AI Truyện
Chiếc đồng hồ số bốn mốt ở hiên tiệm may

💞 Ngôn tình

Đêm Trung thu ở làng nhuộm

Chiếc đồng hồ số bốn mốt ở hiên tiệm may · Chương 8/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 8: Đêm Trung thu ở làng nhuộm

Ông Bảy Lâm nhúng mẩu lụa hồng cam vào cái chậu nước giếng, nhấc lên, giơ ra trước nắng chiều. Rồi ông chửi con trai một tràng dài, đến mức con gà mái đang bới ở góc sân cũng chạy mất.

– Tao đã bảo mày nhuộm mẻ sau bằng nước giếng sau. – ông quát vọng vào nhà. – Giếng trước nhiều phèn. Mày lấy nước giếng trước, giờ người ta mang về đây, mày ra mà nhìn.

Trong nhà không ai ra. Chỉ có tiếng ti vi đang chiếu phim hoạt hình và tiếng trẻ con cười.

Ông Bảy quay lại, giọng dịu đi ngay, như chưa từng quát ai.

– Lỗi nhà tôi. Hai xấp này tôi tẩy rồi nhuộm lại cho cô, không lấy tiền. Nhưng phải ba nước, mỗi nước một tiếng, rồi xả, rồi hong. Cô với cậu chịu khó ngồi chờ đến tối.

Thao nhìn Thước. Thước nhún vai.

– Bà dặn chiều nay về sớm ăn cỗ Trung thu. – Thao nói.

– Thì mình ăn cỗ ở đây. – Ông Bảy chỉ vào cái mâm nhôm đặt trên chõng tre ở hiên. Trên mâm có một đĩa bưởi bóc múi xếp hình con chó, một đĩa hồng đỏ, mấy cái bánh nướng bánh dẻo, một nải chuối. – Nhà tôi đông, thêm hai đứa không chật.

Làng nhuộm nằm bên kia sông Đào, qua cầu Đò Quan rồi rẽ vào con đường đê nhỏ chạy giữa những cánh đồng lúa mùa đang uốn câu. Lúc Thước chở Thao qua cầu, mặt trời đã ngả về tây, nước sông màu đồng thau, mấy chiếc thuyền chở cát nằm im như những con trâu nước. Lúa hai bên đê ngả vàng ở ngọn, xanh ở gốc, gió thổi qua thì cả cánh đồng nghiêng một lượt như đám đông cùng quay đầu nhìn theo xe.

Nhà ông Bảy Lâm ở ngay đầu làng, có cái sân gạch rộng, ba cái bể nhuộm xây bằng xi măng, mấy hàng sào tre cao vút phơi lụa đủ màu: xanh lam, nâu non, vàng nghệ, tím than. Gió thổi, lụa bay phần phật như cờ. Mùi thuốc nhuộm nồng, hăng, lẫn với mùi rơm khô từ đống rơm sau nhà và mùi khói bếp đun bằng trấu.

Ông Bảy làm việc chậm và chắc. Ông thả hai xấp lụa hồng cam vào bể nước tẩy, lấy cái sào tre đảo đều, mắt nhìn đồng hồ treo ở cột hiên. Rồi ông pha thuốc nhuộm trong cái xô nhựa, lấy que khuấy, nhỏ một giọt lên mẩu vải trắng, đưa ra ánh sáng, nhìn, pha thêm, lại nhỏ.

– Ông pha bằng mắt ạ? – Thao hỏi.

– Bằng mắt. Công thức ghi trong sổ thì có, nhưng nước mỗi mùa mỗi khác, trời mỗi ngày mỗi khác. – Ông Bảy cười. – Thợ nhuộm như thợ may thôi cô ạ. Có số đo, nhưng cuối cùng phải nhìn người.

Hai người ngồi trên cái chõng tre ở hiên, chờ nước nhuộm thứ nhất. Vợ ông Bảy mang ra cho mỗi người một cái bánh nướng nhân thập cẩm cắt làm tư, một ấm chè xanh. Mấy đứa cháu ông Bảy, đứa lớn nhất chừng mười tuổi, đứa bé nhất còn chưa vững chân, chạy quanh sân với những cái đèn ông sao dán giấy bóng kính đỏ. Chúng cãi nhau xem đứa nào được cầm cái đèn kéo quân hình con cá chép.

Trời tối dần. Mặt trăng lên từ phía bên kia cánh đồng, tròn, to, vàng như cái lòng đỏ trứng vịt muối, rồi nhỏ dần, trắng dần khi lên cao. Đèn ông sao trong tay bọn trẻ đỏ lên một loạt.

– Ở trong Nam có rước đèn hông? – Thao hỏi.

– Có. Lồng đèn giấy kiếng, lồng đèn con cá, lồng đèn trái bưởi. Hồi nhỏ ba làm cho tôi cái lồng đèn hình cái đồng hồ, có kim xoay được. – Thước cười. – Tụi bạn chê xấu, hông đứa nào chịu chơi chung.

– Đúng là con nhà thợ đồng hồ.

– Còn cô? Hồi nhỏ chơi gì?

– Tôi chơi ma nơ canh. – Thao nói. – Bà cho tôi một cái ma nơ canh gãy tay, tôi lấy vải vụn quấn cho nó, ngày nào cũng thay một bộ. Tôi đặt tên nó là cô Mai. Đến năm tôi mười hai tuổi thì cô Mai có hơn ba trăm bộ áo.

– Giờ cô Mai đâu?

– Trên gác ba. Vẫn gãy tay.

Họ ngồi im một lúc, nghe tiếng sào tre đảo lụa trong bể và tiếng bọn trẻ hát bài rước đèn sai lời.

Gió đổi chiều. Mấy hàng lụa phơi trên sào tre ngoài sân bay ngược lên, xanh lam, nâu non, vàng nghệ, tím than, phần phật dưới ánh trăng như một dãy cờ không có hiệu. Thao nhìn chúng, rồi lật cuốn sổ vẽ ra, vẽ vội. Trời tối, cô không thấy nét bút.

Thước rút điện thoại, bật đèn pin, giơ lên cho cô. Anh không hỏi. Anh chỉ cầm đèn, nghiêng theo bàn tay cô.

– Cảnh mở màn. – Thao nói, không ngẩng lên. – Màn kéo lên, không có ai cả. Chỉ có lụa phơi kín sân khấu, gió quạt từ hai bên cánh gà. Rồi từ sau một tấm lụa, một cô thợ dệt bước ra, tay cầm con thoi. Không nói gì. Khán giả phải thấy gió trước khi thấy người.

– Vì vở tên là "Gió lụa"?

– Vì trong làng dệt, cái người ta thấy đầu tiên bao giờ cũng là lụa phơi. – Cô vẽ thêm một nét. – Người thì ở trong nhà, cúi đầu trên khung cửi.

Vợ ông Bảy đi ngang, bưng mâm bát ra giếng, nhìn hai người chụm đầu dưới cái đèn pin, cười hỏi: hai đứa là gì của nhau mà ngồi vẽ cả đêm thế. Thao bảo bạn ạ. Thước bảo hàng xóm ạ. Bà cười to hơn, bảo bạn với hàng xóm thì thường không cầm đèn cho nhau lâu thế.

Nước nhuộm thứ nhất xong lúc bảy giờ. Ông Bảy gọi hai người ra giúp vớt lụa. Lụa ướt nặng hơn người ta tưởng, mỗi xấp phải hai người cầm hai đầu, nhấc khỏi bể, để cho nước chảy ròng ròng xuống sân gạch, rồi thả vào bể nước xả. Thao cầm một đầu, Thước cầm đầu kia. Cô để ý thấy tay anh cầm lụa ướt chắc như kìm, không rung chút nào. Những việc lớn, việc nặng, tay anh vững. Chỉ có cái nhíp, cái ốc nhỏ bằng hạt cát, mới làm nó run.

Cô không nói gì.

Nước thứ hai. Rồi nước thứ ba. Trăng lên cao quá ngọn tre. Bọn trẻ đã chạy sang nhà hàng xóm phá cỗ. Ông Bảy ngồi hút thuốc lào ở đầu hiên, tiếng điếu kêu sòng sọc, khói bay lên thành một dải trắng trong ánh trăng.

Thao ngồi trên chõng tre, ôm đầu gối. Thước ngồi cách cô một khoảng bằng một cái mâm.

– Hôm nọ tôi mở cái hòm tôn trên gác ba. – Thao nói.

Cô không định kể. Nhưng trăng sáng quá, mà ở đây xa nhà quá, xa đến mức mọi điều cô giấu từ hôm thứ Ba tuần trước tự nhiên không cần giấu nữa.

– Cái hòm bà cô cấm? – Thước hỏi.

– Ừ. Tôi lên tìm rập cũ cho bà Ổn. Thấy rập thật. Bà không đốt, bà giữ hết. Rồi dưới đáy hòm có một cái áo dài.

Cô kể. Cái áo lụa màu mỡ gà, cổ cao ba phân, tay raglan, có cái chiết nhỏ ở đầu vai, may xong cả rồi. Chỉ có cái gấu tà trước là chưa vắt, còn đường lược chỉ đỏ mỗi mũi một phân rưỡi. Cục chì nhỏ trong gấu. Tấm ảnh một người con trai mặc quân phục đứng trước phông cây dừa.

– Áo cưới của bà. – cô nói. – Bà may cho đám cưới với một người trước ông tôi.

Thước không nói gì.

– Anh ấy tên Thụy. Bà gọi là anh Thụy. – Thao kéo vạt áo khoác trùm lên đầu gối. – Thợ máy nhà máy dệt. Người làng bên Thái Bình lên. Hứa cưới năm bảy mốt. Tháng Tư năm bảy hai đi bộ đội. Bà may áo để chờ, may dần, mỗi tháng một ít. May đến cái gấu thì giấy báo tử về. Năm bảy tư. Năm sau bà lấy ông.

Cô nói xong thì thấy Thước đã quay hẳn người sang nhìn cô. Trong ánh trăng mặt anh trắng bệch, như mặt người vừa bước ra từ chỗ tối.

– Anh làm sao thế?

– Hông sao. – Anh nói. Rồi anh hỏi, rất chậm: – Bà cô có nói họ của anh ấy hông?

– Không. Bà chỉ gọi anh Thụy.

– Ảnh làm thợ máy?

– Ừ. Sao thế?

Thước không trả lời. Anh quay mặt đi, nhìn ra ba cái bể nhuộm dưới trăng. Nước trong bể đen như mực, mặt nước in một vầng trăng thứ hai, rồi một vầng thứ ba, rồi thứ tư, mỗi bể một vầng.

– Ông Bảy ơi. – anh gọi to, không quay lại nhìn Thao. – Lụa vớt được chưa ông?

Lụa được vớt lên lúc chín giờ. Hai xấp lụa hồng, ướt sũng, được vắt sơ rồi vắt lên hai cây sào tre ngoài sân. Dưới ánh trăng, Thao không phân biệt được màu. Nó có thể là hồng đào, có thể là hồng cam, có thể là bất cứ màu gì.

– Ông ơi, màu đúng chưa ông?

– Màu lụa phải xem dưới nắng sáng mai. – Ông Bảy gõ cái điếu cày vào chân chõng. – Ban đêm trăng nó nói dối, cô ạ. Lụa nào dưới trăng cũng đẹp. Mai tôi phơi khô, tôi xem, đúng thì chín giờ con tôi chở sang tận nhà cho cô. Sai thì tôi nhuộm lại, tôi chở sang muộn hơn.

– Nhỡ sai nữa thì sao ạ?

– Thì tôi đền cô lụa mới. – Ông nhìn cô, cười. – Nhưng không sai đâu. Lần này tôi nhuộm, không phải thằng con tôi.

Hai người chào về. Vợ ông Bảy dúi vào tay Thao một túi bánh nướng, bảo mang về cho bà. Bọn trẻ đứng ở cổng vẫy đèn ông sao.

Đường về trăng sáng đến mức không cần bật đèn xe. Cánh đồng lúa hai bên đê bạc trắng như phủ một lớp sương. Thước đi chậm. Thao ngồi sau, túi bánh nướng trong lòng, nhìn cái lưng anh. Anh không nói một câu nào suốt từ lúc ra khỏi làng.

Qua cầu Đò Quan, thành phố hiện ra với những dãy đèn vàng, những ngọn tháp, tiếng trống múa lân từ đâu đó vọng lại. Phố Hàng Chỉ đông người, trẻ con cầm đèn chạy dọc vỉa hè, các nhà bày cỗ ra cửa. Từ đầu phố đã nhìn thấy nhà bà Vóc: cửa xếp kéo một nửa, ánh đèn trong tiệm hắt ra, bóng bà ngồi ghế mây ở cửa.

Thước dừng xe ở góc phố, cách nhà chừng hai chục mét. Anh tắt máy nhưng không xuống. Thao chờ anh nói gì, nhưng anh chỉ ngồi im, hai tay đặt trên tay lái.

– Anh làm sao thế? Từ lúc ở làng ra anh lạ lắm.

Thước quay đầu lại. Ánh đèn đường chiếu một nửa mặt anh.

– Mai cô dậy sớm được hông? – anh hỏi.

– Mai là thứ Bảy.

– Dạ. Sáu giờ. – Anh nói. – Có cái này tôi phải cho cô xem lại. Lần trước cô xem rồi, mà tôi chưa hiểu. Giờ tôi hiểu rồi.

— Hết chương 8 —

Mục lục Chiếc đồng hồ số bốn mốt ở hiên tiệm may

  1. 1Thứ Hai lên dây12 phút đọc
  2. 2Chín cái áo cho nhà bà Liễu11 phút đọc
  3. 3Ông Hàm không nhìn thấy kim10 phút đọc
  4. 4Phong bì của mẹ10 phút đọc
  5. 5Đường lược chỉ đỏ10 phút đọc
  6. 6Buổi thử áo thứ Bảy10 phút đọc
  7. 7Hội hưu trí nhà máy dệt10 phút đọc
  8. 8Đêm Trung thu ở làng nhuộm10 phút đọc
  9. 9Dấu khắc tháng Mười một10 phút đọc
  10. 10Một lời nói dối về khách10 phút đọc
  11. 11Bàn tay trên mặt bàn cắt9 phút đọc
  12. 12Tấm ảnh trên bậc hiên10 phút đọc
  13. 13Sân ga lúc chín giờ bốn mươi10 phút đọc
  14. 14Tà áo đứt chỉ trước giờ rước dâu10 phút đọc
  15. 15Người từ Sài Gòn10 phút đọc
  16. 16Bản vẽ thứ bảy10 phút đọc
  17. 17Đêm ở hành lang khoa chấn thương10 phút đọc
  18. 18Hai mươi tám năm ở hành lang10 phút đọc
  19. 19Cục chì trong gấu áo9 phút đọc
  20. 20Hợp đồng đặt cọc11 phút đọc
  21. 21Thứ Hai không ai lên dây11 phút đọc
  22. 22Ông Tư lụa10 phút đọc
  23. 23Bậc thềm nhà hát10 phút đọc
  24. 24Mẫu thử số một9 phút đọc
  25. 25Mưa chiều Bảo Lộc11 phút đọc
  26. 26Người đứng dưới cột đèn10 phút đọc
  27. 27Tháng Chạp10 phút đọc
  28. 28Bà đã nhìn thấy10 phút đọc
  29. 29Lời của ông Khoan11 phút đọc
  30. 30Số bốn mốt10 phút đọc
  31. 31Tiền cọc gấp đôi9 phút đọc
  32. 32Đêm tổng duyệt10 phút đọc
  33. 33Chuyến tàu ngày ông Công ông Táo10 phút đọc
  34. 34Cánh cửa10 phút đọc
  35. 35Giao thừa phố Hàng Chỉ10 phút đọc
  36. 36Thứ Hai đầu năm10 phút đọc

Về truyện này

Chiếc đồng hồ số bốn mốt ở hiên tiệm may là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →