Chương 26: Huy mất tích
Chín giờ tối Chủ nhật, Gạo bấm nút gọi bố, như mọi tối.
Tiếng tút. Một hồi. Hai hồi. Mười hồi. Rồi một giọng phụ nữ được ghi sẵn, nói rất lịch sự rằng thuê bao quý khách vừa gọi tạm thời không liên lạc được.
Thằng bé nhìn cái màn hình nhỏ bằng con tem, nhíu mày, bấm lại. Vẫn giọng phụ nữ ấy.
– Mẹ ơi, đồng hồ con hỏng à?
– Không hỏng đâu. – Lam ngồi ở mép giường, cầm lấy cổ tay con, nhìn. Chấm xanh vẫn sáng. – Chắc bố đang ở chỗ không có sóng. Mai con gọi lại.
– Bố bảo bố bận thì bố nhắn. Bố không nhắn.
– Mai con gọi lại.
Gạo nằm xuống, quay mặt vào tường. Lam ngồi đó cho đến khi thằng bé ngủ, nghe hơi thở nó lúc đầu còn hậm hực, rồi đều dần. Cô ra phòng khách, nhắn cho Tuân đúng một câu: "Anh Huy không nghe máy con."
Anh trả lời sau bốn phút: "Anh biết. Sáng mai anh đến nhà em."
Cô ngồi ở bàn ăn đến một giờ sáng, không làm gì. Cái ứng dụng hình ngôi sao màu cam trên điện thoại vẫn mở, bản đồ có một chấm cam ở đúng vị trí ngôi nhà này. Cô bấm vào dòng "Bố". Trạng thái: không trực tuyến. Lần cuối: 13 giờ 02.
Bảy giờ sáng thứ Hai, cô đưa Gạo đi học bằng chiếc xe số màu đỏ đô, đi chậm, cổ tay phải còn cứng. Người bán nước mía đã dựng xe đẩy ở góc cổng trường, đang lau mấy cái cốc thủy tinh. Anh ta không nhìn cô. Cô Vân ra đón Gạo, nhìn Lam, không hỏi gì.
Gần trưa, Tuân đứng ở cổng. Anh chưa cạo râu. Áo khoác gió lấm bùn đỏ từ vai xuống gấu, giày ướt sũng, như người đã đi suốt đêm trên một con đường không có mái che. Lam ra mở cổng trước khi anh kịp gọi.
Họ đứng ở đầu ngõ, cạnh gốc cây sấu, chỗ vắng người.
– Chiều qua anh ấy tự đi, – Tuân nói. – Không báo ai. Bọn anh không biết vì sao, chưa biết ai gọi anh ấy đi. Khoảng sáu giờ tối, anh ấy đến một chỗ trên Pù Lâu mà bọn anh đang để mắt. Một chỗ không nên đến. – Anh dừng lại. – Đêm qua sương xuống dày, người của anh không nhìn được gì. Trời vừa sáng, bọn anh vào được chỗ ấy. Không có anh ấy. Không có người bọn anh đang tìm. Không có chiếc xe nào.
Lam không hỏi chỗ ấy là chỗ nào. Cô biết. Cô đã ngồi trên một tảng đá bên suối Huổi Pha nghe một người kể về nó.
– Còn xe của anh ấy?
– Năm giờ sáng nay, một anh công nhân đường bộ thấy chiếc xe ga màu bạc nằm ở cua Tay Áo, – Tuân nói, chậm. – Sát mép đường bên vực. Mũ bảo hiểm văng cách xe mấy mét. Không có người. Đội cứu hộ của tỉnh đang xuống vực tìm.
Cua Tay Áo. Lam nhìn xuống chân mình, đôi dép nhựa đi trong nhà. Cô nghe tiếng nước rỉ từ vách đá chảy róc rách sát tai, cái tiếng cô vẫn nghe trong giấc ngủ suốt ba tuần nay.
– Anh ấy đi đèo ấy mấy năm rồi, – cô nói. – Anh ấy biết xuống đèo thì vách núi bên phải, vực bên trái. Anh ấy không bao giờ đi sát bên vực. Anh ấy sợ độ cao. Hồi làm homestay anh ấy không dám đứng ở ban công tầng hai.
– Anh biết. – Tuân nói. – Bọn anh cũng thấy nó lạ. Xe nằm như người ta đặt nó xuống, không như xe ngã. Trên mặt đường không có vết phanh. – Anh nhìn cô. – Anh nói với em thế để em hiểu bọn anh đang tìm theo cả hai hướng. Anh không nói thế để em hy vọng.
Lam gật đầu. Cô không khóc. Cô thấy lạ là mình không khóc, như cái đêm thứ Sáu ngồi với cái đồng hồ của con dưới ngọn đèn vàng.
– Em muốn lên đấy, – cô nói.
– Anh biết.
– Em sẽ không lên.
Tuân nhìn cô một lúc lâu.
– Ừ, – anh nói. – Ở đây em có một việc khó hơn. Thằng bé. – Anh ngừng. – Còn mẹ em, bây giờ em kể được rồi.
Anh đi. Lam quay vào nhà. Bà Dịu đang đứng ở cửa bếp, tay cầm cái muôi, nhìn con gái. Bà đã nhìn thấy người đàn ông lấm bùn ở cổng. Bà đã nhìn thấy mặt con gái lúc quay vào.
Lam kể với mẹ. Lần đầu tiên, kể hết. Cái đồng hồ, đêm hai mươi hai tháng Mười hai, bãi sỏi dưới cầu sắt, phòng số ba. Tuân vừa nói mẹ cô thì được, và cô đã đợi lâu quá rồi. Bà Dịu nghe, đứng nguyên ở cửa bếp, tay vẫn cầm cái muôi. Nồi canh trên bếp sôi trào ra một ít, xèo xèo trên mặt bếp ga. Bà không quay lại tắt.
Khi Lam kể xong, bà mới tắt bếp.
– Anh Huy dại, – bà nói. – Từ hồi cái homestay mẹ đã biết anh ấy dại. Nhưng anh ấy thương con. – Bà múc canh ra bát, đặt lên bàn. – Con ăn đi, từ đêm qua con chưa ăn gì. Chiều nay con đón thằng bé. Con đón. Mẹ không đón đâu.
Cô không đến tòa soạn. Cô nhắn anh Thục xin nghỉ ba ngày, việc gia đình. Anh trả lời một chữ: "Ừ." Rồi thêm một dòng: "Có gì cần thì nói anh. Không cần kể."
Cả ngày hôm ấy cô ở nhà, chỉ ra khỏi cổng lúc đón con. Cô giặt quần áo, lau sàn, gấp đồ của Gạo, những việc tay làm được mà đầu không cần nghĩ. Cứ nửa tiếng cô lại nhìn điện thoại. Bốn giờ chiều, chị Hằng nhắn: "Cứu hộ tìm đến đáy vực đoạn cua Tay Áo. Chưa thấy gì. Mai tìm tiếp đoạn dưới." Cô đọc tin ấy ba lần. Chưa thấy gì.
Chín giờ tối, Gạo lại bấm nút gọi bố. Giọng phụ nữ ghi sẵn. Thằng bé bấm lại. Bấm lần thứ ba thì nó tháo cái đồng hồ ra, ném xuống chăn.
– Đồng hồ hỏng rồi! Con không đeo nữa!
Lam nhặt cái đồng hồ lên. Cô ngồi xuống cạnh con, ôm nó vào lòng. Nó vùng ra, rồi thôi vùng, rồi khóc, tiếng khóc nghẹn của đứa trẻ bảy tuổi không hiểu vì sao người lớn không làm đúng điều đã hứa.
– Bố đi công tác ở chỗ núi cao, – Lam nói, nói chậm, từng chữ, như nói với chính mình. – Chỗ ấy không có sóng điện thoại. Bố không gọi được, không nhắn được. Không phải bố quên con.
– Sao mẹ biết?
– Vì mẹ biết bố.
Đấy là lời nói dối thứ hai cô phải nói với con trong một tháng. Lời này khó hơn lời trước, vì một nửa của nó là thật.
Gạo khóc mệt rồi ngủ, tay vẫn nắm vạt áo mẹ. Lam không đeo lại cái đồng hồ cho con. Cô đặt nó trên cái bàn học nhỏ, cạnh hộp bút sáp màu bốn mươi tám màu. Cái chấm xanh trên mặt kính vẫn sáng.
Sáng thứ Ba, cứu hộ tìm tiếp đoạn vực phía dưới cua Tay Áo, rồi đoạn suối dưới đáy vực. Chiều thứ Ba, chị Hằng đến nhà, không nhắn. Chị ngồi uống chè với bà Dịu, nói với Lam những gì chị được phép nói: đáy vực không có ai. Trên mặt đường cua Tay Áo, ngoài vết xe ga của Huy, có vết lốp một chiếc ô tô dừng lại, rồi quay đầu. Mũ bảo hiểm của Huy không có vết va đập. Nó không văng ra. Nó được đặt xuống.
– Thế là anh ấy không ngã, – Lam nói.
– Anh ấy không ngã ở đấy, – chị Hằng chữa lại, rất nhẹ. – Còn anh ấy ở đâu thì chưa biết.
Tối thứ Ba, Gạo không gọi bố. Nó ngồi ở bàn học, cầm cây sáp màu nâu vẽ một quả núi thật to, rồi cây sáp màu xanh lá vẽ một người đứng trên đỉnh núi, rồi cây sáp màu vàng vẽ một cái mặt trời. Nó bảo mẹ đấy là bố đang đi công tác. Nó dán bức tranh lên tường cạnh giường bằng hai miếng băng dính, dán lệch.
Lam không ngủ. Cô nằm nghe tiếng thằng bé thở, nghe tiếng đồng hồ treo tường phòng khách, nghe tiếng một con tắc kè kêu ở góc vườn. Cô nghĩ đến Huy đứng ở lan can bờ sông nghe một cuộc gọi ba phút, vai rụt lại. Cô nghĩ đến Huy ngồi trên tảng đá ở bãi sỏi, gật đầu một cái. Chỉ một cái. Cô nghĩ đến một câu Tuân đã nói ở quán chè chân cầu sắt hôm mười tám tháng Ba: người cầm đầu sang được bên kia biên giới, đến giờ vẫn chưa về.
Ba giờ chiều thứ Tư, chị Hằng lại đến. Lần này chị không ngồi uống chè.
– Anh Tuân nhờ chị đón em lên cơ quan. Có một người cần em xem một thứ.
Phòng tiếp công dân số 3. Tuân ngồi ở đầu bàn, mặt hốc hác, nhưng râu đã cạo. Ngồi ở ghế đối diện anh là một người đàn ông Mông áo chàm, mũ nồi, chân đi dép nhựa còn dính đất đỏ. Mùa A Chả. Anh đứng dậy khi Lam bước vào, gật đầu với cô như hôm ở cua Tay Áo.
– Anh Chả xuống làm việc theo giấy mời về vụ ép xe của em, – Tuân nói. – Lịch hẹn từ tuần trước. Anh ấy đi từ bản lúc ba giờ sáng. Trước khi vào làm việc, anh ấy đưa cho anh cái này.
Anh đẩy về phía Lam một tờ giấy nhỏ, đặt trong túi ni lông trong suốt. Một mảnh giấy bạc lót trong vỏ bao thuốc lá, lật mặt trắng ra ngoài, gấp làm tư, đã mở phẳng. Trên đó có mấy dòng chữ viết bằng bút chì, nét run, chữ to nhỏ không đều.
– Anh Chả bảo người nhờ anh ấy mang xuống là Giàng A Sử, nhà cuối bản Pù Lâu Trên, – Tuân nói. – Sử dặn chỉ đưa cho nhà báo bị ép xe ở đèo, vì người viết không nhớ số của ai khác. Anh Chả không biết nhà em, nên mang đến đây. – Anh nhìn cô. – Anh cần em đọc. Rồi nói cho anh biết em có chắc đây là chữ của ai không. Có điều gì trong này chỉ người ấy mới biết không.
Lam cúi xuống.
"Lam. Anh còn sống. Anh ở nhà Sử. Chân đau, không đi được. Đừng nói ai ngoài anh Tuân. Nó tìm anh. Bảo Gạo bố không quên. Chữ ô tròn."
Chữ dài, nghiêng, có chữ "u" và chữ "y" lượn vòng ngay cả khi viết bằng bút chì trên một mảnh giấy bạc nhăn nhúm. Cô đã thấy nó trên tờ giấy ly hôn ở tòa án thành phố. Cô đã thấy nó trên tấm thiệp gói cùng hộp bút sáp màu hôm sinh nhật thằng Gạo.
Nhưng chữ thì người ta bắt chước được. Cô biết thế. Tuân cũng biết thế.
Cô đọc lại dòng cuối. Chữ ô tròn.
Buổi sáng ở quán bánh cuốn bà Thoa, hôm mười chín tháng Ba. Huy úp điện thoại xuống bàn, kể thằng Gạo gọi khoe được cô giáo cho hoa điểm mười. Cô nói: chữ "ô" tròn. Anh nhắc lại, cười to hơn: ừ, chữ "ô" tròn, giống em, hồi bé chắc em cũng viết chữ "ô" tròn. Không ai khác ngồi ở cái bàn ấy. Bà Thoa đã đi vào trong.
Lam ngẩng lên, nhìn Tuân. Rồi nhìn anh Chả, người đàn ông đã nhấc chiếc xe máy khỏi chân cô bằng hai tay như nhấc bó củi.
– Là anh ấy, – cô nói.
— Hết chương 26 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe