Chương 22: Ông Tư lụa
– Ông chú làm nghề lụa. – Thao nói. – Mẹ em nói đúng mấy chữ ấy.
Sáng Chủ nhật, hai người ngồi ở hiên, trước cái quầy kính có cây đinh thứ ba trống. Thước đã dọn bớt đồ: mấy chiếc đồng hồ khách gửi đã trả gần hết, hộp linh kiện hai mươi bốn ô đã được dán băng dính, những cái nhíp đã được gói vào tấm nỉ xanh. Chỉ còn cái gối tì tay nâu hồng nằm giữa mặt kính, không gói.
Thao kể lại cho anh đoạn mẹ kể trên sân thượng. Tháng Bảy năm chín tám, chú Quân bảo đi. Có một người quen ông Hàm ở trong ấy, một ông chú làm nghề lụa, hứa giới thiệu chú vào làm ở một tiệm đồng hồ lớn.
– Người quen ông Hàm. Làm nghề lụa. Ở trong Nam. – Thao đếm trên ngón tay. – Anh Thụy ngày trước là thợ máy nhà máy dệt. Người làm máy dệt thì biết lụa.
– Nửa thành phố này làm máy dệt mà em.
– Nửa thành phố ấy không vạch dấu tháng Mười một năm bảy sáu trên nắp đồng hồ ông anh.
Thước im. Rồi anh rút điện thoại ra, bấm số bố.
Chú Quân nghe máy ở hồi chuông thứ năm. Tiếng sau lưng chú ồn, tiếng xe máy, tiếng người rao. Chú đang ở tiệm, đang dọn. Thước bật loa ngoài, đặt điện thoại lên mặt kính.
– Ba ơi. Năm chín tám ba vô Sài Gòn, ai giới thiệu ba vô tiệm?
– Hỏi chi vậy con?
– Con hỏi thôi. Ông nội nhắc. – Thước nói dối, nói dở như Thao vẫn nói dở. – Ông nói hồi đó có người giúp ba.
Chú Quân im một chút.
– Chú Tư lụa. – chú nói. – Ở Bảo Lộc. Ông nội dặn ba: không có ai thì tìm chú Tư lụa ở Bảo Lộc. Ba xuống tàu ở Sài Gòn rồi đón xe lên Bảo Lộc, ở nhờ xưởng chú ba hôm. Chú cho ba vay tiền, viết thư giới thiệu ba vô tiệm ông Sáu dưới Sài Gòn. Hông có chú thì ba hông có cái tiệm này.
– Chú Tư tên thật là gì ba?
– Ba hông biết. – Chú Quân cười. – Ở trong đó người ta gọi theo thứ trong nhà. Chú thứ ba, người ta gọi Tư. Làm lụa, người ta gọi Tư lụa. Ba gọi vậy hai mươi tám năm rồi. Mà con hỏi chi?
– Dạ hông có chi.
– Con nhớ hông, hồi nhỏ Tết nào cũng có gói mứt gừng gửi xuống. Gói trong cái khăn lụa. Mẹ con thích cái khăn đó lắm. Là chú Tư gửi đó.
Thước nhìn Thao. Thao thấy mặt anh thay đổi, như người vừa ngửi thấy một mùi quen từ hồi còn bé.
– Dạ. Con nhớ.
– Ba bận rồi. Con nhắc ông…
– Nhỏ thuốc mắt. Con nhớ rồi ba.
Thước tắt máy. Anh ngồi nhìn cái điện thoại trên mặt kính.
– Mứt gừng. – anh nói. – Mứt gừng cắt sợi, rim với đường phèn, cay xè. Hồi nhỏ anh ghét. Mẹ anh ăn với trà. Cái khăn lụa màu xanh lam, mẹ anh quàng đi đám cưới. Năm mẹ anh mất, ba anh để cái khăn đó lên bàn thờ.
– Tết nào cũng gửi?
– Tết nào cũng gửi. Anh tưởng là bạn làm ăn của ba.
Thao quay sang nhìn về phía ngõ Kim.
– Ông anh cũng có một chồng thiếp Tết. – cô nói. – Năm nào cũng có. Của một ông bạn ở xa.
Chiều Chủ nhật, Thao sang ngõ Kim một mình.
Ông Hàm ngồi xe lăn ở sân, dưới giàn trầu không, phơi nắng. Chị giúp việc đã về. Chiếc đồng hồ số bốn mốt nằm trong lòng bàn tay trái ông, ông cầm như người ta cầm một con chim non.
– Cái Thao đấy à.
– Dạ. Ông ơi, cháu nhờ ông một việc.
– Việc gì?
– Năm nay sắp Tết. Cháu lấy chồng thiếp trên nóc tủ xuống lau bụi cho ông.
Ông Hàm im một lúc. Ông không hỏi tại sao một đứa đang chạy áo mẫu cho nhà hát lại nhớ đến bụi trên nóc tủ nhà ông.
– Ừ. – ông nói. – Lấy xuống đi. Ông cũng muốn đếm.
Thao bắc ghế, lấy chồng thiếp xuống. Sợi dây chun đã giòn, cô vừa chạm vào nó đứt đánh tách. Cô mang chồng thiếp ra sân, đặt lên đùi ông. Ông cởi nốt dây chun, đặt hai bàn tay lên chồng thiếp, rồi đếm. Ông không nhìn. Ông đếm bằng mép giấy, ngón cái lật từng tấm như lật tiền.
Bốn mươi chín.
– Bốn mươi chín. – ông nói. – Tấm đầu năm bảy tám. Tấm cuối năm nay.
– Ông ơi, cháu đọc cho ông tấm năm nay được không?
Ông Hàm không trả lời ngay. Ông lật tìm, như biết tấm nào ở đâu. Ông rút một tấm ra, đưa cho Thao.
Thiếp in hình một cành đào, giấy đã quăn góc. Mặt sau có tem. Dấu bưu điện tròn, mực tím, chữ in ngoài vành: Bảo Lộc, Lâm Đồng. Ngày gửi: hai mươi tháng Một năm hai nghìn hai mươi sáu.
Ở giữa tấm thiếp, nét chữ bút bi xanh, chữ người già, nét to, hơi run, nhưng thẳng hàng như kẻ chỉ:
Anh Hàm: còn chạy không?
Dưới cùng, một chữ cái: T.
Thao đọc to. Giọng cô đi ra khỏi miệng mỏng hơn cô tưởng.
– Anh Hàm. Còn chạy không. Ký chữ T.
Ông Hàm ngồi im. Rồi ông chống tay vào thành xe lăn, xoay người đi một chút, quay mặt vào bức tường rêu của cái giếng đã lấp. Ông không khóc thành tiếng như hôm tháng Chín. Ông chỉ quay mặt đi.
Thao cầm tấm thiếp, nhìn cái lưng gầy của ông.
– Ông ơi. Ông có gửi lại không?
– Có. – ông nói, mặt vẫn quay vào tường. – Bưu thiếp. Năm nào cũng một câu. Hai chữ.
– Còn chạy.
– Còn chạy.
Cô lật thêm mấy tấm. Không phải để đọc. Chỉ để nhìn dấu bưu điện. Tấm năm hai nghìn mười: Bảo Lộc. Tấm năm chín mươi chín: Bảo Lộc. Tấm năm tám mươi hai, giấy vàng như lá chè khô: Bảo Lộc. Bốn mươi chín năm, cùng một câu, cùng một chữ T, cùng một cái bưu cục.
Cô không hỏi chữ T là ai. Ông đã hứa không nói. Ông cũng không nói. Chỉ có tấm thiếp tự nói.
Cái đồng hồ nó tự nói được, ông bảo Thước hồi tháng Chín. Đọc được gì là việc của cháu.
– Ông ơi. – Thao nói. – Năm nay ông có gửi bưu thiếp không?
Ông Hàm quay lại. Đôi mắt đục nhìn vào cái chỗ bên trái vai cô.
– Mắt ông thế này thì viết làm sao. – ông nói. – Năm nay cái Thao viết hộ ông. Hai chữ thôi.
Cô gật, rồi nhớ ra ông không thấy, nên cô nói: dạ.
– Thế địa chỉ ạ?
– Địa chỉ ông thuộc. – ông nói. – Bốn mươi chín năm, ông viết bốn mươi chín lần. Đến lúc ấy ông đọc, mày viết.
– Sao ông không gọi điện cho ông ấy hả ông? Bây giờ ai chẳng có điện thoại.
Ông Hàm cười, cái cười rất mỏng.
– Gọi điện thì phải nói. – ông nói. – Bưu thiếp thì chỉ cần hai chữ.
Cô buộc lại chồng thiếp bằng một sợi chỉ đỏ trong túi áo, đặt lên nóc tủ như cũ. Riêng tấm năm nay cô chụp lại bằng điện thoại trước khi cất.
Tối Chủ nhật, cô lên chuyến xe cuối đi Hà Nội. Trên xe cô nhắn cho Thước ảnh tấm thiếp, kèm một dòng: Bảo Lộc. Bốn mươi chín tấm. Chữ T.
Anh nhắn lại: Tư.
Rồi anh nhắn thêm: hoặc Thụy.
Cả tuần sau đó Thao ngồi dưới xưởng phục trang với cái áo mẫu.
Thân áo đã ráp xong. Tay áo đã lược. Cái cổ cao ba phân, sáu mũi trên một phân, đứng thẳng lên như cái cổ của bà Ổn trong buổi lễ vu quy. Chị Lan Chi thỉnh thoảng đi qua, dừng lại, không nói gì, rồi đi. Anh Duy xuống xưởng hai lần, lần nào cũng mang hai cốc trà đá, đặt một cốc cạnh tay Thao, đứng xem cô khâu một lúc rồi đi lên.
Lần thứ hai, anh hỏi cô thứ Bảy có rảnh không, có một vở bên nhà hát bạn công diễn, anh có hai vé.
– Em còn cái gấu chưa vắt anh ạ.
– Thứ Hai em mới nộp. – anh Duy cười. – Hai tiếng thôi. Ngồi khâu ba tuần, em phải ra ngoài xem người ta mặc áo trên sân khấu một tối. Đấy là việc, không phải chơi.
Thao bảo để em xem. Anh Duy bảo em xem đi, anh để vé ở chỗ chị Lan Chi.
Thứ Năm, Thước gọi. Giọng anh nhanh hơn mọi khi, cái kiểu nhanh của người vừa chạy lên cầu thang.
– Ba anh gửi ảnh rồi. Anh xin ba. Anh nói anh muốn xem lại cái xưởng chỗ ba ở nhờ năm chín tám. Ba lục trong máy tính cũ, tìm được một tấm. Năm hai nghìn lẻ chín, ba lên Bảo Lộc chúc Tết chú Tư, chụp.
– Anh gửi em.
Ảnh hiện ra trên màn hình điện thoại của cô, giữa đống lụa vụn và chỉ đỏ trên bàn cắt.
Một xưởng nhuộm mái tôn, cột gỗ, mấy cái khung cửi cũ kê sát tường. Một ông già chừng sáu mươi đứng bên một khung cửi, mặc áo sơ mi trắng xắn tay lên khuỷu, tóc bạc cắt ngắn, lông mày rậm đã điểm bạc. Ông đứng nghiêng, một tay đặt lên thanh gỗ của khung cửi, nhìn vào ống kính không cười. Nhưng miệng ông mím lại, cái kiểu mím của người đang cố nhịn cười vì người chụp ảnh vừa nói câu gì đó.
Thao phóng to khuôn mặt ấy. Rồi cô mở tấm ảnh cô đã chụp lại từ đáy hòm tôn hồi tháng Chín, đặt hai cái cạnh nhau trên màn hình.
Người con trai mặc quân phục, mũ cầm tay, phông vẽ cây dừa, miệng mím nhịn cười. Thụy, tháng Tư năm bảy hai.
Người đàn ông bên khung cửi, áo sơ mi xắn tay, miệng mím nhịn cười. Ông Tư lụa, Tết năm hai nghìn lẻ chín.
Ba mươi bảy năm giữa hai tấm ảnh. Cái lông mày rậm đã bạc. Cái mặt gầy đã chảy xuống. Nhưng cái miệng ấy.
Thao phóng to thêm một lần nữa, đến cánh tay trái đặt trên khung cửi. Cổ tay ông để trần. Không có đồng hồ.
– Em thấy hông? – Thước hỏi, trong điện thoại.
– Em thấy.
– Cổ tay trái.
– Em thấy rồi.
Hai người im. Cô nghe thấy hơi thở của anh, ở đầu kia, ở cái hiên có cây đinh thứ ba trống.
– Ông ấy còn sống đến năm hai nghìn lẻ chín. – Thước nói. – Ông ấy gửi thiếp đến Tết năm nay.
– Anh định làm gì?
Anh không trả lời ngay.
– Thứ Bảy anh lên Hà Nội. – anh nói. – Bà gửi cơm cho em. Anh nói với em.
— Hết chương 22 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe