Chương 5: Đường lược chỉ đỏ
Bà Ổn mặc thử cái áo bằng vải mộc chiều thứ Ba, đứng trước tấm gương xoan, chống gậy, xoay người sang trái rồi sang phải, rồi đưa ngón tay gầy như que củi ấn vào đầu vai.
– Cổ được. – bà nói. – Vai không được.
– Vai làm sao ạ? – Thao hỏi.
– Ngày xưa áo tôi có một cái chiết nhỏ ở đây. – Ngón tay bà Ổn ấn vào cái chỗ nhô lên của xương bả vai. – Bé tí, dài bằng đốt ngón tay. Có nó thì mặc vào giơ tay lên được, không có nó thì giơ tay lên cả thân áo đội lên theo.
Thao nhìn bà Vóc. Bà Vóc đang ngồi ghế mây, nhìn ra cửa.
– Bà ơi, cái chiết ấy cắt thế nào ạ?
– Lâu rồi. Tao quên rồi.
Bà Ổn quay đầu lại nhìn bà Vóc một cái rất lâu, cái nhìn của hai bà già đã biết nhau từ hồi một người sắp về nhà chồng, một người còn tết tóc. Rồi bà Ổn nói, không to:
– Cụ Nết cắt cái áo ấy. Bà Vóc ngồi lược. Mười ba tuổi, ngồi lược hai ngày, tôi còn nhớ.
Bà Vóc không trả lời.
Bà Ổn về rồi, Thao ngồi trước cái áo mẫu treo trên ma nơ canh, sờ vào đầu vai trái, chỗ phải có một cái chiết dài bằng đốt ngón tay. Cô thử gấp, thử ghim, thử kéo. Lụa thì có thể đoán. Vải mộc thì có thể đoán. Nhưng một cái chiết người ta cắt sáu mươi ba năm trước, cho một cái vai bây giờ đã gù, thì không đoán được. Phải có rập.
Rập cũ tao đốt hết rồi, bà nói. Bà nói nhanh quá. Từ bé đến giờ, Thao chưa từng thấy bà đốt một mẩu giấy nào có đường phấn. Giấy rập hỏng bà còn cắt ra làm thẻ tên khách.
Tối thứ Ba, bà uống thuốc giảm đau, ngủ từ chín giờ. Thao nghe tiếng thở đều của bà qua cánh cửa phòng, đứng ở chân cầu thang lên gác ba một lúc rất lâu.
Gác ba là một căn phòng thấp, mái tôn, mùa hè nóng như cái lò. Cầu thang lên là cầu thang gỗ dốc, mười hai bậc, bậc thứ bảy kêu. Thao bước qua bậc thứ bảy.
Trong phòng có mùi long não và mùi giấy cũ. Những bao tải đựng vải vụn, những cái ma nơ canh gãy tay, cái máy may tay quay của cụ Nết phủ tấm khăn trải bàn. Và ở góc trong cùng, dưới chỗ mái thấp nhất, cái hòm tôn.
Cái hòm sơn xanh, đã tróc từng mảng như vảy cá, khoá bằng một cái móc sắt chứ không có khoá. To bằng một cái giường trẻ con. Thao nhớ nó từ hồi bé, nhớ bà dặn không được trèo lên, không được chơi quanh nó. Cô đã nghĩ trong đó là tiền vàng, rồi nghĩ là quần áo của ông, rồi lớn lên thì không nghĩ đến nữa.
Cô quỳ xuống, nhấc cái móc sắt lên. Nắp hòm nặng, kêu ken két.
Lớp trên cùng là rập. Hàng chục cuộn giấy rập bằng giấy xi măng màu nâu, buộc dây gai, mỗi cuộn kẹp một mẩu giấy ghi tên bằng bút chì. Cô Lụa phố Hàng Sắt, 1968. Cô giáo Thơm, 1971. Chị Bảy Hải Hậu, 1979. Bà không đốt. Bà giữ hết.
Thao lật từng cuộn, đến cuộn thứ mười bốn thì dừng lại. Nét chữ trên mẩu giấy là nét chữ cứng, nghiêng, khác chữ bà: Áo cưới cô Ổn, tháng Sáu 1963. Mẹ cắt. Bên dưới là một dòng chữ khác, chữ trẻ con, tròn, viết bằng bút chì màu đỏ: Vóc lược.
Cô cầm cuộn rập ấy lên, ôm vào ngực một lúc. Rồi cô thấy dưới lớp rập còn một lớp nữa.
Một bọc vải. Vải trắng, loại vải màn cũ, gói kín một vật gì phẳng và dài, bên ngoài bọc thêm một lớp giấy dầu đã giòn. Thao kéo nó ra, đặt lên đầu gối, mở từng lớp.
Một cái áo dài.
Lụa màu mỡ gà, cái màu vàng nhạt như lòng đỏ trứng gà ri pha nước. Ngả màu ở nếp gấp, nhưng phần còn lại vẫn sáng, mịn, mềm như vừa cắt. Cổ cao ba phân. Tay raglan, đường ráp chéo từ nách lên chân cổ. Thao lật đầu vai lên: có một cái chiết nhỏ, dài bằng đốt ngón tay, đúng chỗ bà Ổn ấn ngón tay vào.
Cái áo đã may xong thân, xong tay, xong cổ, cài đủ hàng khuy bấm bên sườn. Chỉ có cái gấu tà trước là chưa vắt. Gấu được gấp lên, giữ tạm bằng một đường chỉ lược màu đỏ, mũi lược dài đều như đếm, mỗi mũi một phân rưỡi. Người ta lược để giữ nếp, rồi sẽ vắt gấu bằng chỉ cùng màu, rồi rút chỉ lược ra. Đường lược đỏ này chưa bao giờ được rút.
Thao lần ngón tay dọc đường gấu. Gần phía nách trái, ngón tay cô chạm phải một cục cứng nhỏ nằm trong nếp gấp. Tròn, dẹt, to cỡ đồng xu. Cô bóp nhẹ, nó không xê dịch.
Chì gấu, cô nghĩ. Thợ may cũ hay khâu một miếng chì mỏng vào gấu để tà áo rủ xuống, gió không lật lên được. Cô đã thấy bà làm thế với áo dài của mấy cô giáo dạy ở trường gần sông.
Dưới cái áo còn một tấm ảnh đen trắng, khổ bằng bao diêm, mép răng cưa. Một người con trai mặc quân phục, mũ cầm trên tay, tóc cắt ngắn, đứng trước một bức phông vẽ cây dừa. Mặt gầy, lông mày rậm, miệng mím như đang cố nhịn cười vì người chụp ảnh vừa nói câu gì. Thao lật mặt sau. Nét chữ bút mực tím, bay:
Thụy – 4.1972.
Bậc thứ bảy của cầu thang kêu.
Thao quay lại. Bà Vóc đứng ở đầu cầu thang, đầu chưa nhô hẳn qua mặt sàn gác, cái tay bó bột tì vào thành cầu thang. Bà nhìn cái hòm mở, nhìn cái áo mỡ gà trải trên đầu gối Thao, nhìn tấm ảnh trên tay cô.
– Tao đã bảo mày rồi. – bà nói.
– Cháu xin lỗi bà. Cháu chỉ tìm rập.
– Mày tìm rập. – Bà bước nốt mấy bậc, lên tới sàn gác. Bà phải cúi xuống vì mái thấp. – Tìm rập thì lấy rập. Ai cho mày lấy cái kia ra?
Thao không nói gì. Cô cầm cái áo lên, định gấp lại.
– Để đấy. – Bà nói. – Mày gấp sai nếp.
Bà ngồi xuống sàn gác. Ngồi rất khó, vì tay bó bột, vì đầu gối bảy mươi sáu tuổi. Thao đỡ bà. Bà ngồi xếp bằng như ngày trẻ ngồi lược áo trên chiếu, cái tay lành đặt lên cái áo mỡ gà trên đùi Thao, xoa nhẹ, như xoa lưng một đứa trẻ đang ngủ.
– Anh Thụy. – bà nói. Không đợi Thao hỏi.
Thao giữ im.
– Thợ máy nhà máy dệt. Người làng bên Thái Bình lên đây làm. Hứa cưới năm bảy mốt. Tháng Tư năm bảy hai đi bộ đội. – Giọng bà đều đều, như đọc số đo. – Tao may cái áo này để chờ anh ấy về. Cắt từ trước khi anh ấy đi. May dần, mỗi tháng một ít. May đến cái gấu thì giấy báo về.
– Năm nào hả bà?
– Bảy tư. Tháng Bảy. Người nhà anh ấy dưới quê nhắn lên.
Ngoài cửa sổ gác có tiếng xe máy chạy qua, đèn pha quét một vệt sáng lên mái tôn rồi tắt.
– Tao không vắt gấu nữa. – bà nói. – Năm sau tao lấy ông mày.
Thao nhìn đường lược chỉ đỏ, mỗi mũi một phân rưỡi.
– Sao bà không vứt nó đi ạ?
– Áo may rồi thì ai vứt. – bà nói, như thể đó là câu hỏi ngớ ngẩn nhất từng được hỏi trong nhà này.
– Thế cái cục ở gấu là chì hả bà? Bà khâu chì cho tà rủ?
Bà Vóc im một lúc. Tay bà dừng lại trên lụa.
– Ừ. – bà nói. – Chì.
Bà gấp cái áo. Gấp theo nếp cũ, nếp mà Thao bây giờ mới thấy là có lý: ba lần, lật vai vào trong, để cổ áo nằm trên cùng không bị đè. Bà gói lại vào vải màn, vào giấy dầu. Bà cầm tấm ảnh từ tay Thao, nhìn nó một giây, rồi đặt nó lên trên bọc áo, úp mặt xuống. Bà đậy nắp hòm. Cái móc sắt rơi vào chỗ cũ.
– Cuộn rập áo cô Ổn thì mày cầm xuống. – bà nói. – Cái chiết vai ấy, mẹ tao cắt chéo bốn mươi lăm độ, không cắt thẳng. Mày nhìn trong rập sẽ thấy.
Sáng thứ Tư, mẹ gọi. Giọng mẹ khó chịu, kiểu khó chịu của người vừa bị trả lại một khoản tiền mà mình không biết phải hạch toán vào đâu.
– Cái cậu cháu ông Hàm ấy. Hôm qua nó gửi chuyển phát lên công ty mẹ cái phong bì. Nguyên. Tám mươi triệu, không thiếu đồng nào.
Thao đang cầm cái kéo. Cô đặt nó xuống.
– Anh ấy trả lại ạ?
– Kèm một tờ giấy viết tay. – Tiếng giấy sột soạt bên kia điện thoại. – "Cháu cảm ơn cô. Cháu xin phép không nhận. Quầy này ông cháu không bán." Có thế thôi. Chữ xấu như gà bới.
– Hôm thứ Bảy con thấy anh ấy cầm phong bì…
– Thì nó cầm. Mẹ đưa, nó cầm, nó gật, nó bảo dạ. Mẹ tưởng xong. – Mẹ thở hắt. – Cái nhà ấy từ đời ông đến đời cháu đều thế. Nói dạ mà không phải dạ.
Mẹ cúp máy. Thao đứng im một lúc trong tiệm, nhìn ra hiên qua tấm gương đặt chéo. Thước đang ngồi đánh bóng mặt kính một chiếc đồng hồ, cái khăn da hươu xoay xoay trong lòng bàn tay.
Cô lấy hai tờ tiền dưới hộp phấn, mười nghìn và năm nghìn, đi ra.
– Tiền chè. – cô nói, đặt hai tờ tiền lên mặt kính trước mặt anh. – Tôi trả lại anh.
Thước nhìn hai tờ tiền, rồi nhìn cô.
– Cô biết rồi hả?
– Mẹ tôi gọi. – Thao ngồi xuống bậc hiên, ngang vai anh như hôm mất điện. – Sao anh không nói?
– Cô có hỏi đâu.
– Tôi có hỏi. Sáng thứ Hai tôi hỏi.
– Cô hỏi bao nhiêu. – Anh đặt cái khăn da hươu xuống. – Tôi trả lời bao nhiêu.
Thao mở miệng định cãi, rồi ngậm lại. Đúng là cô hỏi bao nhiêu. Cô hỏi giá chứ cô không hỏi anh có nhận không.
– Bằng giá cái hiên này năm mươi sáu năm. – cô nhắc lại câu anh nói. – Nghĩa là gì?
– Nghĩa là hông có giá. – anh nói. – Ông tôi ngồi đây hông trả tiền thuê. Cụ Nết hồi đó nói: anh còn ngồi được thì còn chỗ. Hông có giá thì làm sao bán.
– Lẽ ra anh nói luôn như thế.
– Lẽ ra cô hỏi luôn là tôi có nhận hông.
Hai người im một lúc. Rồi Thao bật cười trước, không nhịn được. Thước cũng cười, cúi xuống, cầm hai tờ tiền lên, gấp lại, nhét vào túi áo ngực.
– Xin lỗi. – Thao nói, nhỏ, nhanh, nhìn ra phố.
– Dạ.
– Anh đừng dạ. Anh nói gì khác đi.
– Hông sao. – anh nói. – Ở trong Nam, người ta giận nhau vì tiền còn lâu hơn.
Đêm thứ Tư, Thao thức dậy lúc hai giờ vì khát. Cô xuống cầu thang lấy nước. Tầng một tối, chỉ có ánh đèn đường lọt qua mấy khe cửa xếp. Cánh cửa ngách khép hờ.
Cô nhìn qua khe cửa.
Bà Vóc ngồi ngoài hiên, trên cái ghế đẩu của ông Hàm, áo ngủ màu tro, tóc xoã. Đèn đường rọi xuống vai bà một vệt vàng. Bà ngồi im, không quạt, không làm gì. Cái tay lành của bà đặt phẳng lên mặt kính của quầy, năm ngón xoè ra, đúng chỗ phía trước cây đinh thứ ba hàng trên cùng. Ở đó, chiếc đồng hồ số bốn mốt đang treo trong bóng tối, mỗi ngày chậm hơn đồng hồ thiên hạ mười hai giây.
— Hết chương 5 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe