Chương 22: Người đến xin chuỗi vỉ
Bà Pòm đặt một cái điều kiện, qua máy điện thoại của chị Ính, tối thứ Hai: muốn lấy cái chuỗi thì phải có con bé nhà báo đứng đấy.
– Bà bảo, cái chuỗi ấy chị là người đếm đầu tiên, – chị Ính nói, giọng lắp bắp vì phải dịch một lúc hai đầu. – Người lạ đếm thì bà không tin.
Tuân nghe Lam kể lại, im một lúc, rồi bảo được. Cô đi cùng xe của cơ quan, đứng ở chỗ anh chỉ, không chụp ảnh, không hỏi ai câu gì. Cô là người bà cụ muốn có mặt, không hơn.
Bảy giờ sáng thứ Ba, chiếc bán tải màu xám rời Tân Lương. Tuân lái. Ghế phụ là một chị thanh tra Sở Y tế người Tày, tóc búi, ôm cái cặp đựng găng tay, túi niêm phong, phiếu lấy mẫu. Ghế sau là Lam, và ông Lượng.
Ông Lượng mặc áo sơ mi trắng như hôm nộp hộp mẫu, cái kính lúp vẫn đeo trên cổ bằng sợi dây dù xanh. Ông được cơ quan điều tra mời bằng văn bản, với tư cách người có chuyên môn hỗ trợ. Tuân nói điều ấy với Lam ngay khi ông lên xe, như để ông khỏi phải tự giải thích.
– Phần của chú ở khâu nhận hàng đã làm rõ, – Tuân nói, mắt nhìn đường. – Việc kỷ luật thì Sở Y tế quyết, bọn cháu không có ý kiến. Còn hôm nay bọn cháu cần một người nhìn vỉ thuốc giỏi nhất vùng này.
Ông Lượng không nói gì. Ông nhìn ra cửa sổ. Một lúc lâu sau, khi xe đã qua cầu sắt, Lam thấy ông tháo cái kính lúp ra khỏi cổ, cầm trong tay, xoay đi xoay lại, như người ta cầm một thứ vừa được trả lại.
Đèo Pha Khóm sau trận mưa đầu mùa xanh rờn. Những nương ngô đã cao đến mắt cá, mép đường có những vệt bùn đỏ chảy từ vách núi xuống. Đến cua Tay Áo, Tuân đi chậm lại. Lam nhìn sang phải, cái rãnh thoát nước chân vách núi, đá hộc xám, nước rỉ róc rách. Có một vệt sơn đỏ đô bám trên thành rãnh, chỗ bánh trước xe cô đập vào. Cô nhìn nó cho đến khi xe qua hẳn khúc cua. Không ai nói gì.
Gần mười một giờ, xe dừng ở gốc cây nhãn đầu sân nhà bà Pòm. Hai cán bộ công an xã Nậm Ca đã có mặt, cùng ông trưởng bản Huổi Pha, một ông già người Thái gầy, đội khăn, ngồi xổm hút thuốc lào dưới gầm sàn. Ông là người chứng kiến.
Bà Pòm đứng ở đầu cầu thang. Bà mặc áo cánh chàm mới, khăn piêu đội đầu, như người sắp đi đám. Pắn đứng sau lưng mẹ, áo phông đồng phục màu cam có in chữ Đạt Thành ở ngực. Hôm nay anh được nghỉ, anh nói với Lam khi cô bước lên cầu thang, mà không ai hỏi. Anh không nhìn vào mắt cô.
– Cháu lên rồi, – bà Pòm nói.
– Cháu lên rồi bà.
Bà nắm lấy cổ tay trái của cô, cái tay không có nẹp, kéo vào nhà.
Gác bếp vẫn thế. Giàn tre đen bóng, mấy xâu ngô giống, tảng thịt trâu treo khói. Sợi cước buông xuống, ba mươi ba cái vỉ chồng lên nhau như vảy cá. Bếp lửa hôm nay không nhóm, chỉ còn một lớp tro ấm. Bà dặn con dâu từ đêm qua không được đun bếp.
Tuân đứng ở cửa, giới thiệu từng người với bà Pòm, chậm, rõ, để Pắn dịch những chữ bà không nghe kịp. Anh giải thích bằng những câu ngắn: cơ quan công an đề nghị bà giao cái chuỗi để làm vật chứng, có biên bản, ghi từng cái vỉ. Bà có quyền đồng ý, có quyền không. Nếu bà đồng ý, xong việc điều tra, cái gì không cần giữ lại thì trả bà.
Bà Pòm nghe hết. Rồi bà hỏi một câu, bằng tiếng Kinh, nhìn thẳng vào Tuân.
– Ông công an đếm được không?
– Cháu đếm được, bà ạ.
– Đếm cho bà xem.
Đúng lúc ấy có tiếng xe máy ở chân dốc.
Hai chiếc xe máy leo lên con dốc đất đỏ, dừng sau chiếc bán tải màu xám. Hai cậu thanh niên chừng hai mươi tuổi bước xuống, mặc áo phông xanh nước biển có in hình cái gùi và dòng chữ Gánh Nước trên lưng. Một cậu ôm một bao tải nhỏ, một cậu cầm tờ giấy kẹp trên tấm bìa cứng. Thấy sân nhà có xe ô tô, có người mặc sắc phục công an xã, hai cậu đứng khựng lại ở gốc nhãn.
Một cán bộ công an xã đi xuống. Lam đứng ở đầu cầu thang, nghe được hết.
Họ là sinh viên cao đẳng ở Tân Lương, tham gia nhóm Gánh Nước từ năm ngoái. Từ sáng thứ Hai, văn phòng nhóm giao cho mỗi tổ tình nguyện một danh sách, đi từng nhà, đổi thuốc mới, thu thuốc cũ. Cậu cầm tờ giấy đưa ra cho cán bộ xem, không cần ai đòi. Danh sách in máy, tiêu đề "Hộ nhận thuốc huyết áp – đợt khám ngày 18/10/2025 – xã Nậm Ca", bốn mươi mốt dòng. Dòng thứ hai mươi sáu: Lò Văn Tương, bản Huổi Pha. Bên cạnh có một dấu sao bằng bút bi.
– Dấu sao này là gì em? – cán bộ hỏi.
Cậu sinh viên đỏ mặt.
– Anh điều phối ở văn phòng nhóm đánh dấu ạ. Anh ấy dặn nhà này có treo một chuỗi vỏ vỉ trên gác bếp. Bảo bọn em xin bằng được, vì vỏ vỉ thuốc để trong nhà là không an toàn cho trẻ con. Anh ấy bảo nhà này hơi khó tính.
Ông trưởng bản đang hút thuốc lào dưới gầm sàn bỗng bật cười, một tiếng khục khặc, rồi quay đi.
Cán bộ công an xã xin phép chụp tờ danh sách, ghi tên hai cậu sinh viên, số điện thoại, tên anh điều phối. Hai cậu ký vào một tờ giấy, tay run run. Cậu ôm bao tải thuốc mới đứng tần ngần, không biết nên để bao tải ở đâu.
– Hai em mang thuốc về, – Tuân nói từ đầu cầu thang, giọng không to. – Không phát cho nhà nào trong xã này nữa. Báo với văn phòng nhóm là có công an làm việc ở Huổi Pha. Thế thôi. Các em không làm gì sai.
Hai cậu đi. Tiếng xe máy xa dần xuống con dốc.
Lam nhìn sang Pắn. Anh đứng ở cột nhà, chỗ anh vẫn đứng khoanh tay hôm chín tháng Ba. Hôm nay anh không khoanh tay. Hai tay anh nắm lấy vạt áo đồng phục màu cam, vò đi vò lại.
– Mẹ, – anh nói bằng tiếng Kinh, nhỏ, như không muốn ai nghe. – Hay mẹ đưa cho bọn nó đi. Người của công ty. Con còn phải đi làm.
Bà Pòm không quay lại. Bà đang nhìn lên gác bếp.
– Bọn nó đến xin hai lần rồi, – bà nói, cũng bằng tiếng Kinh, để mọi người cùng nghe. – Lần đầu cho bà bao gạo. Lần này cho bà thuốc mới. Ông nhà bà chết rồi, bọn nó còn muốn lấy cái ông treo lại. Thế là bọn nó sợ cái này.
Bà đi về phía bếp. Bà với tay lên, cầm lấy đầu sợi cước buộc vào giàn tre.
– Ông công an đếm đi. – Bà nói. – Bà cắt.
Chị thanh tra Sở Y tế trải một tấm vải trắng xuống chiếu. Tuân đeo găng. Cán bộ công an xã mở cuốn biên bản. Bà Pòm rút trong túi áo ra một con dao nhỏ cán sừng, loại người ta dùng để cắt sợi trên khung cửi. Bà cắt sợi cước sát nút buộc, một nhát, gọn.
Sợi cước rơi xuống tay Tuân. Ba mươi ba cái vỉ va vào nhau lách cách, một tiếng như tiếng mấy đồng xu cũ.
Họ đếm. Tuân đặt sợi cước dọc theo tấm vải trắng, không gỡ vỉ nào ra khỏi sợi, đánh số từ trên xuống bằng những mẩu giấy nhỏ. Ông Lượng quỳ xuống bên cạnh, cái kính lúp bật ra, đọc từng vỉ cho cán bộ ghi. Giọng ông đều đều, như đọc phiếu nhập kho.
– Số một. Amlodipin năm miligam, Trung Hà. Lô đọc không rõ, khói ám. Mép dập nổi, sờ thấy. – Ông chạm đầu ngón tay đeo găng vào mép vỉ. – Số hai. Như trên.
Hai mươi hai cái vỉ đầu, cái nào cũng dập nổi. Khói đen dần từ trên xuống, những cái gần vòng chỉ đỏ thì đọc được lô, đọc được hạn. Vỉ thứ hai mươi hai: lô 0825A, hạn 08/2028. Cái vỉ Lam đã chụp đêm chín tháng Ba ở nhà nghỉ xã, cái vỉ đầu tiên cho cô biết có hai thứ hạn dùng.
Rồi đến vòng chỉ đỏ. Cán bộ ghi: "Giữa vỉ số 22 và số 23 có một vòng chỉ màu đỏ thắt nút." Bà Pòm, ngồi ở góc chiếu, nói thêm một câu tiếng Thái. Pắn dịch, giọng khàn:
– Mẹ tôi bảo ghi vào: ông tự buộc.
Cán bộ ghi thêm ba chữ "ông tự buộc".
Ông Lượng cúi xuống ba vỉ dưới vòng chỉ đỏ, ba vỉ của đoàn từ thiện. Ông soi rất lâu, lâu hơn mọi vỉ trước. Ông miết. Phẳng. Ông bảo chị thanh tra lấy cho ông một miếng bông tẩm cồn, chấm vào góc một vỉ. Chữ nhòa.
– Số hai mươi ba, hai mươi tư, hai mươi lăm, – ông đọc. – Ghi tên Trung Hà. Lô 0325B. Hạn 03/2028. Chữ in mực, không dập nổi. Lau cồn trôi.
Chị thanh tra nhíu mày, mở điện thoại tra gì đó, rồi lắc đầu với Tuân.
Đến tám vỉ dưới cùng, tám vỉ Pắn mua ở sạp chị Xiêm. Ông Lượng đọc nhanh hơn. Lô 0825A, hạn 08/2027, in mực. Bảy cái như thế. Riêng cái thứ ba từ dưới đếm lên, ông dừng lại.
– Số ba mươi mốt. – Ông miết lại lần nữa. – Lô 0825A. Hạn 08/2028. Dập nổi. Cái này thật.
Pắn ngẩng lên.
– Tôi mua cùng một chỗ mà.
– Cùng một chỗ, – ông Lượng nói, không ngẩng lên. – Người bán hàng giả hay trộn một ít hàng thật vào. Ai cầm lên soi thì thấy thật. Ai uống thì có hôm được thuốc, có hôm không. – Ông đặt cái vỉ xuống. – Bố anh có một vỉ thuốc thật trong tám vỉ cuối. Mười ngày.
Pắn cúi xuống. Bà Pòm không hỏi con trai ông dược sĩ vừa nói gì. Bà nhìn sợi cước nằm dài trên tấm vải trắng, như nhìn một người nằm.
Cán bộ đọc lại biên bản cho bà nghe. Ba mươi ba cái vỉ, từng số một, có vòng chỉ đỏ, có chữ "ông tự buộc". Bà Pòm điểm chỉ, ngón tay cái ấn vào hộp mực đỏ, ấn xuống giấy, rồi lau tay vào vạt áo chàm mới. Rồi bà nói thêm một câu tiếng Kinh, nhìn Tuân.
– Xong thì trả bà. Đủ ba mươi ba.
– Cái gì không phải giữ lại, bọn cháu trả bà, – Tuân nói. – Cái gì phải giữ lại, bọn cháu ghi giấy cho bà, bà cầm giấy.
Bà gật đầu.
Họ cho sợi cước vào một cái túi niêm phong dài, dán băng, ký tên lên mép băng. Ông trưởng bản ký. Bà Pòm điểm chỉ lần thứ hai. Trên gác bếp chỉ còn mẩu cước ngắn buộc vào giàn tre, đầu cắt sắc, đung đưa trong luồng gió lùa qua vách nứa.
Chiều hôm ấy, trên đường về, xe dừng ở bản Nà Lạn. Công an xã đã hẹn trước với chị Nhung. Hộp bánh quy bằng sắt sau bát hương vẫn còn nguyên ba vỉ, chưa ai đụng vào. Ông Phong nằm trên giường cạnh cửa sổ, nhìn mấy người lạ, tay trái nắm lấy mép chăn. Lam đứng ngoài sân. Cô đứng nhìn cái cối giã gạo chạy bằng sức nước, cứ một lúc lại nghe tiếng chày rơi thình thịch.
Xe về đến Mường Then thì trời đã chiều. Tuân thả ông Lượng ở đầu ngõ sau chợ. Ông xuống xe, cầm cái kính lúp đã gập trong tay, đứng nhìn chiếc xe một lúc, như định nói gì. Lam hạ kính cửa.
– Chú ơi.
– Ba cái vỉ của đoàn, – ông nói, không phải với ai cụ thể. – Chú nghĩ mãi từ trưa.
– Chú nghĩ gì ạ?
Ông Lượng mở cái kính lúp ra, rồi gập lại, tiếng kim loại kêu tách một cái.
– Ba cái này không cùng tay với mấy cái kia, – ông nói. – Cùng là giả, nhưng không cùng một đợt in. Chữ nghiêng khác, mực khác, nhôm xỉn khác. Mấy cái mua chợ là đời sau. – Ông nhìn Lam. – Ba cái của đoàn già hơn.
— Hết chương 22 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe