Chương 2: Người đeo kính lúp
Đèo Pha Khóm buổi sáng ngập sương, sương dày đến mức Lam phải bật đèn pha giữa ban ngày và đi bằng tai nhiều hơn bằng mắt. Mỗi khúc cua, cô bóp còi hai tiếng, nghe tiếng còi dội vào vách đá bên phải rồi tan mất về phía vực bên trái. Bốn mươi bảy cây số. Đến chân đèo thì sương tan, nắng hanh trải xuống thung lũng Mường Then, những cây ban trắng mọc lổn nhổn trên sườn đồi như ai rắc bông.
Trung tâm Y tế khu vực Mường Then vẫn là cái viện huyện cũ, chỉ thay tấm biển trên cổng. Dân trong vùng vẫn gọi "viện huyện", xe ôm ngoài cổng vẫn rao "về viện huyện không em". Sân rộng, hai hàng sấu già, dãy nhà khám ba tầng sơn vàng, phía sau là mấy dãy nhà hai tầng của các khoa. Mười giờ sáng thứ Ba, hành lang khoa Khám bệnh đông nghẹt. Một bà cụ người Mông bế đứa cháu quấn trong cái địu thêu, mấy ông già ngồi xổm hút thuốc lào ngoài bậc, mùi cồn trộn với mùi xôi ai đó mở ra ăn sáng muộn.
Lam không có hẹn. Cô chỉ có tấm thẻ nhà báo và một cái tên thầy Chính cho: bác sĩ Vi Thị Sáng, khoa Nội, người đã khám cho ông Phong trước khi chuyển ông lên tỉnh.
Bác sĩ Sáng hóa ra là người phụ nữ ngoài bốn mươi, tóc cắt ngắn ngang gáy, áo blouse xắn tay, giọng khàn như người vừa khỏi cảm. Chị đọc thẻ của Lam, đọc kỹ, rồi trả lại.
– Em hỏi về tai biến ở Nậm Ca à? – Chị liếc đồng hồ. – Em đợi chị mười lăm phút. Chị còn một ca.
Mười lăm phút thành bốn mươi phút. Lam ngồi trên dãy ghế inox ở hành lang, nhìn người ta ra vào phòng khám, đọc lại những gì mình đã viết đêm qua. Hai con số. Một số lô. Một câu hỏi gạch dưới hai lần.
Bác sĩ Sáng trở ra, kéo Lam vào phòng trực của khoa, đóng cửa. Phòng nhỏ, một cái giường xếp, một cái bàn, một ấm điện, chồng hồ sơ bệnh án buộc dây chun.
– Chị nói trước, – chị bảo, rót cho Lam cốc nước lọc. – Chị không bình luận về bệnh nhân cụ thể. Em muốn viết về tai biến, chị nói được về tai biến. Huyết áp cao, không điều trị hay điều trị không đều, thì nguy cơ đột quỵ cao. Vùng mình ăn mặn, uống rượu, ít ai đo huyết áp thường xuyên. Đấy là chuyện ai cũng biết.
– Còn chuyện ai chưa biết?
Bác sĩ Sáng nhìn cô một lúc. Chị cầm cái cốc của mình lên, không uống, đặt xuống.
– Em biết gì rồi?
Lam không trả lời. Cô lấy điện thoại, mở tấm ảnh chụp sợi cước trên gác bếp, đưa qua bàn. Bác sĩ Sáng nhìn, lướt sang tấm sau, tấm sau nữa. Ngón tay chị dừng lại ở tấm chụp gần vỉ dở của ông Tương.
– Của ai đây?
– Của ông Lò Văn Tương, bản Huổi Pha. Ông mất hôm hai mươi bảy Tết. Ông uống thuốc huyết áp đều đặn, uống hết vỉ nào thì xâu lên đấy. Ba mươi ba vỉ.
Chị bác sĩ thở ra qua mũi, một tiếng ngắn.
– Từ đầu năm, – chị nói, chậm lại, chọn từng chữ, – chị gặp mấy bệnh nhân huyết áp mãi không xuống. Người ta khai uống thuốc đều. Mình tăng liều, đổi thuốc, dặn ăn nhạt. Có người xuống được, có người không. Bình thường thì chị nghĩ là người ta khai không thật, người già hay quên, hay ngại nhận là bỏ thuốc. Nhưng có một ông, con gái ông là y tá ở trạm xã khác, chị tin là ông uống đều. Mà vẫn không xuống.
– Chị báo ai chưa?
– Chị báo khoa Dược rồi. Từ tuần trước Tết. – Chị đẩy điện thoại trả cho Lam. – Em xuống khoa Dược gặp anh Lượng đi. Dãy nhà sau, tầng một. Anh ấy không ưa nhà báo đâu, nhưng anh ấy là người biết về thuốc nhất cái vùng này.
Khoa Dược nằm ở dãy nhà hai tầng cuối cùng, sát tường rào. Cửa kho bằng sắt, hai lớp khóa, một cái ổ khóa móc to bằng nắm tay. Bên cạnh là ô cửa phát thuốc có tấm kính trượt, người nhà bệnh nhân xếp hàng cầm đơn. Lam đi vòng sang cửa phòng làm việc, gõ.
– Vào.
Người đàn ông ngồi sau bàn chừng sáu mươi, tóc hoa râm cắt sát, gầy, áo blouse cài kín cúc đến cổ. Trên cổ ông đeo một sợi dây dù màu xanh, đầu dây là một cái kính lúp gấp bằng kim loại, loại thợ đồng hồ hay dùng. Ông đang cầm một hộp thuốc, xoay xoay dưới ánh đèn bàn, không ngẩng lên.
– Cháu là Lam, phóng viên báo Sơn Lương. Bác sĩ Sáng bảo cháu xuống gặp chú.
– Tôi không trả lời phỏng vấn. – Ông vẫn không ngẩng lên. – Có văn bản của báo gửi giám đốc trung tâm thì giám đốc phân công người trả lời.
– Cháu không phỏng vấn. Cháu nhờ chú xem giúp cháu một cái vỉ thuốc.
Lúc đó ông mới nhìn cô. Mắt ông nhỏ, sâu, mí trên chảy xệ, nhưng cái nhìn thì sắc.
– Thuốc của ai?
– Của một ông cụ đã mất.
Ông đặt hộp thuốc xuống, chỉ cái ghế đối diện. Lam ngồi. Cô lấy cái túi ni lông có khóa kéo ra, đặt lên bàn. Ông Lượng đọc dòng chữ bút bi trên mặt túi, "bà Pòm cho mượn, 9/3", rồi mới mở. Ông không chạm tay trần vào cái vỉ. Ông kéo ngăn bàn, lấy ra một đôi găng tay cao su, đeo vào, rồi mới dốc cái vỉ ra mặt bàn, lên một tờ giấy trắng.
Ông bật cái kính lúp gấp, cúi xuống.
Lam nín thở. Ngoài cửa sổ, có tiếng người nhà bệnh nhân cãi nhau về chỗ để xe.
– Cháu chụp ảnh cái này lúc nào?
– Đêm qua. Ở nhà nghỉ xã Nậm Ca.
– Cháu có chụp cả cái chuỗi trên gác bếp không?
Cô đưa điện thoại. Ông lướt qua từng tấm, chậm, ngón tay đeo găng chạm lên màn hình hơi vụng. Đến tấm có vỉ trạm y tế cấp, cái số lô 0825A hạn 08/2028, ông dừng. Ông phóng to, nhìn rất lâu. Rồi ông nhìn lại cái vỉ trên bàn.
Ông đứng dậy, đi đến cái tủ kính sau lưng, mở khóa, lấy ra một hộp thuốc. Cùng tên, cùng hàm lượng, cùng công ty. Ông bóc hộp, rút một vỉ, đặt cạnh vỉ dở của ông Tương.
– Cháu lại đây.
Lam đứng lên, cúi xuống cạnh ông.
– Đây là thuốc của khoa, thuốc trúng thầu, về theo đường chính, tôi kiểm từng lô. Đấy là của ông cụ. Cháu nhìn bằng mắt thường xem khác gì.
Lam nhìn. Hai vỉ nằm cạnh nhau trên tờ giấy trắng, cùng màu nhôm, cùng hình dáng, cùng chữ. Cô nhìn đến mỏi mắt.
– Cái của ông cụ sáng hơn một chút?
– Một chút. – Ông gật. – Cái đấy chưa nói được gì. Nhôm mỗi đợt mỗi khác. Giờ cháu sờ.
Ông đưa cho cô một chiếc găng. Lam đeo vào, vụng về. Ông chỉ vào dòng số lô ở mép vỉ thật.
– Lấy đầu ngón tay mà miết. Nhẹ thôi.
Cô miết. Dưới lớp cao su, cô cảm thấy những gờ nhỏ, như chữ nổi trên tờ tiền. Ông chỉ sang mép vỉ của ông Tương. Cô miết. Phẳng.
– Số lô với hạn dùng của nhà sản xuất này dập nổi lên nhôm, – ông nói. – Máy dập của người ta. Còn cái kia là in. In mực lên trên.
Ông kéo ngăn bàn lần nữa, lấy ra một chai cồn nhỏ và một nắm bông. Ông thấm cồn vào bông, quay sang Lam.
– Cái này là đồ người ta cho mượn. Cháu đồng ý thì tôi lau một góc nhỏ. Cháu không đồng ý thì thôi.
Lam nghĩ tới bà Pòm, tới câu "không đúng thì đừng viết".
– Chú lau một góc thôi ạ.
Ông chấm miếng bông vào một góc mép vỉ, nơi in chữ "HD". Một vệt mực xanh đen nhạt nhòa ra, dính vào bông. Chữ "H" mờ đi một nửa.
Ông lau thử lên vỉ thật của khoa. Không có gì. Chữ vẫn nằm đó, nổi lên dưới lớp nhôm.
Ông Lượng tháo kính lúp, gập lại, thả xuống ngực. Ông cởi găng, ném vào thùng rác có nắp đạp chân. Rồi ông ngồi xuống, hai tay đặt trên bàn, nhìn Lam.
– Bây giờ tôi nói cho cháu biết tôi chưa nói được gì, – ông bảo. – Cái gì chưa kiểm thì chưa nói. Cái vỉ này khác cái vỉ thật ở chỗ in, ở hạn dùng. Có thể là hàng giả. Có thể là nhà sản xuất in nhầm một đợt. Có thể là hàng nhái bao bì nhưng bên trong vẫn có thuốc. Có thể bên trong không có gì. Muốn biết thì phải kiểm nghiệm. Kiểm nghiệm thì phải có mẫu lấy đúng quy định, có biên bản, gửi trung tâm kiểm nghiệm của tỉnh. Cái vỉ cháu cầm từ nhà người ta về, dù có kiểm ra cái gì, ra tòa người ta cũng hỏi: ai cầm, cầm bao lâu, có ai tráo không.
– Thế cháu phải làm gì?
– Cháu không phải làm gì. – Ông nói thẳng. – Cháu là nhà báo. Việc của cháu là hỏi. Việc lấy mẫu là của Sở Y tế, của thanh tra, của công an. Tôi là dược sĩ, việc của tôi là thấy có dấu hiệu thì báo lên.
– Chú sẽ báo?
– Có dấu hiệu thì tôi báo. – Ông không trả lời thẳng.
Lam ngồi xuống. Cô thấy cổ họng mình khô.
– Chú ơi, ông Tương chết vì cái này à?
Ông Lượng im một lúc lâu. Ngoài kia, ô cửa phát thuốc kéo kính lạch cạch.
– Tôi không nói được, – ông bảo. – Và cháu cũng đừng viết như thế. Người cao huyết áp có uống thuốc thật, uống đều, vẫn có người đột quỵ. Thuốc làm giảm nguy cơ, không xóa được nguy cơ. Nếu viên này không có thuốc bên trong, thì ông cụ đã mất đi sự bảo vệ ấy suốt mấy tháng. Huyết áp không được kiểm soát thì nguy cơ đột quỵ tăng lên. Đấy là điều nói được. Còn ông cụ mất vì cái gì, thì không ai nói được nữa. Người ta đã chôn ông ấy rồi.
Lam gật đầu, ghi vào sổ, lần này ông không ngăn.
– Thế là đủ rồi ạ.
Cô cất sổ, chìa tay định lấy lại cái vỉ. Ông Lượng đẩy tờ giấy trắng về phía cô, cái vỉ nằm giữa. Cô nhặt lên, cho vào túi ni lông. Ông nhìn theo.
– Cháu ghi lại cho tôi số lô, – ông nói, giọng bình thường. – Để tôi ghi vào báo cáo.
Lam lật cái túi lên, đọc to:
– Số lô không tám hai lăm A. Hạn dùng tháng Tám năm hai không hai bảy.
Ông Lượng cầm bút, viết xuống tờ giấy nháp. Ông viết chữ "0825" thì ngòi bút dừng lại. Ông không viết chữ "A".
Lam nhìn ông. Mặt ông không đổi, vẫn cái mặt gầy, mí mắt chảy xệ. Nhưng màu mặt thì đổi. Như có ai rút đi một lớp máu dưới da, để lại thứ màu xám của tro bếp nguội.
– Chú ơi?
– Cháu về đi.
Ông đứng dậy. Ông đi ra cửa, mở cửa, đứng đấy, tay vẫn nắm tay nắm cửa.
– Chú, cháu chỉ hỏi thêm một câu...
– Cháu về đi. – Ông nói, không to hơn lúc nãy. – Hôm khác. Tôi còn việc.
Lam cầm ba lô, bước ra. Cửa đóng sau lưng cô, nhẹ nhàng, không đóng sập. Qua tấm kính mờ trên cửa, cô thấy bóng ông Lượng đứng yên ở đó, không quay lại bàn. Hai tay ông buông thõng, như người vừa nhớ ra mình để quên thứ gì rất quan trọng ở một nơi rất xa.
Cô đứng ở hành lang thêm một lúc. Người nhà bệnh nhân vẫn xếp hàng trước ô cửa phát thuốc, cầm đơn, cầm thẻ bảo hiểm, cầm túi ni lông đựng thuốc mang về. Một ông già người Thái nhận một túi, giơ lên ngắm dưới nắng như ngắm một thứ quà quý.
Lam nhìn cánh cửa sắt hai lớp khóa của kho thuốc. Nhìn cái ổ khóa móc to bằng nắm tay. Rồi cô đi ra lấy xe, không hiểu vì sao trong miệng mình lại có cái vị chát của bát nước chè xanh nhà bà Pòm.
— Hết chương 2 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe