Chương 36: Thứ Hai đầu năm
Tiếng lách cách ngoài hiên vang lên đúng lúc cái đồng hồ quả lắc dưới tiệm điểm năm giờ rưỡi, và lần này Thao biết nó điểm đúng.
Cô nằm im nghe. Lách cách. Một tiếng chìa xoay trong ổ. Rồi tiếng cánh tủ kính kêu kẹt một cái.
Sáng thứ Hai, mồng ba Tết. Ngoài cửa sổ trời còn tối, sương xuống dày, đèn đường bên kia phố là một quầng vàng nhoè. Cả phố Hàng Chỉ còn ngủ, những cành đào cắm trước cửa các nhà chưa ai ra tưới.
Thao khoác cái áo len xám tro cài khuy vải, xuống cầu thang bằng chân trần. Tầng một tối, mùi hương trầm từ bàn thờ trên gác còn đọng lại sau ba ngày Tết, lẫn với mùi phấn may, mùi vải mới. Cô đi qua bàn cắt. Cây thước gỗ của bà dựng ở góc bàn, chỗ cũ, vạch sơn đen đã mòn.
Cô cầm nó lên. Không phải để làm gậy. Chỉ là tay cô quen.
Cửa ngách khép hờ. Cô mở ra.
Thước ngồi xổm trước quầy kính, cái đèn pin nhỏ ngậm trong miệng, hai tay thò vào trong tủ, đúng như cái sáng thứ Hai tháng Chín. Anh đang lấy đồ nghề ra, bày lên tấm nỉ xanh: nhíp to, nhíp nhỏ, tua vít đầu dẹt bé như que tăm, cái kính lúp đeo mắt có quai cao su. Cái giá đỡ cổ tay bằng gỗ lim nằm ở giữa mặt tủ, sáng bóng, cái gối nâu hồng lót bên dưới.
Rồi anh đứng dậy. Anh nhả cái đèn pin ra tay. Anh giơ tay phải lên, cao, về phía tấm ván gỗ sau tủ kính, về phía hàng đinh trên cùng.
Cây đinh thứ ba.
Tay anh dừng lại giữa chừng. Cây đinh trống. Không có chiếc đồng hồ mặt ngà. Không có cái thẻ bìa vàng buộc dây gai. Chỉ có một vệt gỗ sáng hơn màu ván xung quanh, hình chữ nhật nhỏ.
Thước đứng như thế, tay giơ lên, rất lâu. Mấy tháng nay, sáng thứ Hai nào tay anh cũng đi đường ấy. Bàn tay biết đường trước khi cái đầu nhớ ra là đường đã hết.
Thao đứng ở cửa ngách, sau lưng anh, cây thước gỗ trong tay, chân trần trên gạch lạnh.
Anh không quay lại. Nhưng anh biết cô đứng đó.
– Quen tay. – anh nói.
– Ừ.
Anh hạ tay xuống. Anh nhìn cây đinh trống thêm một lúc. Rồi anh quay lại, thấy cô cầm cây thước, và anh cười.
– Lại cầm thước.
– Lại là anh.
– Dạ. – anh nói, giơ cả hai tay lên ngang vai như người ta giơ tay trong phim. – Tôi tên Thước.
Thao bật cười, dựng đầu thước xuống gạch.
Cửa sổ tầng hai mở. Không đánh rầm như cái sáng tháng Chín. Mở nhẹ. Bà thò đầu ra, tóc chưa búi, cái khăn len quàng cổ. Tấm rèm hoa cúc vàng vẫn buộc gọn một bên bằng sợi dây vải.
– Cái Thao. – bà gọi. – Để nó lên dây.
– Bà ơi, anh ấy đâu còn cái gì mà lên dây.
– Cái trong tiệm. – bà nói. – Thứ Hai rồi. Nó lên dây cái trong tiệm.
Cửa sổ khép lại.
Thước vào tiệm. Anh kéo cái ghế đẩu đến dưới bức tường có đồng hồ quả lắc, nhưng không trèo lên. Bà đã dặn: ở nhà này không ai trèo ghế nữa. Anh đứng thẳng, với tay, vừa tới. Anh mở cánh kính. Anh tra cái chìa lên dây vào lỗ trên mặt số, vặn. Tiếng cót kêu ken két, khác hẳn tiếng rè rè của cái núm đồng hồ đeo tay. Anh đếm thầm.
Thao đứng cạnh bàn cắt, nhìn anh làm. Cái quả lắc đồng đung đưa sau cánh kính. Trái, phải. Kim phút chỉ năm giờ ba mươi tư. Năm giờ ba mươi tư của thiên hạ.
Năm tháng trước, cũng ở chỗ này, anh đứng nhìn cái đồng hồ này như nhìn một cái máy hỏng mà người ta không cho mình sửa.
Anh đóng cánh kính. Anh quay lại.
– Đúng giờ. – anh nói.
– Đúng giờ.
Bà xuống lúc sáu giờ. Đúng sáu giờ. Bà đã búi tóc, kẹp cái kẹp ba lá, mặc áo cánh nâu, khoác cái áo bông xanh rêu của ông Khoan. Bà ngồi xuống ghế mây cạnh bàn cắt.
– Cậu ngồi đây. – bà hất cằm về phía cái ghế đẩu. – Cái Thao nấu bát mì. Hai quả trứng.
– Dạ cháu ăn gì cũng được bà.
Bà nhìn anh. Anh không xưng con. Lần đầu tiên từ tháng Chín, câu đầu tiên trong ngày anh xưng cháu, không phải sửa.
Bà không khen. Bà chỉ gật.
Thao đứng trong bếp đập trứng, nghe tiếng hai người ngoài tiệm. Bà hỏi ông Hàm đêm qua ngủ được không. Thước bảo ông dậy lúc ba giờ, gọi điện vào Bảo Lộc, hai ông nói chuyện nửa tiếng, ông Thụy hỏi còn chạy không, ông Hàm áp cổ tay vào điện thoại cho ông Thụy nghe.
– Hai ông ấy bây giờ gọi điện. – bà nói. – Bốn mươi chín năm viết hai chữ, bây giờ gọi nửa tiếng.
– Dạ.
– Già rồi mới biết nói. – bà nói. Thao nghe trong giọng bà có cái gì đó như cười.
Cô bưng hai bát mì ra. Một bát cho Thước, một bát cho bà. Bà không ăn ngay. Bà thò tay vào túi áo bông, lấy ra một cái chìa khoá sắt nhỏ, đen bóng vì tay người cầm, buộc vào một mẩu dây gai.
– Chìa cửa ngách. – bà nói, đặt nó lên mặt bàn cắt, trước mặt Thao. – Mày ký với nhà hát rồi thì mày cầm cái này.
– Cháu có chìa rồi bà.
– Chìa mày là chìa đánh thêm. – bà nói. – Cái này là chìa cụ Nết. Ông Khoan cầm nó ba mươi lăm năm. Tao cầm từ năm ông mày mất.
Thao cầm cái chìa lên. Nó nặng hơn cô tưởng.
– Thứ Sáu mày về thì mày tự mở. – bà nói. – Đừng đứng ngoài gọi. Đêm hôm đứng ngoài cửa gọi, người trong nhà nghe thấy mà không xuống thì khổ cả hai.
Thao không nói gì. Cô buộc mẩu dây gai vào khuy áo len, như bà vẫn buộc chìa vào khuy áo cánh.
Thước cúi xuống bát mì. Lúc anh cầm đôi đũa, Thao thấy tay anh hơi khựng lại một chút trên miệng bát. Rồi anh tì cổ tay xuống mép bàn cắt, thở ra, gắp. Bà nhìn thấy. Bà không nói gì. Bà cầm đũa lên, ăn.
Bảy giờ, mẹ xuống.
Mẹ mặc cái áo dài Tết Thao may, lụa màu tím than ông Bảy Lâm nhuộm, cổ cao ba phân. Không phải raglan. Thao đã định may raglan cho mẹ, mẹ bảo thôi, mẹ không phải bà. Thế là cổ cao, tay liền, chiết eo vừa. Nhưng cái chiết nhỏ ở đầu vai thì cô vẫn cắt, chéo bốn mươi lăm độ. Mẹ không biết nó ở đó. Mẹ chỉ bảo cái áo này mặc vào giơ tay lên được, lạ thế.
Trên cổ tay trái mẹ, chiếc đồng hồ nhỏ mặt tròn.
Hôm qua mẹ bảo sáng mồng ba nhà mình mời ông Hàm sang ăn sáng, bảy giờ. Mẹ nói "nhà mình mời", không nói ai mời ai. Thao hiểu. Bà hiểu. Bà bảo ừ, bảy giờ.
Mẹ bày bàn. Bánh chưng cắt bằng lạt giang, giò lụa, dưa hành, mấy cái bánh cốm bà Liễu mang sang chúc Tết từ mồng hai. Mẹ xếp sáu cái bát, sáu đôi đũa.
Bảy giờ. Đồng hồ quả lắc điểm bảy tiếng.
Không có ai.
Mẹ đứng ở bậc cửa tiệm, nhìn ra phố. Bà ngồi ghế mây. Thao đứng cạnh bàn cắt. Thước đã ra hiên, ngồi sau quầy kính, chờ.
Bảy giờ hai phút. Bảy giờ bốn phút. Mẹ nhìn chiếc đồng hồ trên cổ tay. Thao thấy mẹ nhìn nó. Mẹ không nói gì.
Bảy giờ sáu phút.
Thao nghĩ đến mẹ năm hai mươi hai tuổi, ngồi ở mép giường, nhìn cái đồng hồ này trên cổ tay, chín giờ hai mươi, chín giờ ba mươi, chín giờ bốn mươi. Nghĩ đến bà năm hai mươi hai tuổi, vặn cái đồng hồ quả lắc nhanh bảy phút để một người con trai nhìn nó mà đi cho kịp ca. Nghĩ đến cả cái nhà này, năm mươi tư năm, sống trước thiên hạ bảy phút, như sợ nếu chậm một chút thì sẽ lỡ mất ai.
Bảy giờ bảy phút.
Ở đầu khe ngõ Kim có tiếng bánh xe lăn lạch cạch trên mặt gạch.
Chú Quân đẩy. Ông Hàm ngồi trên xe lăn, mặc bộ com lê màu ghi, khăn len quàng cổ, cổ tay trái có chiếc đồng hồ mặt ngà. Xe lăn đi chậm, vì ngõ hẹp, vì gạch vỡ, vì chị Hằng bán xôi đứng ở đầu ngõ giữ chú Quân lại chúc Tết mất mấy phút.
Xe lăn dừng trước bậc hiên.
– Muộn rồi. – chú Quân nói, ngẩng lên nhìn mẹ. Chú cười, cái cười hơi ngượng, như người biết mình có lỗi mà không biết nói thế nào. – Bảy phút. Anh xin lỗi.
Mẹ nhìn chiếc đồng hồ trên cổ tay mình. Rồi mẹ nhìn chú.
Mẹ không nói gì. Mẹ bước xuống bậc hiên, cầm lấy một bên tay vịn xe lăn.
– Anh nhấc bánh trước lên. – mẹ nói. – Tôi đẩy.
Hai người cùng đưa xe lăn qua hai bậc hiên, qua quầy kính, qua cửa ngách, vào tiệm. Ông Hàm ngồi trên xe, quay mặt về phía tiếng thở của bà.
– Cô Vóc. – ông nói. – Chúc mừng năm mới.
– Anh đến muộn. – bà nói.
– Bảy phút. – ông Hàm nói.
Bà nhìn cái đồng hồ quả lắc trên tường. Bảy giờ bảy phút. Đúng giờ thiên hạ.
– Thì vào ăn đi. – bà nói. – Bánh chưng nguội bây giờ.
Thao đứng ở cửa ngách, nhìn vào. Sáu người quanh một cái bàn tròn kê cạnh bàn cắt gỗ lim. Mẹ gắp bánh chưng cho ông Hàm. Chú Quân rót nước. Bà ngồi thẳng như có cây thước dọc lưng, cái tay phải cầm đôi đũa, không run.
Thước ra hiên đứng cạnh cô.
Trời đã sáng. Sương tan. Bên kia phố, chị bán bánh cuốn ngày Tết không ra hàng, cái góc vỉa hè trống trơn. Cái cột đèn đã tắt. Một ông đạp xích lô đi qua, chở một cành đào to, nhìn hai người đứng ở hiên, một người cầm cây thước gỗ, một người cầm đèn pin, rồi đạp tiếp.
Thao vẫn đứng chân trần. Cô rụt một bàn chân lên mu bàn chân kia.
– Em vào đi đôi dép đi. – Thước nói. – Ra ngoài người ta lại bảo nhà này hết dép.
Cô quay sang nhìn anh. Anh nhìn lên tấm ván gỗ sau tủ kính, lên hàng đinh trên cùng, lên cây đinh thứ ba trống. Ở đó có cái vệt gỗ sáng hơn hình chữ nhật nhỏ, chỗ năm mươi tư năm có một cái thẻ bìa vàng treo che bụi.
Gió từ ngoài phố lùa vào hiên. Cây đinh trống không có gì để đung đưa.
Trong tiệm, cái đồng hồ quả lắc chạy đều. Trái, phải. Trái, phải.
— Hết —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe