AI Truyện
Chiếc đồng hồ số bốn mốt ở hiên tiệm may

💞 Ngôn tình

Giao thừa phố Hàng Chỉ

Chiếc đồng hồ số bốn mốt ở hiên tiệm may · Chương 35/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 35: Giao thừa phố Hàng Chỉ

Bà Cả Nhung đến ngõ Kim sáng hai mươi lăm tháng Chạp, khăn trắng thắt nút tai thỏ, chống cái ô đen làm gậy. Bà đi một mình từ khu tập thể nhà máy dệt bằng xe ôm, và câu đầu tiên bà nói khi bước qua cổng nhà ông Hàm là:

– Ma thằng Thụy về thật.

Chị Hằng bán xôi đi theo sau, cười ngặt nghẽo. Chị bảo chị chỉ kể với mẹ chồng chị, mẹ chồng chị kể với bà Cả Nhung, bà Cả Nhung kể với cả hội hưu trí. Sáng nay cả hội đòi kéo sang, chị phải can mãi mới chỉ có một mình bà sang.

Ông Thụy ngồi ở phản, đứng dậy. Bà Cả Nhung đứng trước mặt ông, nheo mắt nhìn từ đầu đến chân, như nhìn một tấm vải xem dệt có lỗi không.

– Hồi ấy con Lựu tổ tao thấy mày ở bến xe. – bà Cả Nhung nói. – Cả phân xưởng bảo nó hoa mắt. Nó ức đến chết. Nó mất năm hai nghìn mười chín, đến lúc chết vẫn cãi là nó thấy.

– Cô ấy thấy thật. – ông Thụy nói. – Cháu chạy.

– Chạy cái gì mà chạy. – Bà Cả Nhung gõ đầu ô xuống sân gạch. – Chết hai năm còn về mua vé xe. Sống thì keo kiệt, chết vẫn phải đi xe khách.

Rồi bà Cả Nhung bật cười, cái cười khà khà như hôm ở hội hưu trí. Ông Thụy cười theo. Ông Hàm ngồi xe lăn cười theo. Thao đứng ở cổng, tay cầm cái cặp lồng xôi bà sai mang sang, nhìn ba người già cười giữa cái sân gạch đỏ dưới giàn trầu không. Cô nghĩ đến cô Lựu tổ dệt năm bảy sáu, người duy nhất trong cả câu chuyện này đã gọi to cái tên ấy giữa chỗ đông người.

Ông Thụy và chị Hiên về Bảo Lộc sáng hai mươi bảy Tết. Chị Hiên mua vé máy bay. Ông không cãi.

– Ra bằng tàu thì về bằng máy bay cũng được. – ông nói với Thao, ở đầu ngõ Kim, lúc chờ xe. – Cô ấy chỉnh cái đồng hồ rồi. Không còn phải nhìn nó mà đi nữa.

– Ông có ra nữa không ạ?

– Không biết. – ông nói. – Bảy mươi tám tuổi rồi, cháu ạ. Tết năm sau tôi gửi thiếp. Anh Hàm trả lời.

– Ông Hàm có viết được đâu.

– Thì cháu viết. – ông nói. – Hai chữ thôi.

Ông không sang tiệm chào bà. Bà không ra đầu ngõ. Nhưng lúc chiếc taxi chở hai bố con chạy ngang qua phố Hàng Chỉ, Thao đứng ở hiên thấy cửa kính sau xe hạ xuống một nửa, và một bàn tay già, cổ tay trái để trần, giơ lên. Cô quay lại nhìn lên tầng hai. Cửa sổ phòng bà mở. Tấm rèm hoa cúc vàng nền xanh vén hẳn sang một bên, buộc lại bằng một sợi dây vải. Bà đứng ở đó, không đứng sau rèm. Bà giơ tay phải lên.

Chiếc taxi rẽ ở đầu phố.

Bà vẫn đứng ở cửa sổ một lúc. Rồi bà vào. Tấm rèm vẫn buộc. Từ hôm ấy bà không thả nó xuống nữa.

Hai mươi tám Tết, Thao lắp cái giá đỡ cổ tay cho Thước.

Cô đã vẽ nó từ tháng Mười hai, trên chuyến bay từ Liên Khương về. Cô vẽ như vẽ một cái áo: đo người trước, rồi mới dựng rập. Tối hôm Thước về từ Sài Gòn, cô bắt anh ngồi xuống ghế đẩu sau quầy, đặt hai tay lên mặt kính như lúc làm việc, rồi cô đo. Chu vi cổ tay. Khoảng cách từ xương cổ tay đến đầu ngón trỏ. Độ cao từ mặt kính lên khuỷu tay khi anh cúi xuống kính lúp. Góc nghiêng của cẳng tay. Mười hai số, như đo một người may áo dài. Cô đọc to từng số, bà ngồi trong tiệm nghe.

Rồi cô dựng rập bằng giấy xi măng màu nâu, cắt thử, gấp thử, bắt anh đặt tay lên, sửa, cắt lại. Bốn lần thì được. Một cái máng nông hình lòng chảo cho xương cổ tay nằm vào, một cái gờ thấp chặn mép ngoài cẳng tay, hai cái chốt để gắn chặt xuống mặt tủ kính. Tay anh tì lên đó thì cả cánh tay nằm yên, chỉ còn các ngón là được cử động.

– Gỗ gì hả bà? – cô hỏi bà, cầm cái rập giấy.

Bà nhìn cái rập. Rồi bà đứng dậy, đi đến bàn cắt, cúi xuống. Bà thò tay vào cái khoảng trống dưới gầm bàn, chỗ Thao từ bé đến giờ chỉ thấy bóng tối và mạng nhện. Bà kéo ra một tấm ván gỗ dài chừng một mét, dày ba đốt ngón tay, nâu đen, nặng đến mức bà phải ngừng tay một lần.

– Gỗ lim. – bà nói. – Còn thừa từ cái cửa đình. Ông mày để dành dưới này từ năm bảy lăm. Ông mày bảo để mai sau có việc.

Bà đặt tấm ván lên bàn cắt.

– Năm mươi năm. – bà nói. – Chắc là việc này.

Ông thợ mộc ở phố bên cưa, bào, đục theo đúng cái rập giấy của Thao. Ông bảo gỗ lim cửa đình cứng như sắt, cưa gãy hai lưỡi, ông lấy tiền công gấp đôi. Thao trả. Sáng hai mươi tám Tết cô ngồi ở hiên, bắt bốn con vít, gắn cái giá đỡ lên mặt tủ kính, ngay chỗ cái gối nâu hồng vẫn nằm.

Thước đặt cổ tay lên.

Cái máng lim ôm lấy xương cổ tay anh. Cái gờ chặn mép cẳng tay. Anh cầm cái nhíp nhỏ nhất. Anh thở ra. Anh gắp một con ốc bé như hạt vừng lên khỏi tấm nỉ xanh.

Ba giây. Bốn giây. Năm giây.

Đầu nhíp không rung.

Anh đặt con ốc xuống. Anh nhìn bàn tay mình nằm trong cái máng gỗ nâu đen, gỗ của một cái cửa đình đổ, gỗ một người ông anh chưa từng gặp đã để dành dưới gầm bàn năm mươi năm.

– Anh bỏ cái gối nâu hồng vào đâu? – Thao hỏi.

– Anh để nguyên. – anh nói. – Lót bên dưới. Cho cái máng khỏi lạnh.

Chiều hôm ấy anh xin gặp bà.

Bà ngồi ghế mây. Anh đứng ở bậc cửa, không vào, hai tay buông thõng. Thao đứng ở bàn cắt, đang là cái áo dài Tết cho mẹ.

– Bà ơi. – anh nói. – Cháu xin bà cho cháu thuê cái hiên.

Bà nhìn anh.

– Thuê bằng gì?

– Dạ. Bằng lời hứa. – anh nói. – Như ông cháu.

Bà không trả lời ngay. Bà bóp quả bóng cao su. Bóp, thả. Rồi bà đặt nó xuống.

– Cậu còn ngồi được thì còn chỗ. – bà nói.

Thước cúi đầu.

– Còn cái tay cậu. – bà nói, giọng bình thường như hỏi giá chỉ. – Run thì tì vào cái gỗ ấy. Đừng có giấu. Tao biết từ tháng Chín.

Thước ngẩng lên. Thao đặt cái bàn là xuống.

– Bà biết ạ?

– Hôm đầu tiên cậu ăn bát mì, cậu dừng đũa trên miệng bát. – bà nói. – Tao may áo năm mươi năm. Tay ai run tao biết. Tao không nói vì cậu không nói. Bây giờ cậu nói rồi thì tao nói.

Đêm ba mươi Tết, mà năm nay là hai mươi chín, vì tháng Chạp thiếu.

Bà cúng tất niên lúc sáu giờ chiều, đúng sáu giờ thiên hạ, vì đồng hồ quả lắc bây giờ đã đúng. Mẹ bày mâm. Thao bày đĩa xôi gấc, đĩa giò, bát canh măng. Ba người ăn cơm tất niên ở cái bàn tròn kê giữa tiệm, cạnh bàn cắt.

Mười một giờ đêm, có tiếng xe lăn lạch cạch ngoài hiên.

Thước đẩy, chú Quân đi bên cạnh. Ông Hàm ngồi trên xe lăn, mặc bộ com lê màu ghi đã sờn cổ, bộ com lê xưa nay ông chỉ mặc ngày giỗ ông Khoan, cổ tay trái có chiếc đồng hồ mặt ngà.

Bà đứng ở bậc cửa.

– Anh Hàm. – bà nói. – Năm nay anh xông nhà tôi.

– Tôi không bước được qua cái bậc cửa này đâu, cô Vóc.

– Thì để thằng Thước đẩy anh qua. – bà nói. – Bánh xe anh qua bậc cửa trước thì cũng là anh qua.

Mười hai giờ. Tiếng pháo hoa từ phía bờ hồ vọng về, lép bép, rồi rền lên. Thước nhấc hai bánh trước của xe lăn lên, đẩy qua bậc cửa tiệm may. Ông Hàm vào nhà. Năm mươi sáu năm ngồi ở hiên, lần đầu tiên ông là người xông nhà này.

Bà rót rượu nếp. Một chén cho ông Hàm. Một chén cho mình. Mẹ cầm chai rượu, đi vòng quanh bàn tròn, rót cho Thao, cho Thước.

Rồi mẹ dừng lại trước chú Quân.

Chú Quân ngồi ở cái ghế đẩu cạnh cửa, hai tay đặt trên đầu gối. Chú ngẩng lên nhìn mẹ.

Mẹ rót cho chú một chén. Đầy. Không sánh ra giọt nào.

– Năm mới. – mẹ nói.

– Năm mới. – chú Quân nói.

Không ai nói thêm. Mẹ quay về chỗ ngồi. Trên cổ tay trái mẹ, chiếc đồng hồ nhỏ mặt tròn chỉ mười hai giờ năm phút. Thao thấy chú Quân nhìn nó.

Ông Hàm nâng chén.

– Anh Khoan. – ông nói. Rất khẽ, không phải nói cho ai nghe.

Bà nâng chén theo. Bà không nói gì. Bà ngước nhìn lên trần, về phía gian thờ trên gác, nơi có cái ảnh ông mặc áo sơ mi trắng, cười hiền, cái cằm vuông. Rồi bà uống.

Mười hai giờ hai mươi, Thao ra hiên.

Pháo hoa đã tắt. Phố Hàng Chỉ thơm mùi hương trầm từ những nhà vừa cúng giao thừa xong, mùi khói pháo lẫn mùi gió lạnh. Cái cột đèn bên kia đường vẫn sáng, vùng sáng tròn trên vỉa hè trống trơn.

Thước ra theo cô. Hai người đứng cạnh quầy kính. Cái giá đỡ cổ tay bằng gỗ lim nằm trên mặt tủ, sáng bóng dưới ánh đèn đường.

– Hai mươi ba qua lâu rồi. – Thao nói. – Anh hẹn hỏi em một câu.

– Dạ.

– Anh hỏi đi. Em không cầm kim.

Thước nhìn cô. Rồi anh nhìn lên tấm ván gỗ sau tủ kính, lên hàng đinh trên cùng. Cây đinh thứ ba trống. Chỉ có một vệt gỗ sáng hơn, hình chữ nhật nhỏ.

– Nhà hát mời em ký hợp đồng. – anh nói. – Anh biết. Cô Vân nói.

– Em ký rồi. Hôm qua. Ký qua thư.

– Vậy em ở Hà Nội.

– Em ở Hà Nội. Thứ Sáu em về. Thứ Hai em đi. – Thao nói. – Bà còn may được. Tay bà khá rồi. Cuối tuần em nhận đơn ở tiệm. Ngày thường em ở xưởng.

– Anh ở đây.

– Anh ở đây.

Thước im một lúc.

– Câu anh muốn hỏi là vậy. – anh nói. – Anh muốn hỏi em có về hông. Bà với cô Vân chờ người ta năm mươi năm, hai mươi tám năm, hông ai hỏi. Anh hông muốn chờ. Anh hỏi.

– Thế anh hỏi đi.

– Em có về hông?

– Thứ Sáu nào em cũng về. – Thao nói. – Sáng thứ Hai anh lên dây xong em mới đi.

– Anh đâu còn cái gì để lên dây.

– Thì anh lên dây cái đồng hồ quả lắc trong tiệm. – cô nói. – Nó đúng giờ rồi, nhưng nó vẫn phải lên dây mỗi tuần. Bà sẽ bảo anh. Bà thích nó chạy.

Thước cười. Cái cười khàn, ngắn, như cái lò xo bị bật ra rồi tự thu lại.

Thao đưa tay ra, đặt lên cổ tay anh, đúng chỗ xương nhô lên. Cô ấn nhẹ nó xuống mặt cái giá đỡ bằng gỗ lim.

– Anh thở ra đi.

Anh thở ra.

Cô hôn anh. Ở hiên tiệm may phố Hàng Chỉ, phút thứ hai mươi mốt của năm mới, trước một cái quầy kính có cây đinh thứ ba trống, dưới một cửa sổ tầng hai không còn rèm buông.

Trong tiệm, có tiếng ghế xê dịch, tiếng chén rượu đặt xuống bàn. Rồi tiếng bà, to, rõ, vọng ra qua cửa ngách:

– Hai đứa vào đây. Đứng ngoài ấy gió máy.

— Hết chương 35 —

Mục lục Chiếc đồng hồ số bốn mốt ở hiên tiệm may

  1. 1Thứ Hai lên dây12 phút đọc
  2. 2Chín cái áo cho nhà bà Liễu11 phút đọc
  3. 3Ông Hàm không nhìn thấy kim10 phút đọc
  4. 4Phong bì của mẹ10 phút đọc
  5. 5Đường lược chỉ đỏ10 phút đọc
  6. 6Buổi thử áo thứ Bảy10 phút đọc
  7. 7Hội hưu trí nhà máy dệt10 phút đọc
  8. 8Đêm Trung thu ở làng nhuộm10 phút đọc
  9. 9Dấu khắc tháng Mười một10 phút đọc
  10. 10Một lời nói dối về khách10 phút đọc
  11. 11Bàn tay trên mặt bàn cắt9 phút đọc
  12. 12Tấm ảnh trên bậc hiên10 phút đọc
  13. 13Sân ga lúc chín giờ bốn mươi10 phút đọc
  14. 14Tà áo đứt chỉ trước giờ rước dâu10 phút đọc
  15. 15Người từ Sài Gòn10 phút đọc
  16. 16Bản vẽ thứ bảy10 phút đọc
  17. 17Đêm ở hành lang khoa chấn thương10 phút đọc
  18. 18Hai mươi tám năm ở hành lang10 phút đọc
  19. 19Cục chì trong gấu áo9 phút đọc
  20. 20Hợp đồng đặt cọc11 phút đọc
  21. 21Thứ Hai không ai lên dây11 phút đọc
  22. 22Ông Tư lụa10 phút đọc
  23. 23Bậc thềm nhà hát10 phút đọc
  24. 24Mẫu thử số một9 phút đọc
  25. 25Mưa chiều Bảo Lộc11 phút đọc
  26. 26Người đứng dưới cột đèn10 phút đọc
  27. 27Tháng Chạp10 phút đọc
  28. 28Bà đã nhìn thấy10 phút đọc
  29. 29Lời của ông Khoan11 phút đọc
  30. 30Số bốn mốt10 phút đọc
  31. 31Tiền cọc gấp đôi9 phút đọc
  32. 32Đêm tổng duyệt10 phút đọc
  33. 33Chuyến tàu ngày ông Công ông Táo10 phút đọc
  34. 34Cánh cửa10 phút đọc
  35. 35Giao thừa phố Hàng Chỉ10 phút đọc
  36. 36Thứ Hai đầu năm10 phút đọc

Về truyện này

Chiếc đồng hồ số bốn mốt ở hiên tiệm may là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →