AI Truyện
Chiếc đồng hồ số bốn mốt ở hiên tiệm may

💞 Ngôn tình

Ông Hàm không nhìn thấy kim

Chiếc đồng hồ số bốn mốt ở hiên tiệm may · Chương 3/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 3: Ông Hàm không nhìn thấy kim

Mồng một tháng Tám, bà Vóc cúng xong thì gỡ đĩa xôi gấc trên bàn thờ xuống, lấy tay lành vun lại cho tròn, đặt vào cái cặp lồng nhôm, đưa cho Thao.

– Mang sang ông Hàm.

– Sao bà không sang?

– Tay thế này sang làm gì. Để ông ấy phải đứng dậy rót nước cho à?

Thao cầm cặp lồng đi. Ngõ Kim nằm ngay sau dãy phố Hàng Chỉ, lối vào là một khe hẹp giữa hàng bán chổi lông gà và tiệm cắt tóc, hai người đi ngược chiều thì một người phải nép. Hồi bé Thao chạy qua cái ngõ này hàng nghìn lần, đi mua xôi chị Hằng, đi gọi ông Hàm sang ăn cỗ, đi nhặt mấy cái bánh răng ông bỏ đi về chơi ô ăn quan. Bây giờ ngõ vẫn thế, chỉ có tường rêu dày hơn và những sợi dây điện chằng chịt hơn trên đầu.

Nhà ông Hàm ở cuối ngõ, có một cái sân nhỏ lát gạch đỏ, một giàn trầu không bà Nụ trồng từ hồi bà còn sống, bây giờ không ai hái nên lá to bằng bàn tay. Cửa mở. Tiếng radio vọng ra, một giọng đọc bản tin thời tiết: Bắc Bộ ngày nắng, chiều tối có mưa rào rải rác.

Thao bước lên bậc. Chưa kịp gọi thì từ trong nhà đã có tiếng:

– Cái Thao đấy à.

Ông Hàm ngồi trên phản gỗ, lưng tựa vách, hai bàn tay đặt trên đầu gối. Ông mặc áo may ô trắng, quần âu cũ đã sờn ở gối, chân đi đôi tất len dù trời tháng Chín còn nóng. Ông quay mặt về phía cửa, nhưng mắt không nhìn vào Thao. Mắt ông nhìn vào một chỗ bên trái cô, ngang vai.

– Sao ông biết cháu?

– Mày đi dép lê, kéo gót chân trái. Bà mày ngày xưa cũng thế. – Ông vỗ vỗ xuống phản. – Ngồi đây. Mang gì sang đấy?

– Xôi gấc ạ. Bà cúng mồng một.

– Ừ. Cô Vóc cúng mồng một năm mươi năm không bỏ lần nào. – Ông đưa tay ra, Thao đặt cặp lồng vào tay ông. Ông mở nắp, đưa lên mũi ngửi. – Xôi chị Hằng. Nếp cái hoa vàng. Năm nay chị ấy cho nhiều đỗ hơn.

Thao ngồi xuống mép phản. Từ chỗ này cô nhìn rõ mặt ông. Ông gầy đi nhiều so với Tết năm ngoái. Hai bên má hõm xuống, mắt đục một lớp mỏng như mặt nước có váng. Nhưng bàn tay thì vẫn thế: các đốt ngón tay to, móng cắt sát, đầu ngón trỏ tay phải có một vết chai dẹt, chỗ năm mươi năm tì cái nhíp.

– Mắt ông thế nào rồi ông?

– Mắt thì nhìn mày thấy cái viền. – Ông giơ tay vẽ một vòng tròn trong không khí. – Cái tóc, cái vai, cái tay áo. Còn giữa mặt mày thì là một cái lỗ. Bác sĩ bảo thoái hoá điểm vàng, cái chỗ giữa mắt nó hỏng, chỗ quanh rìa thì còn. Cho nên ông nhìn ai cũng phải nhìn lệch đi một tí mới thấy.

– Thế ông có chữa được không ạ?

– Chữa cho nó khỏi nặng thêm. Chứ không cho nó sáng lại. – Ông cười, nhe hàm răng còn tốt. – Thợ đồng hồ mà không thấy kim. Ông đóng quầy là phải.

Thao không biết nói gì. Cô nhìn quanh nhà. Gian nhà có một cái tủ gỗ cao, một bàn thờ nhỏ có ảnh bà Nụ, một cái bàn làm việc kê sát cửa sổ phủ tấm vải xanh. Trên tường treo bốn cái đồng hồ, mỗi cái chỉ một giờ khác nhau.

– Sao đồng hồ nhà ông chỉ bốn giờ khác nhau thế ạ?

– Đồng hồ khách bỏ. Ông treo cho nó chạy, chỉnh làm gì. – Ông nghiêng đầu nghe. – Cái bên trái cửa sổ chạy chậm, cái cạnh bàn thờ chạy đúng nhất. Cái gần tủ thì đứng rồi, từ tuần trước. Thằng Thước chưa sửa.

– Nhà bà cháu thì có mỗi một cái, mà lại chạy nhanh bảy phút.

Ông Hàm im một lúc. Ông đặt cặp lồng xuống phản, lấy tay xoa xoa đầu gối.

– Cô Vóc hồi con gái đi đâu cũng sớm. – ông nói. – Hẹn ai cũng đến trước. Ông ngồi quầy, sáng nào cũng thấy cô ấy ra mở cửa trước khi chợ họp. Mẹ cô ấy, cụ Nết, mắng: con gái gì dậy sớm như gà.

– Bà cháu bây giờ vẫn thế.

– Ừ. Người ta thay đổi ít hơn mình tưởng.

Thao định hỏi thêm thì mắt cô dừng lại ở nóc cái tủ gỗ cao. Trên đó, cạnh mấy cái hộp bìa đựng linh kiện, có một chồng thiếp, buộc bằng sợi dây chun đã ngả màu nâu. Loại thiếp Tết bằng giấy cứng, cái nào cũng có tem, có dấu bưu điện tròn. Chồng thiếp dày chừng một gang tay.

– Ông ơi, cái chồng thiếp trên nóc tủ kia là của ai ạ?

Ông Hàm không quay đầu lên. Ông biết nó ở đâu mà không cần nhìn.

– Thiếp Tết. Của một ông bạn.

– Bạn ở đâu ạ?

– Ở xa.

– Nhiều thế. Năm nào ông ấy cũng gửi à?

– Năm nào cũng gửi. – Ông nói, rồi đổi giọng. – Mày ra sân lấy hộ ông cái ấm tích. Ông pha nước cho mày uống.

Thao ra sân. Cái ấm tích để trên bậc thềm phía sau, cạnh cái giếng xây đã lấp. Cô cầm ấm lên, đang định vào thì nghe tiếng cổng sắt kêu. Thước về, tay xách túi rau và một bọc thuốc. Anh gật đầu chào cô, đi thẳng vào nhà.

Thao đứng ở sân sau. Bức vách giữa sân sau và gian nhà là tường mỏng, có một ô cửa sổ nhỏ chấn song sắt, mở. Cô nghe rõ tiếng hai ông cháu, như nghe người ngồi ngay cạnh.

– Thuốc của ông đây. Bác sĩ dặn nhỏ ngày hai lần.

– Ừ. Để đấy. – Tiếng ông Hàm, nhỏ hơn lúc nói với Thao. – Thứ Hai cháu lên dây đủ chưa?

– Dạ đủ. Ba chục vòng như ông dặn.

– Nó chạy không?

– Chạy. Lệch chừng mười hai giây một ngày.

– Mười hai giây là tốt. Cái máy ấy sáu mươi năm rồi. – Một tiếng ho. – Thước.

– Dạ.

– Ông gọi cháu về không phải chỉ để lên dây.

Thao đứng yên, ấm tích trong tay. Cô biết mình nên đi vào. Cô không đi.

– Cháu tìm người chủ của nó mà trả. – ông Hàm nói. – Ông giữ nó năm mươi tư năm. Ông hứa với người ta là không nói tên người ta với ai. Ông giữ lời đến bây giờ, ông không bỏ lời ở cái tuổi này. Nhưng ông sắp không lên dây được nữa. Mắt thế này, tai cũng sắp thế này. Ông không muốn nó đứng.

– Ông hông nói tên thì con tìm sao được?

– Cái đồng hồ nó tự nói được. – Tiếng ông chậm, từng chữ. – Cháu là thợ. Mở nó ra thì được. Đọc được gì trong đấy là việc của cháu.

Một khoảng lặng dài. Ngoài ngõ có tiếng rao bánh mì. Ở đâu đó một cái đồng hồ trong bốn cái trên tường kêu tích tắc to hơn những cái kia.

– Lỡ người ta mất rồi thì sao ông?

– Thì trả cho người người ta thương.

Thao nghe tiếng ghế kéo. Cô bước nhanh vào, cái ấm tích va vào khung cửa đánh cạch một tiếng. Thước đang đứng cạnh phản, quay lại nhìn cô. Ông Hàm vẫn nhìn vào chỗ cạnh vai cô, như chưa có chuyện gì.

– Ấm đây ông.

– Ừ. Cái Thao pha đi. Chè trong lọ sành trên bàn.

Cô pha chè. Cả ba ngồi uống, không ai nhắc gì đến chuyện vừa rồi. Ông Hàm hỏi Thao về nhà hát, về Hà Nội, hỏi Hà Nội bây giờ còn mấy người sửa đồng hồ ngồi vỉa hè. Thao bảo còn ít lắm, ở phố cổ còn vài ông. Ông gật gù, bảo thế là hết nghề rồi.

Thước ngồi im, hai tay ôm chén chè. Thao để ý thấy anh cầm chén bằng cả hai tay.

Tối hôm ấy trời nóng, mất điện từ tám giờ. Cả phố Hàng Chỉ kéo ghế ra vỉa hè ngồi quạt. Bà Vóc ngồi trên ghế mây ở cửa, phe phẩy cái quạt nan bằng tay trái, chửi điện lực, chửi nắng, chửi cái bột trên tay ngứa như có kiến bò. Thao ra hiên, ngồi bậc thềm. Thước ngồi trên ghế đẩu sau quầy kính, cái đèn pin dựng ngược làm đèn bàn.

Có tiếng rao từ đầu phố, kéo dài trong cái tối không đèn:

– Ai chè đỗ đen, chè bà cốt, chè thập cẩm đây…

Thao đứng dậy, chạy ra gọi. Cô mua ba cốc chè đỗ đen đá. Một cốc mang vào cho bà. Một cốc đặt lên mặt tủ kính trước mặt Thước.

– Của anh.

– Cảm ơn cô. Bao nhiêu?

– Mười lăm nghìn. Anh nợ.

Anh cười, cầm cái thìa nhôm lên khuấy đá. Hai người ngồi ăn chè trong bóng tối. Phía bên kia đường, mấy đứa trẻ con nhà hàng xóm chơi trốn tìm, tiếng chân chạy bình bịch trên vỉa hè.

– Anh tên Thước thật à? – Thao hỏi. – Hay anh nói thế để tôi bỏ thước xuống?

– Thật. Ninh Gia Thước. Ông nội đặt.

– Sao lại đặt là Thước?

– Ông nói đồng hồ là cái thước đo ngày. – Anh nhún vai. – Hồi nhỏ trong lớp tụi nó gọi tôi là ông Thước. Cô giáo cũng gọi ông Thước. Có lần cô giáo kêu: ông Thước lên bảng, cả lớp cười nguyên buổi.

Thao bật cười, suýt sặc chè.

– Tên cổ như tên cụ đồ.

– Tên cô cũng cổ mà. Thao. Tơ thao.

– Tên tôi là tên vải. Nhà tôi ba đời đặt tên theo vải. Bà tôi tên Vóc, mẹ tôi tên Vân, tôi tên Thao. – Cô liếm cái thìa. – Mẹ tôi ghét nhất cái lệ ấy, nhưng đến lúc đặt tên tôi thì mẹ vẫn chọn tên vải.

– Vậy con cô sau này tên gì?

– Tên Lụa. Cho hết phim.

Thước cười thành tiếng. Lần đầu tiên Thao nghe anh cười to như thế. Tiếng cười của anh hơi khàn, ngắn, như cái lò xo bị bật ra rồi tự thu lại.

Họ nói chuyện thêm một lúc. Thao kể về xưởng phục trang, về những cái áo phải thay trong bốn mươi giây. Cô kể lần cô khâu lại cái tà áo cho một chị diễn viên ngay trong cánh gà, đèn sân khấu chiếu qua khe màn, khán giả cách có ba mét. Thước kể về Sài Gòn, về cái tiệm đồng hồ nhỏ của ba anh, về mấy năm anh làm kỹ thuật viên ở một trung tâm bảo hành chuyên sửa những chiếc đồng hồ đắt bằng cả căn nhà.

– Thế sao anh bỏ? – Thao hỏi.

Thước khuấy nốt chỗ đá cuối cốc.

– Thì ông nội kêu về.

Thao biết đó cũng không phải câu trả lời, như cái câu "tại đèn chói" tối thứ Ba. Nhưng cô không hỏi tiếp. Trời tối, mất điện, có một cốc chè, người ta có quyền nói dối một chút.

Điện có lại lúc gần mười giờ. Đèn đường bật lên một loạt, cả phố reo ầm. Cái đèn kẹp ở quầy kính sáng trắng, chiếu thẳng vào tấm ván gỗ phía sau, lên hàng đinh trên cùng, lên chiếc đồng hồ mặt ngà treo ở cây đinh thứ ba.

Thao nhìn nó. Thước cũng nhìn nó.

– Anh có biết nó của ai không? – cô hỏi, dù đã nghe câu trả lời qua ô cửa sổ chấn song.

– Hông biết.

– Ông anh cũng không nói?

Thước đặt cái cốc chè rỗng xuống mặt kính, chỗ đúng ngay dưới cây đinh. Anh ngửa cổ lên, đếm nhẩm gì đó.

– Năm mươi tư năm. Mỗi tuần một lần. – anh nói. – Ông tôi lên dây cái đồng hồ đó gần ba nghìn lần rồi, chưa lần nào nói với ai nó là của ai.

— Hết chương 3 —

Mục lục Chiếc đồng hồ số bốn mốt ở hiên tiệm may

  1. 1Thứ Hai lên dây12 phút đọc
  2. 2Chín cái áo cho nhà bà Liễu11 phút đọc
  3. 3Ông Hàm không nhìn thấy kim10 phút đọc
  4. 4Phong bì của mẹ10 phút đọc
  5. 5Đường lược chỉ đỏ10 phút đọc
  6. 6Buổi thử áo thứ Bảy10 phút đọc
  7. 7Hội hưu trí nhà máy dệt10 phút đọc
  8. 8Đêm Trung thu ở làng nhuộm10 phút đọc
  9. 9Dấu khắc tháng Mười một10 phút đọc
  10. 10Một lời nói dối về khách10 phút đọc
  11. 11Bàn tay trên mặt bàn cắt9 phút đọc
  12. 12Tấm ảnh trên bậc hiên10 phút đọc
  13. 13Sân ga lúc chín giờ bốn mươi10 phút đọc
  14. 14Tà áo đứt chỉ trước giờ rước dâu10 phút đọc
  15. 15Người từ Sài Gòn10 phút đọc
  16. 16Bản vẽ thứ bảy10 phút đọc
  17. 17Đêm ở hành lang khoa chấn thương10 phút đọc
  18. 18Hai mươi tám năm ở hành lang10 phút đọc
  19. 19Cục chì trong gấu áo9 phút đọc
  20. 20Hợp đồng đặt cọc11 phút đọc
  21. 21Thứ Hai không ai lên dây11 phút đọc
  22. 22Ông Tư lụa10 phút đọc
  23. 23Bậc thềm nhà hát10 phút đọc
  24. 24Mẫu thử số một9 phút đọc
  25. 25Mưa chiều Bảo Lộc11 phút đọc
  26. 26Người đứng dưới cột đèn10 phút đọc
  27. 27Tháng Chạp10 phút đọc
  28. 28Bà đã nhìn thấy10 phút đọc
  29. 29Lời của ông Khoan11 phút đọc
  30. 30Số bốn mốt10 phút đọc
  31. 31Tiền cọc gấp đôi9 phút đọc
  32. 32Đêm tổng duyệt10 phút đọc
  33. 33Chuyến tàu ngày ông Công ông Táo10 phút đọc
  34. 34Cánh cửa10 phút đọc
  35. 35Giao thừa phố Hàng Chỉ10 phút đọc
  36. 36Thứ Hai đầu năm10 phút đọc

Về truyện này

Chiếc đồng hồ số bốn mốt ở hiên tiệm may là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →