sáng. Mấy cái cuối cùng còn loáng lên khi ngọn lửa trong bếp liếm qua.

Ngoài sân, con gà mái cục tác vì ai đó vừa lùa nó khỏi ổ. Nắng tháng Ba lọt qua vách nứa, kẻ từng vạch mỏng trên sàn. Lam ngồi bệt xuống tấm chiếu mây, máy ảnh vẫn treo trên cổ, chưa dám giơ lên.

– Bà cho cháu đếm thật ạ?

– Đếm đi. Ông treo cho bà đếm đấy.

Bà Pòm kể, giọng Kinh lơ lớ, câu nào cũng ngắn như người bước qua suối, mỗi bước một hòn đá. Đầu năm ngoái ông Tương hay chóng mặt, có hôm đang bổ củi thì ngồi phịch xuống, mặt đỏ gay. Chị trạm trưởng trạm y tế xã đo huyết áp, bảo cao, phải uống thuốc mỗi sáng, uống cả đời, không được bỏ. Ông Tương nghe thế thì lo. Ông biết chữ, nhưng biết ít, đọc tờ giấy hướng dẫn thì như đọc lá cây. Ông sợ quên. Thế là ông nghĩ ra cách: uống hết vỉ nào thì nung cái đinh trên than, dùi một lỗ ở góc vỉ, xâu vào sợi cước câu cá, treo lên gác bếp. Mỗi tối bà ngồi dệt vải cạnh bếp, ngẩng lên là thấy.

– Ông bảo, bà nhìn thấy nó dài ra là biết ông còn sống.

Bà nói câu ấy không buồn không vui, như nói chuyện hôm nay ngô đã nhú mầm. Lam cúi xuống sổ, rồi nhớ mình đã hứa với bản thân là chuyến này không cầm bút trước mặt người ta, cô gập sổ lại.

Cô đứng lên, nhón chân, đếm bằng mắt. Ba mươi ba cái. Cô đếm lại lần nữa, lần này đưa ngón tay chạm nhẹ vào từng cái, nhôm lạnh, khói bám dính vào đầu ngón. Ba mươi ba.

Mỗi vỉ mười viên. Ba trăm ba mươi buổi sáng.

– Ông mất hôm nào hả bà?

– Hai mươi bảy Tết. Đang đi lấy lá dong gói bánh. Ngã ở bờ ruộng. Thằng Pắn cõng về, gọi xe xuống xã, xuống Mường Then. Đến nơi thì đi rồi.

Hai mươi bảy tháng Chạp. Lam tính nhẩm, là ngày mười bốn tháng Hai. Lá thư bạn đọc gửi về tòa soạn cuối tháng Hai, chữ viết nghiêng của một thầy giáo tiểu học. Thư kể trong xã Nậm Ca từ trước Tết đến giờ có ba người đàn ông chưa đến bảy mươi bị tai biến, một người mất, hai người nằm một chỗ. Thầy giáo không nghi ai, không tố ai. Thầy chỉ hỏi: ở vùng cao người ta uống rượu, ăn mặn thì đã đành, nhưng sao lại dồn vào mấy tháng nay, và có cách nào để bà con biết mà phòng. Anh Thục, phó tổng biên tập, đẩy lá thư sang bàn Lam với một câu: "Lên đó viết một bài sức khỏe cộng đồng cho tử tế. Đừng làm thành chuyện ma." Cô đã định đi ba ngày, viết một bài về muối, về rượu ngô, về chuyện đo huyết áp. Cô đã định thế cho tới lúc nhìn thấy sợi cước.

Ngoài cầu thang có tiếng chân. Sàn nhà rung lên.

– Mẹ lại cho người ta vào nhà à?

Người đàn ông bước vào chừng ngoài ba mươi, áo phông bạc màu, quần bò xắn ống, trên vai còn vắt cái mũ bảo hiểm. Mặt anh vuông, gò má cao, giống bà Pòm ở đôi mắt. Anh nhìn cái máy ảnh trên cổ Lam trước khi nhìn mặt cô.

– Em là Lam, phóng viên báo Sơn Lương, – cô đứng dậy. – Anh là anh Pắn ạ?

– Nhà báo. – Pắn không trả lời câu hỏi. Anh quăng mũ bảo hiểm xuống góc sàn. – Năm ngoái cũng có nhà báo lên. Chụp cái cầu treo sắp sập, chụp lũ trẻ đi học lội suối. Chụp xong về. Cầu vẫn thế. Bố tôi chết rồi, chị chụp bố tôi chắc bố tôi sống lại?

– Pắn. – Bà Pòm nói một câu tiếng Thái, ngắn, giọng không to.

Pắn im, nhưng không ngồi. Anh đứng tựa vào cột nhà, khoanh tay. Lam hiểu mình đang ở đâu: trong nhà một người vừa mất bố chưa đầy một tháng, trước mặt một người không có lý do gì để tin cô.

– Anh nói đúng, – cô nói. – Em không làm bố anh sống lại được. Em lên vì thầy Chính ở trường tiểu học viết thư cho báo. Thầy hỏi sao mấy tháng nay trong xã nhiều người bị tai biến thế. Em cũng chưa biết. Em hỏi bà, hỏi anh, được thì em viết. Không được thì em về.

Pắn nhếch mép, nhưng không đuổi.

Bà Pòm rót nước chè từ cái ấm nhôm méo, chè xanh nấu đặc, đắng chát. Lam uống một ngụm, chát đến tê lưỡi, uống thêm ngụm nữa cho phải phép. Bà kể tiếp. Mấy vỉ đầu, cả nửa sợi cước trên, là thuốc trạm y tế cấp, ông có thẻ bảo hiểm, tháng nào cũng xuống trạm lĩnh. Rồi sau mùa gặt lúa nương, giữa tháng Mười, có đoàn từ thiện lên khám bệnh ở sân trạm.

– Xe to lắm. Có bác sĩ, có người phát gạo, phát mì tôm. Đo huyết áp cho ông, cho ông ba vỉ thuốc. Ông mừng, bảo đỡ phải xuống trạm.

– Ba vỉ này ạ? – Lam chỉ.

Bà Pòm nhổm dậy, đưa ngón tay khô như rễ cây lần trên sợi cước, dừng ở khoảng hai phần ba từ trên xuống.

– Ba cái này. Ông bảo của đoàn, để riêng ra cho nhớ, ông buộc một vòng chỉ đỏ.

Đúng thế, giữa ba cái vỉ ấy và những cái bên trên có một vòng chỉ đỏ thắt nút, đã sạm màu. Lam nhìn kỹ hơn. Ba cái vỉ này hơi khác, cô không nói được khác ở đâu, có lẽ chỉ là nắng chiếu nghiêng.

– Còn mấy cái dưới cùng?

– Trạm hết thuốc, – Pắn nói từ chỗ cột nhà. Giọng anh vẫn cộc, nhưng đã chịu nói. – Hết từ khoảng tháng Mười một. Chị trạm trưởng bảo thuốc thầu chưa về, ai cần thì mua ngoài trước, có thuốc thì trạm báo. Tôi mua cho bố ở chợ phiên, sạp chị Xiêm. Rẻ hơn dưới Mường Then. Tám nghìn một vỉ.

– Anh nhớ mua mấy lần không?

– Bốn lần. Ba lần đầu hai vỉ, lần cuối ba vỉ.

Chín vỉ. Trừ cái ông đang uống dở hôm ngã, còn tám. Cộng ba vỉ của đoàn. Mười một cái vỉ dưới cùng. Lam đếm lại trên sợi cước: từ vòng chỉ đỏ trở xuống, đúng mười một cái.

– Thế còn vỉ ông đang uống dở hôm ông ngã?

Bà Pòm nhìn cô lâu. Rồi bà đứng dậy, đi vào buồng trong, sau tấm vải chàm ngăn. Lam nghe tiếng mở nắp hòm gỗ. Bà trở ra, tay cầm cái áo cánh màu chàm đã giặt sạch, gấp vuông. Bà mở túi áo, lấy ra một cái vỉ, đặt vào lòng bàn tay Lam.

Vỉ dở. Sáu ô đã bóc, bốn viên còn nằm trong bọc nhựa, trắng, tròn.

– Hôm ấy ông để trong túi áo. Ông uống buổi sáng rồi mới đi. – Bà ngồi xuống, hai tay đặt lên đầu gối. – Bà giữ lại. Bà chưa xâu. Bà không biết xâu thì có được không.

Lam nắm cái vỉ trong tay, nhẹ tênh, nhẹ đến mức thấy có lỗi.

– Bà cho cháu mượn được không ạ? Cháu muốn mang xuống hỏi người biết về thuốc. Cháu hứa trả.

Pắn nhích người khỏi cột. Bà Pòm giơ tay, không nhìn con, Pắn đứng lại.

– Cháu mang đi. – Bà nói. – Cái treo trên kia thì không. Ông treo cho bà, bà để đấy. Cái này cháu mang đi. Cháu viết cho đúng.

– Dạ. Cháu viết cho đúng.

– Không đúng thì đừng viết.

Lam gật đầu. Cô lấy trong ba lô ra một cái túi ni lông có khóa kéo, loại cô vẫn mang theo để đựng thẻ nhớ. Cô cho cái vỉ vào, kéo khóa, viết bằng bút bi lên mặt túi: "Ông Lò Văn Tương, bản Huổi Pha, bà Pòm cho mượn, 9/3". Bà Pòm nhìn theo từng chữ cô viết, như thể đọc được.

Rồi Lam xin phép chụp sợi cước. Bà gật. Cô kê ghế đẩu đứng lên, chụp từ dưới lên, chụp ngang, chụp gần từng vỉ. Khói bếp làm mờ ống kính, cô lau bằng vạt áo, chụp lại. Ánh sáng không đủ, cô mở đèn pin điện thoại soi vào. Nhôm loá lên. Cô chụp đến bốn chục tấm, cho tới khi Pắn nói một câu tiếng Thái với mẹ, rồi quay sang cô:

– Đủ chưa?

– Đủ rồi ạ. Cảm ơn anh.

Lúc Lam xuống cầu thang, Pắn đi theo xuống tận gốc cây nhãn ở đầu sân, chỗ cô dựng chiếc xe số màu đỏ đô đã tróc sơn. Anh đứng nhìn cô đội mũ bảo hiểm.

– Chị có biết vì sao tôi mua cho bố ở sạp chị Xiêm không? – anh hỏi.

– Vì trạm hết thuốc.

– Vì tôi tiếc mấy nghìn. – Anh nói, rồi quay mặt đi phía suối. – Dưới Mường Then mười lăm nghìn. Ở chợ tám nghìn. Tôi tiếc bảy nghìn.

Lam không biết nói gì. Cô vặn chìa khóa. Pắn vẫn đứng đó khi xe cô xuống con dốc đất đỏ, lốp xe nảy qua những rễ cây trồi lên mặt đường. Phía sau lưng, tiếng suối Huổi Pha chảy đều đều qua mấy hòn đá to như lưng trâu.

Buổi chiều cô ghé trạm y tế xã. Chị trạm trưởng Tòng Thị Mai đi họp dưới Mường Then, hẹn hôm khác. Cô ghé trường tiểu học, thầy Chính dạy lớp năm, đứng ngoài hành lang nói chuyện với cô qua khung cửa sổ chưa lắp kính, sau lưng ba chục đứa trẻ đang chép bài. Thầy kể thêm tên hai người kia: ông Cầm Văn Phong ở bản Nà Lạn, nằm liệt từ đầu tháng Hai, và một ông nữa ở trung tâm xã, đã được con đưa xuống xuôi chữa. Thầy không biết gì về thuốc.

– Tôi chỉ thấy lạ, – thầy nói. – Ông Tương đi đâu cũng khoe với tôi, thầy ơi tôi uống thuốc đều lắm, bác sĩ khen. Ông ấy sợ chết lắm. Người sợ chết thì uống thuốc đều.

Tối, Lam thuê phòng ở nhà nghỉ duy nhất của xã, căn nhà xây hai tầng sau dãy hàng ăn, cửa sổ nhìn ra thung lũng. Bà chủ cho cô bát canh rau cải nấu với xương, đĩa xôi nếp nương và mấy con cá suối nướng, tính bốn mươi nghìn. Cô ăn hết, rồi ôm máy tính lên giường, chép ảnh từ thẻ nhớ.

Bốn mươi hai tấm. Cô lọc ra những tấm nét nhất, phóng to từng vỉ một.

Những vỉ trên cùng đen quá, chẳng đọc được gì. Xuống giữa sợi cước, chữ bắt đầu hiện ra qua lớp khói: tên thuốc, hàm lượng, tên công ty sản xuất ở miền xuôi, số lô, hạn dùng, in ở mép vỉ. Cô không biết đọc những con số ấy để làm gì. Cô chỉ chép lại, như người ta chép lại biển số một chiếc xe đi qua, phòng khi cần.

Cô mở cái túi ni lông, lấy vỉ dở của ông Tương ra, đặt dưới bóng đèn tuýp. Mép vỉ ghi: số lô 0825A, hạn dùng 08/2027.

Cô quay lại màn hình, lướt ngược lên những tấm chụp mấy vỉ ngay sát trên vòng chỉ đỏ, những vỉ cuối cùng trạm y tế cấp hồi tháng Chín, tháng Mười. Một cái, rồi một cái nữa, khói mới ám mờ. Cô dừng lại. Phóng to thêm.

Số lô 0825A. Hạn dùng 08/2028.

Cùng một số lô. Cùng tên thuốc, cùng công ty, cùng hàm lượng. Một cái hết hạn năm 2028, một cái hết hạn năm 2027.

Ngoài cửa sổ, trên con đường đất dẫn ra đèo, một chiếc xe máy nổ máy rồi đi xa. Lam ngồi yên rất lâu, cái vỉ dở nằm trên lòng bàn tay, bốn viên thuốc trắng trong bọc nhựa, nhẹ tênh. Rồi cô mở sổ, lần này thì viết, viết to và gạch dưới hai lần một câu hỏi cô chưa biết nên đem hỏi ai.

— Hết chương 1 —

Mục lục Chuỗi vỉ thuốc trên gác bếp

  1. 1Ba mươi ba cái vỉ rỗng9 phút
  2. 2Người đeo kính lúp11 phút đọc
  3. 3Chợ phiên sáng Chủ nhật11 phút đọc
  4. 4Người đến cổng trường10 phút đọc
  5. 5Thiếu tá không uống cà phê11 phút đọc
  6. 6Áo khoác xanh lá11 phút đọc
  7. 7Mười một cái tên10 phút đọc
  8. 8Nhân chứng thứ nhất10 phút đọc
  9. 9Số lô 0825A10 phút đọc
  10. 10Hộp giữ lại11 phút đọc
  11. 11Người treo bài báo cũ11 phút đọc
  12. 12Lời khai đổi chiều10 phút đọc
  13. 13Gói bột màu cam10 phút đọc
  14. 14Chuyến xe bốn giờ chiều10 phút đọc
  15. 15Ông bố cuối tuần10 phút đọc
  16. 16Ai đứng ở cửa kho10 phút đọc
  17. 17Đèo Pha Khóm10 phút đọc
  18. 18Cái đồng hồ của thằng Gạo12 phút đọc
  19. 19Phòng số ba12 phút đọc
  20. 20Bốn mươi thùng bánh kẹo11 phút đọc
  21. 21Người không nói11 phút đọc
  22. 22Người đến xin chuỗi vỉ11 phút đọc
  23. 23Ổ cứng năm 202410 phút đọc
  24. 24Trăng rằm bên suối Huổi Pha10 phút đọc
  25. 25Nhà sàn lưng chừng núi10 phút đọc
  26. 26Huy mất tích10 phút đọc
  27. 27Ba ngày ở bản Pù Lâu Trên11 phút đọc
  28. 28Phiên đối chất10 phút đọc
  29. 29Tấm ảnh tháng Mười một năm 202410 phút đọc
  30. 30Chén trà ở tầng năm10 phút đọc
  31. 31Năm trăm nghìn10 phút đọc
  32. 32Danh sách của đoàn11 phút đọc
  33. 33Mưa trên đèo Pha Khóm10 phút đọc
  34. 34Hai mươi tám thùng10 phút đọc
  35. 35Loạt bài số một10 phút đọc
  36. 36Sợi cước mới10 phút đọc

Về truyện này

Chuỗi vỉ thuốc trên gác bếp là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →