Chương 9: Dấu khắc tháng Mười một
Sáu giờ sáng thứ Bảy, Thao xuống hiên thì Thước đã ngồi đó, chiếc đồng hồ số bốn mốt nằm úp mặt trên tấm nỉ xanh, nắp đáy đã mở, cái điện thoại của anh đặt cạnh, màn hình sáng.
Anh không chào. Anh xoay cái điện thoại về phía cô.
Trên màn hình là ảnh chụp một tấm bảng gỗ sơn đỏ, chữ vàng, cái tấm bảng ở hành lang sau của hội hưu trí. Ảnh chụp nghiêng, hơi loá đèn, nhưng đọc được. Hàng chữ to trên cùng: Công nhân nhà máy đi làm nhiệm vụ không trở về. Bên dưới là bốn mươi ba cái tên, xếp theo năm. Thước lấy ngón tay phóng to một dòng ở cột giữa.
Quách Đình Thụy. Phân xưởng Cơ khí. 1974.
Thao nhìn cái tên. Rồi cô nhìn xuống cái nắp đáy đang nằm ngửa trên tấm nỉ, mặt ngoài quay lên, những nét khắc mòn nhẵn mà nghiêng dưới đèn mới thấy: Q.Đ.T. 1966.
Cô ngồi xuống bậc hiên. Không phải ngồi, mà là hai đầu gối cô tự gập lại.
– Quách. Đình. Thụy. – cô đọc to, từng chữ một, như đọc số đo.
– Thợ máy. – Thước nói. – Phân xưởng Cơ khí là phân xưởng sửa máy dệt. Đi năm bảy hai. Ghi mất năm bảy tư.
– Anh biết từ hôm thứ Ba.
– Hôm thứ Ba tôi biết cái tên. Tôi hông biết bà cô có người yêu tên Thụy. – Anh nói chậm. – Đến tối qua cô kể chuyện cái áo, tôi mới biết.
Thao nhìn lên cây đinh thứ ba trên tấm ván gỗ. Cây đinh trống, chỉ có cái thẻ bìa vàng treo lủng lẳng vì Thước đã tháo đồng hồ xuống. Bốn mốt. Nét bút chì của ông Hàm năm bảy hai.
Cả đời cô, cái đồng hồ ấy treo ở đó. Ngày cô học lớp một, mặc cái áo bà may, đứng ở bậc hiên chụp ảnh, nó treo sau lưng cô. Ngày cô thi đại học về, ngồi khóc ở bậc hiên vì làm hỏng bài vẽ hình hoạ, nó treo sau lưng cô. Ngày ông mất, người ta dựng rạp che kín cả hiên, ông Hàm vẫn mở quầy sáng thứ Hai lên dây nó, cô nhớ cả bà nhìn ông Hàm làm việc ấy qua khe rạp. Nó là đồng hồ của người con trai trong tấm ảnh dưới đáy hòm. Nó là đồng hồ của người bà may áo cưới để chờ.
– Bà tôi có biết không? – cô hỏi.
– Tôi hông biết.
– Chắc bà không biết. Nếu biết thì… – Thao không nói hết câu. Nếu biết thì sao, cô không biết. – Nhưng thế thì cũng chỉ là đồng hồ của người đã mất. Ông Hàm giữ nó để giữ. Anh bảo ông không nói tên người ta, chắc vì sợ bà buồn.
Thước lắc đầu. Anh cầm cái nắp đáy lên, lật mặt trong ra, đặt dưới bóng đèn trắng. Miếng giấy lót tròn màu lá chè khô. Và bên cạnh nó, sát mép thép, vết vạch nhỏ như sợi tóc.
H 11.76.
– Tối qua tôi gọi cho ba tôi. – anh nói. – Tôi hỏi ba: hồi ba học nghề với ông, ông vạch dấu vô nắp đáy khi nào. Ba nói ngay, hông cần nghĩ. Ông dạy ba từ năm mười lăm tuổi, ba dạy lại tôi mà tôi quên.
Anh đặt cái nắp xuống.
– Lau dầu, sửa chữa, để trong tiệm thì ghi vô giấy lót. Còn vạch vô kim loại, chỉ vạch một lần, đúng cái lúc trả máy tận tay khách. Để sau này khách có quay lại nói máy hư, mình biết máy ra khỏi tay mình ngày nào. Ông nói: giấy thì người ta xé được, còn vạch trên thép thì phải mài cả nắp mới mất.
Thao nhìn vết vạch. Tháng Mười một năm bảy mươi sáu.
– Tức là…
– Tức là tháng Mười một năm bảy mươi sáu, ông tôi trả cái đồng hồ này tận tay một người. – Thước nói. – Hai năm sau cái năm ghi trên tấm bảng.
– Có khi người nhà ông ấy đến lấy. Mẹ ông ấy, anh em ông ấy. Họ mang vé đến, ông Hàm trả.
– Nếu người nhà đến lấy thì nó đâu còn treo ở đây. – Thước chỉ lên cây đinh. – Ông tôi trả nó tận tay một người. Rồi người đó đưa lại cho ông. Rồi ông treo nó lên cái đinh cũ, năm mươi năm.
Thao im. Bên kia đường, chị bánh cuốn đang tráng mẻ bánh đầu tiên, hơi nước bốc lên trắng xoá trong nắng sớm.
– Còn một chuyện nữa. – Thước nói. – Hôm thứ Ba, lúc cô nghe điện thoại, bà Cả Nhung kể tôi nghe một chuyện. Bà kể như kể chuyện tếu, cả hội cười.
– Chuyện ma ở bến xe?
– Dạ. – Anh nhìn cô. – Năm bảy sáu, có một cô thợ trong tổ bà đi chợ về, kể là thấy ma thằng Thụy nhà Quách ở bến xe. Mặc quân phục cũ, gầy như que củi, đứng xếp hàng mua vé về Thái Bình. Cô ấy gọi to, người kia quay lại nhìn rồi lẩn mất. Cả phân xưởng bảo cô ấy hoa mắt. Bà Cả Nhung còn nói: chết hai năm rồi còn về mua vé xe, đúng là ma thằng Thụy, sống đã keo kiệt, chết vẫn phải đi xe khách.
Thao không cười.
Cô ngồi trên bậc hiên rất lâu. Thước không nói thêm. Anh cầm chiếc đồng hồ lên, đậy nắp lại, lên dây ba chục vòng, đưa lên tai nghe, rồi treo về cây đinh thứ ba. Hôm nay không phải thứ Hai. Nhưng anh vẫn lên dây.
– Năm bảy sáu. – Thao nói. – Bà tôi lấy ông năm bảy lăm. Mẹ tôi sinh tháng Ba năm bảy sáu.
– Dạ.
– Nếu ông ấy còn sống, ông ấy về đây vào cái năm bà tôi đã có chồng, đã có con.
Thước không trả lời.
Thao đứng dậy, đi vào trong tiệm. Bà Vóc chưa xuống. Đồng hồ quả lắc trên tường chỉ sáu giờ hai mươi bảy, tức là sáu giờ hai mươi. Cô đứng trước nó, nhìn cái quả lắc đồng đung đưa sau cánh kính, trái, phải, trái, phải. Cô nghĩ đến bà năm hai mươi sáu tuổi, bằng tuổi cô bây giờ, ngồi bên bàn cắt này, bế một đứa con gái tám tháng tuổi. Và ở đâu đó ngoài kia, một người đàn ông đã được khóc thương hai năm đang đứng xếp hàng mua vé xe.
Chín giờ sáng, con trai ông Bảy Lâm chở hai xấp lụa đến bằng xe máy, bọc trong túi ni lông trắng. Thao mở ra, mang ra cửa soi dưới nắng. Hồng đào. Đúng hồng đào, đằm, mịn, đặt cạnh hai xấp kia thì không phân biệt được. Cô cắt một mẩu giặt thử. Mười lăm phút sau vẫn hồng đào.
Bà Vóc đứng bên cạnh, gật đầu một cái.
– Ông Bảy nhuộm thì được. Thằng con ông ấy thì chưa.
Thao định nói gì đó với bà. Cô nhìn bà, nhìn cái tay bó bột, nhìn mái tóc búi gọn, nhìn những nếp nhăn ở khoé mắt. Cô không nói gì cả. Cô ôm hai xấp lụa vào bàn cắt.
Cả ngày thứ Bảy và Chủ nhật, cô cắt bốn cái áo phù dâu. Cô cắt cẩn thận hơn bao giờ hết, như thể từng nhát kéo phải đúng thì mọi chuyện khác mới đúng theo.
Đêm thứ Bảy, khi bà đã ngủ, Thao lên gác ba lần nữa. Cô bước qua bậc thứ bảy, quỳ xuống trước cái hòm tôn, mở nắp, không lấy cái áo ra, chỉ lấy tấm ảnh úp trên bọc áo. Cô bật đèn điện thoại, soi.
Người con trai mặc quân phục, mũ cầm trên tay phải, tay trái buông thõng bên đùi. Cô đưa ánh đèn lại gần cổ tay trái ấy. Cổ tay để trần. Không có đồng hồ. Chỉ có một vệt sáng hơn màu da xung quanh, mảnh như một sợi dây, chỗ một chiếc đồng hồ đã đeo nhiều năm rồi vừa được tháo ra.
Tấm ảnh chụp tháng Tư năm bảy hai. Chiếc đồng hồ lúc ấy đang nằm trong tủ kính của ông Hàm, chờ thay trục lắc.
Thao úp tấm ảnh lại đúng chỗ cũ, đậy nắp hòm, ngồi trong bóng tối của gác ba rất lâu, nghe tiếng đồng hồ quả lắc dưới tiệm điểm mười hai tiếng, sớm hơn nửa đêm bảy phút.
Chủ nhật, tối, cô nhắn cho Thước một tin: Mai em đi cùng anh sang ông.
Rồi cô xoá chữ em, gõ chữ tôi. Rồi lại xoá chữ tôi, để trống, gửi đi: Mai đi cùng anh sang ông.
Anh nhắn lại một chữ: Dạ.
Sáng thứ Hai, hai mươi tám tháng Chín. Thước lên dây số bốn mốt lúc năm giờ ba mươi theo đồng hồ của bà, rồi tháo nó khỏi cây đinh, bỏ vào túi áo ngực. Hai người đi bộ vào ngõ Kim, trời còn tối, ngõ chưa ai dậy, chỉ có tiếng chổi tre của bà quét rác ở đầu ngõ.
Ông Hàm đã dậy. Ông ngồi trên phản, radio bật nhỏ, tay cầm cái quạt nan. Ông quay mặt về phía cửa khi nghe tiếng chân.
– Hai đứa. – ông nói. – Sang sớm thế.
Thước ngồi xuống cạnh ông. Thao đứng ở cửa. Thước lấy chiếc đồng hồ trong túi ra, đặt vào lòng bàn tay ông. Ông Hàm nắm lấy nó, ngón cái miết lên mặt kính, lên viền vỏ, lên cái núm vặn, như người mù đọc chữ nổi. Ông biết nó là cái gì mà không cần nhìn.
– Ông ơi. – Thao nói. – Cháu hỏi ông một câu.
Ông Hàm không trả lời. Ông vẫn miết ngón tay lên vỏ đồng hồ.
– Ông vạch dấu vào nắp đáy khi nào ạ?
– Khi trả máy tận tay khách. – ông nói ngay. – Năm mươi sáu năm ông làm thế.
– Thế tháng Mười một năm bảy mươi sáu, ông trả nó tận tay ai?
Ông Hàm im. Cái quạt nan trên tay ông dừng lại. Radio đang đọc bản tin giá lúa, giọng phát thanh viên đều đều, rồi chuyển sang một bài hát chèo.
Thao đứng chờ. Thước ngồi im. Một phút. Hai phút.
Rồi từ đôi mắt đục như mặt nước có váng của ông, nước mắt chảy ra. Không có tiếng. Không có cái nhăn mặt nào. Ông vẫn ngồi thẳng, vẫn nhìn vào cái chỗ bên trái vai Thao, chỉ có nước mắt chảy xuống hai bên má hõm, chảy xuống cằm, nhỏ xuống cái áo may ô trắng.
– Ông hứa rồi. – ông nói.
Có thế thôi. Ông nói ba chữ ấy, rồi im. Thước đặt tay lên lưng ông. Thao bước vào, quỳ xuống trước phản, cầm lấy bàn tay ông đang nắm chiếc đồng hồ. Bàn tay ông lạnh, khô, những đốt ngón to như những đốt tre.
– Ông ơi. – Thao hỏi lần cuối. – Người ấy còn sống không ông?
Ông Hàm mở bàn tay ra. Chiếc đồng hồ nằm trong lòng bàn tay ông, kim giây xanh lam chạy đều, chậm hơn đồng hồ thiên hạ mười hai giây mỗi ngày.
– Thứ Hai nào ông cũng lên dây. – ông nói.
Hai người đi ra khỏi ngõ Kim lúc trời đã sáng hẳn. Thước cầm chiếc đồng hồ trong tay, không bỏ vào túi. Thao đi bên cạnh, hai tay đút túi áo khoác. Họ không nói gì cho đến khi về đến hiên tiệm may.
Thước mở tủ kính, treo chiếc đồng hồ lên cây đinh thứ ba. Cái thẻ bìa quay mặt ra ngoài.
Thao đứng nhìn nó. Rồi cô quay sang Thước, nói rất nhỏ, như sợ chính cái đồng hồ nghe thấy:
– Bà không được biết chuyện này.
– Biết chuyện gì?
Giọng bà Vóc. Ngay sau lưng cô.
— Hết chương 9 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe