Chương 34: Cánh cửa
Mười giờ bốn mươi, theo đồng hồ của bà, bà buông tấm rèm.
Bà không kéo nó vào thêm. Bà không vén nó ra. Bà chỉ buông tay, để cái khe hai ngón tay khép lại, rồi quay người đi qua Thao, đến cái móc sau cửa phòng, lấy cái áo bông màu xanh rêu của ông Khoan khoác vào.
– Bà… – Thao nói.
– Mày ở trên này. – bà nói.
Rồi bà dừng lại ở cửa phòng, như nghe thấy chính câu mình vừa nói. Bà quay lại.
– Không. – bà nói. – Mày xuống. Mày đứng ở cửa. Mày không ra.
Bà đi xuống cầu thang. Từng bậc. Tay phải vịn tay vịn, tay trái nắm vạt áo bông. Thao đi sau. Tầng một tối, chỉ có ánh đèn đường lọt qua khe cửa xếp. Mẹ đứng ở chân cầu thang từ lúc nào, áo ngủ, tóc xoã. Mẹ nhìn bà đi qua. Mẹ không nói gì. Mẹ lùi sang một bên.
Bà đến cửa ngách. Bà đặt tay lên cái then gỗ.
Thao thấy bàn tay bà dừng lại ở đó. Một giây. Hai giây. Bàn tay phải mới tháo bột ba tháng, gầy, trắng, nắm lấy cái then gỗ đã mòn nhẵn vì năm mươi năm người ta mở ra đóng vào.
Cái cửa này, Thao nghĩ. Năm bảy bảy bà đứng sau nó đến sáng, bế một đứa con, không mở. Năm chín tám bà mở nó, để nói dối, rồi đóng.
Bà kéo then. Bà mở cửa.
Gió bấc ùa vào, lạnh. Bà bước ra hiên. Bà đi qua quầy kính, qua cái ghế đẩu dựng ngược, đến mép bậc hiên. Bà bước xuống bậc thứ nhất. Bậc thứ hai. Xuống vỉa hè.
Thao đứng ở cửa ngách. Mẹ đến đứng sau lưng cô. Hai mẹ con không bước ra.
Bên kia đường, ông già dưới cột đèn rút hai tay ra khỏi túi quần.
Bà đi qua lòng đường. Chậm. Phố Hàng Chỉ gần mười một giờ đêm hai mươi ba tháng Chạp không có xe nào. Chỉ có tiếng dép của bà trên mặt nhựa đường, và tiếng gió thổi một tờ giấy đỏ của ai đốt vàng mã chiều nay lăn lóc trên vỉa hè.
Bà dừng lại trước ông, ở mép vùng sáng tròn dưới cột đèn.
Phố hẹp. Đêm im. Thao nghe được.
– Anh đến muộn. – bà nói.
Ông Thụy nhìn bà. Dưới ánh đèn rọi thẳng từ trên xuống, Thao thấy mặt ông rõ từng nét, như bà đã thấy năm bảy sáu từ sau tấm rèm.
– Bảy phút? – ông hỏi.
– Năm mươi năm.
Ông cười. Cái miệng mím lại.
– Đồng hồ nhà em vẫn nhanh. – ông nói. – Anh nghe anh Hàm nói.
– Em để nó cho anh nhìn mà đi. – bà nói. – Anh đi rồi thì em quên vặn lại.
Hai người đứng im. Gió thổi cái khăn quàng xanh lam của ông lệch sang một bên.
– Em nhìn thấy anh. – bà nói. Giọng bà không run. Bà nói như đọc một số đo. – Đêm ấy. Em nhìn thấy anh từ lúc anh đứng ở đây. Em không xuống.
– Anh Hàm nói rồi.
– Em kéo rèm.
– Anh biết. – ông nói. – Anh tưởng em kéo cho con ngủ. Năm mươi năm anh tưởng thế. Anh Hàm gọi điện, anh mới biết. – Ông ngừng. – Rồi anh nghĩ: thế thì cũng đúng. Em có con, em có anh Khoan. Em đứng sau rèm một tiếng. Anh đứng dưới này một tiếng. Anh Khoan đứng ở hiên một tiếng. Ba người cùng chờ. Em chọn. Có người phải chọn.
Bà không trả lời.
– Anh Khoan là người tốt. – ông Thụy nói.
– Em biết rồi. – bà nói. – Em biết muộn. Tháng trước em mới biết.
Bà đưa tay lên. Thao thấy bà nắm lấy hai đầu cái khăn quàng cổ xanh lam của ông, kéo lại cho ngay, quấn thêm một vòng, chỉnh cái nút cho nó nằm vào giữa ngực. Chỉnh một lần. Rồi chỉnh lần nữa. Như một người thợ may chỉnh cổ áo cho khách trước khi khách ra khỏi tiệm.
Ông Thụy đứng im để bà chỉnh.
Rồi bà buông tay. Bà lùi lại một bước, ra khỏi vùng sáng.
– Thôi. – bà nói. Giọng bà đã khác. Đã là giọng bà ngồi ghế mây, giọng bà bảo khách đứng thẳng lên. – Anh về nhà anh Hàm đi. Khuya rồi. Gió. Anh bảy mươi tám tuổi rồi chứ có phải hai mươi tư đâu mà đứng đường.
– Ừ.
– Sáng mai tôi trả anh cái đồng hồ.
Ông Thụy nhìn bà. Ông nghe thấy chữ "tôi". Thao thấy ông nghe thấy.
– Ừ. – ông nói. – Thôi.
Bà quay đi. Bà đi qua lòng đường, lên vỉa hè, lên hai bậc hiên, đi qua quầy kính, đến cửa ngách. Thao và mẹ lùi vào trong. Bà bước qua ngưỡng cửa.
Bà không đóng cửa ngay. Bà đứng đó, tay đặt lên cánh cửa, quay lại nhìn ra phố một lần nữa. Bên kia đường, ông Thụy đã đi về phía đầu ngõ Kim, chậm, vai trái thấp hơn vai phải, cái khăn quàng xanh lam nằm ngay ngắn giữa ngực.
Bà đợi đến khi ông rẽ vào khe ngõ. Rồi bà mới đóng cửa.
Sáng Chủ nhật, hai mươi tư tháng Chạp, bảy giờ.
Thước đẩy xe lăn của ông Hàm từ ngõ Kim ra. Ông Thụy đi bên cạnh, tay vịn vào thành xe lăn. Chị Hiên và chú Quân đi sau. Chị Hằng bán xôi đứng ở đầu ngõ, bỏ cả hàng, nhìn theo đoàn người như nhìn một đám rước.
Xe lăn dừng trước quầy kính. Ông Hàm ngồi đúng chỗ ông ngồi năm mươi sáu năm, chỉ là thấp hơn cái ghế đẩu một chút, và không thấy gì trước mặt.
Bà đứng ở bậc cửa tiệm. Bà mặc áo dài nâu, cái áo bà mặc đi xem "Gió lụa". Tóc búi. Kẹp ba lá. Mẹ đứng sau bà. Thao đứng cạnh mẹ.
Bà bước ra hiên. Bà rút cái chìa khoá trong túi áo bông của ông Khoan, cái áo bà vẫn khoác ngoài áo dài. Bà mở tủ kính. Cánh tủ kêu kẹt một cái.
Bà đưa tay lên hàng đinh trên cùng. Cây đinh thứ ba. Bà nhấc chiếc đồng hồ mặt ngà xuống, cả cái thẻ bìa vàng buộc dây gai.
Bà đi đến trước ông Thụy. Bà đặt chiếc đồng hồ vào lòng bàn tay ông.
– Trả tận tay. – bà nói.
Ông Thụy cầm chiếc đồng hồ. Ông không lên dây ngay. Ông nhìn nó một lúc rất lâu, ngón cái miết lên mặt kính, lên viền vỏ, như ông Hàm vẫn miết. Rồi ông lật nó lại.
– Thằng Thước. – ông nói. – Cho ông mượn con dao.
Thước đưa con dao lưỡi dẹt đầu vát. Ông Thụy tì cổ tay lên mặt kính tủ, bẩy. Tay ông không run. Tách một tiếng. Nắp đáy bật lên.
Ông lật mặt trong ra dưới nắng sáng. Miếng giấy lót tròn màu lá chè khô. Nét bút mực xanh nhỏ li ti, cẩn thận, đã nhoè.
Ông đọc to:
– Bốn mốt. Mười hai, bốn, bảy hai. Thay trục lắc. Lau dầu.
Rồi ông bật cười. Cười thành tiếng.
– Anh Hàm vẫn viết chữ ấy. – ông nói. – Chữ "lau" anh viết thiếu cái móc từ hồi ấy. Năm mươi tư năm không sửa.
Ông Hàm ngồi trên xe lăn, mặt quay về phía tiếng cười, nhìn lệch sang bên trái.
– Chữ tôi viết thế. – ông Hàm nói. – Anh đọc được là được.
Ông Thụy nghiêng cái nắp. Bên cạnh miếng giấy lót, sát mép thép, vết vạch nhỏ như sợi tóc. H 11.76. Ông nhìn nó, rồi đậy nắp lại.
Ông lên dây. Ba mươi vòng. Thao đếm theo tiếng núm vặn rè rè. Bà đếm theo, môi mấp máy. Ông đưa nó lên tai nghe. Rồi ông cúi xuống, cầm lấy cổ tay trái của ông Hàm.
– Anh Thụy. – ông Hàm nói. – Anh làm gì đấy?
Ông Thụy không trả lời. Ông vòng sợi dây da nâu đã nứt qua cổ tay gầy của ông Hàm, luồn vào khoá, cài lại. Chiếc đồng hồ mặt ngà nằm trên cổ tay trái ông Hàm, đúng chỗ năm mươi năm qua chưa từng có đồng hồ nào, vì ông là thợ đồng hồ mà ông không đeo.
– Anh lên dây năm mươi năm. – ông Thụy nói. – Nó là của anh.
Ông Hàm đưa tay phải lên, sờ vào chiếc đồng hồ trên cổ tay trái mình. Ông không nhìn thấy nó. Ông sờ mặt kính, sờ cái núm vặn, sờ cái vỏ thép mòn. Rồi ông đưa cổ tay lên sát tai.
Ông nghe.
– Trả tận tay. – Thước nói, khẽ. – Đúng luật.
Anh quỳ xuống trước xe lăn. Anh xin phép ông nội. Anh tháo chiếc đồng hồ khỏi cổ tay ông, mở nắp đáy, đặt cổ tay mình lên cái gối nâu hồng trên mặt kính. Anh thở ra, rồi cầm cái kim mũi nhọn, vạch một dòng nhỏ bên dưới vết vạch của ông nội:
T 1.27.
Rồi anh đậy nắp, đeo lại vào tay ông.
Bà quay vào trong.
Một lúc sau bà ra, ôm trên tay cái bọc vải màn. Bà đặt nó lên bàn cắt, mở ra. Cái áo cưới lụa màu mỡ gà, cổ cao ba phân, tay raglan, cái chiết nhỏ ở đầu vai. Gấu tà trước còn đường lược chỉ đỏ, mỗi mũi một phân rưỡi, ba mũi gần nách trái là chỉ mới của Thao khâu lại hồi tháng Mười một.
Ông Thụy đứng ở bậc cửa, nhìn vào. Ông không bước vào tiệm. Ông chỉ nhìn.
Bà tìm cái nút chỉ ở đầu đường lược. Bà kéo. Sợi chỉ đỏ trượt ra khỏi lụa, mũi này nối mũi kia, một phân rưỡi, một phân rưỡi, dọc hết đường gấu. Không vướng chỗ nào, không đứt chỗ nào. Rồi nó ra hẳn khỏi cái áo, nằm cuộn lại trên mặt bàn cắt gỗ lim như một sợi tóc đỏ dài.
Chỉ đỏ thì rút ra không sót, bé Vóc mười ba tuổi đã bảo bà Ổn như thế.
Bà đưa cái áo cho Thao.
– Mày vắt gấu đi. – bà nói. – Áo may rồi thì phải xong.
Thao cầm cái áo. Cô ngồi xuống ghế đẩu ở bàn cắt, xâu kim chỉ lụa màu mỡ gà, gập mép gấu theo nếp cũ đã hằn hơn năm mươi năm, rồi vắt. Mũi vắt bà dạy: lấy một sợi ở mặt phải, một phân rưỡi ở mặt gấp, để từ ngoài nhìn vào không thấy chỉ.
Cô vắt chậm. Không ai giục. Bà ngồi ghế mây nhìn. Mẹ đứng cạnh bàn cắt nhìn. Ngoài hiên, ông Hàm ngồi xe lăn, cổ tay trái áp lên tai. Ông Thụy đứng ở bậc cửa. Thước ngồi trên bậc hiên. Chú Quân và chị Hiên đứng dưới vỉa hè.
Một tiếng sau, cô thắt nút, cắn chỉ.
Tối hôm ấy, khách đã về ngõ Kim ăn cơm nhà ông Hàm. Thao đã treo cái áo cưới vắt gấu xong lên thanh treo cao trong tiệm. Bà đi đến bức tường có cái đồng hồ quả lắc.
Bà mở cánh kính.
– Chị. – bà gọi mẹ. – Chị đưa tay đây.
Mẹ đi đến. Mẹ chìa cổ tay trái ra, chiếc đồng hồ nhỏ mặt tròn của ông Khoan, giấy lót của chú Quân, vạch dấu của Thước, đúng giờ, không nhanh không chậm.
Bà nhìn chiếc đồng hồ trên cổ tay con gái. Tám giờ mười hai.
Bà đưa ngón trỏ lên cái kim phút của đồng hồ quả lắc. Bà đẩy nó lùi lại. Một vạch. Hai vạch. Ba. Bốn. Năm. Sáu. Bảy.
Tám giờ mười hai.
Bà đóng cánh kính lại. Quả lắc đồng đung đưa. Trái, phải. Trái, phải. Đúng giờ thiên hạ.
— Hết chương 34 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe