Chương 29: Lời của ông Khoan
Ông Hàm ngồi trên xe lăn dưới giàn trầu không, chiếc đồng hồ số bốn mốt nằm trong lòng bàn tay trái. Khi Thao nói xong câu thứ nhất, ông nắm bàn tay lại, chặt đến mức các khớp ngón trắng bệch ra.
– Bà cháu nhìn thấy, ông ạ. – Thao nói. – Đêm hai mươi mốt tháng Mười một năm bảy sáu. Bà đứng sau rèm. Bà bế mẹ cháu. Bà thấy ông ấy dưới cột đèn. Bà thấy ông đưa cái đồng hồ. Bà kéo rèm.
Sáng thứ Bảy, hai mươi sáu tháng Mười hai. Trời cuối năm xám và hanh, gió bấc thổi qua khe ngõ Kim rít lên như tiếng ai thổi vào miệng chai. Thao về từ tối thứ Sáu. Cả tuần qua ở Hà Nội cô ngủ được rất ít. Cô đã nghĩ suốt năm ngày xem có nên nói với ông Hàm không. Bà không cấm. Bà không bảo nói. Bà chỉ úp cái chén rượu xuống bàn cắt rồi đi lên gác.
Sáng nay cô quyết định. Không phải vì cô biết làm thế là đúng. Mà vì cô đã thấy nhà mình năm mươi năm không ai nói, và cô không muốn là người tiếp theo.
Ông Hàm ngồi im rất lâu. Gió thổi giàn trầu không xào xạc. Ở đâu đó trong ngõ có tiếng chị Hằng gọi con về ăn sáng.
– Ông biết. – ông nói. Rồi ông lắc đầu. – Không. Ông không biết. Ông ngờ.
– Ông ngờ từ bao giờ ạ?
– Từ cái đêm ấy. – Ông nhìn vào cái chỗ bên trái vai cô. – Lúc ông đứng dậy, ông thấy rèm tầng hai kéo vào. Ông thấy cái bóng đứng sau rèm. Đứng yên. Một tiếng. Ông làm thợ đồng hồ, cháu ạ. Ông biết cái gì đứng yên là cái gì đang chờ. Người ru con thì đi đi lại lại. Người đứng yên thì đang nhìn.
Ông thở ra.
– Năm mươi năm ông ngờ thế. Ông không dám hỏi. Hỏi cô Vóc thì cô Vóc phải trả lời. Mà cô Vóc trả lời câu ấy thì cô Vóc gãy.
– Ông Thụy có biết không ạ?
– Không. – ông Hàm nói. – Anh Thụy tin là cô Vóc không nhìn thấy. Anh ấy tin cô ấy ru con, rồi kéo rèm cho con ngủ. Anh ấy tin thế năm mươi năm. Ông không nói. Ông nói thì anh ấy biết là cô Vóc đã nhìn thấy anh ấy đứng đấy, mà không xuống. Ông không nỡ.
Thao nhìn bàn tay ông đang nắm chiếc đồng hồ.
– Ông ơi. – cô nói. – Đêm ấy ông ngoại cháu xuống. Ông ngoại cháu nói gì với ông Thụy?
Ông Hàm không trả lời ngay.
Ông mở bàn tay ra. Chiếc đồng hồ nằm đó, kim giây xanh lam chạy đều. Ông đưa ngón cái miết lên mặt kính, một vòng, hai vòng, như người ta miết lên mặt một tấm ảnh.
– Anh Khoan không bắt ông hứa gì. – ông nói. – Anh Khoan chỉ bảo, lúc anh ấy quay vào: anh Hàm, chuyện đêm nay là của ba thằng đàn ông. Thế thì ông giữ. Anh Thụy giữ phần anh Thụy. Ông giữ phần ông. Phần anh Khoan thì anh Khoan mang đi rồi.
– Bà cháu không bao giờ hỏi. – Thao nói. – Bà bảo với cháu thế. Ông Khoan xuống nói gì, bà không bao giờ hỏi.
Ông Hàm gật. Rất chậm.
– Thế thì bây giờ cô Vóc cần biết. – ông nói.
Ông nhắm mắt lại. Thao thấy môi ông mấp máy trước khi ông nói thành tiếng, như người đang tìm lại một câu đã cất đi từ lâu, phủi bụi, xếp lại cho đúng thứ tự.
– Anh Khoan khoác cái áo bông, đi ra hiên. Anh ấy đưa anh Thụy điếu thuốc, châm lửa cho anh Thụy. Anh ấy hỏi anh Thụy bị thương ở đâu, mẹ anh Thụy có khoẻ không. Anh Thụy trả lời. Rồi anh Khoan nói, ông nhớ từng chữ, vì cả đời ông chưa nghe ai nói câu nào như thế.
Ông mở mắt.
– Anh Khoan nói: nếu cô ấy mở cửa xuống, tôi bế con về nhà mẹ tôi, anh không phải nói gì. Nếu cô ấy không xuống, anh đừng đến nữa. Nhưng tôi sẽ không bao giờ nói với ai là anh chết.
Thao ngồi im.
Gió thổi qua giàn trầu không. Một chiếc lá to bằng bàn tay rơi xuống, nằm trên tấm chăn len trên đùi ông Hàm. Ông không biết. Ông vẫn nhìn vào khoảng không bên trái vai cô.
– Rồi anh Khoan đứng đấy. – ông nói. – Đứng với anh Thụy. Hai người đứng ở hiên, cùng nhìn lên cái rèm. Một tiếng. Cô Vóc không xuống. Anh Thụy tháo đồng hồ ra, đưa ông, dặn ông. Rồi anh Thụy bắt tay anh Khoan. Anh Thụy đi. Anh Khoan đứng nhìn theo đến khi không còn thấy, rồi mới vào.
– Ông ngoại cháu…
– Ông Khoan giữ đúng lời. – ông Hàm nói. – Ba mươi tư năm. Đến lúc anh ấy mất, cả phố này nói anh Thụy hy sinh. Cô Vóc nói. Ông nói, vì ông giữ lời với anh Thụy. Mẹ cháu nói, vì nghe cả phố nói. Cháu cũng nói, hồi tháng Chín, ở làng nhuộm. Cả phố này ai cũng nói câu ấy ít nhất một lần.
Ông im.
– Trừ anh Khoan. – ông nói. – Anh Khoan chưa bao giờ nói. Ông để ý ba mươi tư năm. Ai nhắc đến anh Thụy, anh Khoan đứng dậy đi rót nước. Không một lần nào anh ấy nói câu ấy.
Thao về đến hiên lúc mười giờ.
Bà ngồi ở bàn cắt, đang cắt một miếng lụa nâu non bằng cái kéo sắt nặng, cổ tay tì xuống mặt gỗ lim. Bà cắt chậm, mỗi nhát kéo một hơi thở ra. Thao đứng ở cửa nhìn bà cắt ba nhát. Rồi cô vào, kéo cái ghế đẩu lại, ngồi xuống đối diện bà.
– Bà ơi. Cháu sang ông Hàm. Cháu kể với ông rồi.
Cái kéo dừng giữa miếng lụa.
– Mày kể cái gì?
– Cháu kể bà nhìn thấy.
Bà đặt cái kéo xuống. Bà không mắng. Bà nhìn cháu. Cái nhìn ấy không phải giận. Thao không biết gọi nó là gì.
– Ông Hàm kể cho cháu lời ông ngoại cháu. – Thao nói. – Đêm ấy.
Bà không nói gì. Hai bàn tay bà đặt trên mặt bàn cắt, cạnh cái kéo.
Thao nói. Cô nói đúng từng chữ ông Hàm nói, không thêm, không bớt, không đổi giọng. Nếu cô ấy mở cửa xuống, tôi bế con về nhà mẹ tôi, anh không phải nói gì. Nếu cô ấy không xuống, anh đừng đến nữa. Nhưng tôi sẽ không bao giờ nói với ai là anh chết.
Rồi cô nói phần sau. Ông Khoan đứng ở hiên một tiếng với ông Thụy, cùng nhìn lên cái rèm. Ông Khoan chờ bà quyết. Ông Khoan không lên gác gọi bà. Ông Khoan không kéo rèm. Ông Khoan để bà chọn.
Và ba mươi tư năm, ông chưa từng nói câu "anh Thụy hy sinh".
Bà ngồi im. Bà nhìn xuống mặt bàn cắt. Những vết dao, vết kéo, vết phấn, năm mươi năm, nhẵn như mặt đá. Cái bàn ông Khoan đóng năm bảy lăm bằng gỗ cửa đình đổ.
– Còn một chuyện nữa bà ạ. – Thao nói. Cô đã định không nói chuyện này. Nhưng cô đã ngồi xuống rồi. – Sáng mười lăm tháng Tám năm chín tám, ông ngoại cháu đặt lên bàn học của mẹ cháu một cái phong bì. Ông bảo: đi đâu thì cũng ăn cho đủ. Mẹ cháu kể. Mẹ cháu không biết ông biết từ bao giờ.
Bà ngẩng lên.
Thao thấy cái mặt bà thay đổi. Không phải vỡ ra. Mà như một tấm lụa căng trên khung bị cắt mất một sợi chỉ giữ, từ từ chùng xuống.
– Ông mày cho nó tiền. – bà nói.
– Dạ.
– Ông mày cho nó đi.
– Dạ.
Bà ngước nhìn lên trần, về phía gian thờ trên gác, nơi có ảnh ông Khoan, cái ảnh chụp năm ông sáu mươi tuổi, mặc áo sơ mi trắng, cười hiền, cái cằm vuông. Cái cằm ông Thụy bảo Thao giống.
– Đêm ấy ông mày đứng sau lưng tao. – bà nói. Bà không còn nói "bà" nữa. Bà nói "tao", như lúc mắng cháu, nhưng giọng thì không phải giọng mắng. – Ông mày nhìn tao một lúc. Ông mày hỏi anh Thụy à. Tao không trả lời. Ông mày đi xuống. Tao tưởng ông mày xuống để đuổi anh ấy đi. Năm mươi năm tao tưởng thế. Tao tưởng ông mày giữ tao lại. Tao tưởng tao không xuống được vì có ông mày đứng ở hiên.
Bà đưa tay lên che miệng.
– Ông mày xuống để mở cửa cho tao.
Rồi bà khóc.
Thao chưa từng thấy bà khóc. Ngày ông mất, bà không khóc. Bà ngồi ở đầu linh cữu ba ngày, mặc áo trắng, tóc búi, lưng thẳng, ai đến thắp hương bà cũng đứng dậy cảm ơn. Cả phố bảo bà Vóc cứng. Thao lúc ấy mười tuổi, cô cũng nghĩ bà cứng.
Bây giờ bà khóc. Không phải như ông Hàm, nước mắt chảy mà mặt không méo. Không phải như mẹ, ngồi thẳng mà không lau. Bà khóc như một người già khóc, gập người xuống trên cái bàn cắt, hai tay ôm lấy mép bàn gỗ lim, vai rung lên từng hồi. Tiếng khóc thoát ra khỏi cổ họng khàn và đứt quãng, như tiếng một cái máy may cũ bị kẹt chỉ.
Thao đứng dậy, đi vòng qua bàn cắt, ôm lấy bà từ phía sau. Cô ôm cái lưng gầy ấy, cái lưng cả đời thẳng như có cây thước dọc theo. Bây giờ nó cong xuống trong tay cô.
– Anh Khoan ơi. – bà nói vào mặt bàn. – Anh Khoan.
Hai bà cháu ở như thế đến khi đồng hồ quả lắc điểm mười một giờ, sớm bảy phút.
Chiều hôm ấy bà không xuống tiệm. Bà ngồi trên gác, trước bàn thờ ông Khoan. Thao mang cơm lên, bà ăn được nửa bát. Tối bà thắp hương, đứng trước ảnh ông rất lâu. Thao không nghe được bà nói gì.
Đêm thứ Bảy, Thao gọi cho Thước, kể hết. Anh nghe, không ngắt lời một lần. Kể xong, anh im một lúc rất lâu.
– Ông Tư hông biết. – anh nói. – Ông Tư vẫn tin là bà hông thấy.
– Ông Hàm bảo ông không nỡ nói.
– Bây giờ thì sao em?
– Em không biết. – Thao nói. – Đấy là việc của bà.
Chủ nhật bà vẫn ở trên gác. Bà xuống ăn cơm, ngồi ghế mây một lúc, bóp quả bóng cao su, rồi lại lên. Bà không nói gì về chuyện hôm qua. Thao không hỏi.
Đêm Chủ nhật Thao không ngủ. Cô nằm nghe đồng hồ quả lắc điểm từng giờ. Gần năm giờ, cô nghe tiếng cửa phòng bà mở.
Cô dậy, ra đầu cầu thang. Bà đã xuống đến tầng một. Bà mặc cái áo cánh nâu, khoác ngoài cái áo bông cũ màu xanh rêu, cái áo của ông Khoan treo trong tủ mười sáu năm nay. Tóc bà đã búi. Bà đứng ở cửa ngách, tay cầm cái đèn pin.
Đồng hồ quả lắc chỉ năm giờ hai mươi, tức là năm giờ mười ba.
Thao xuống theo.
– Bà đi đâu ạ?
– Thứ Hai. – bà nói. – Mày đi với tao.
Ngõ Kim còn tối. Đèn đường trên phố Hàng Chỉ hắt vào khe ngõ được vài mét rồi tắt. Bà đi trước, đèn pin rọi xuống mặt gạch, bước chậm, cái tay phải nắm chặt vạt áo bông. Thao đi sau, không đỡ, vì bà không cho đỡ. Hai mươi phút cho một quãng đường mà hồi trẻ bà đi ba phút.
Cửa nhà ông Hàm đã mở. Đèn trong nhà đã sáng. Radio đã bật, giọng đọc bản tin thời tiết: Bắc Bộ trời rét, nhiệt độ thấp nhất mười một độ.
Ông Hàm ngồi trên xe lăn kê sát phản, chiếc đồng hồ số bốn mốt trong lòng bàn tay trái, ngón cái tay phải đặt lên cái núm vặn. Ông đang chuẩn bị lên dây.
Ông nghe tiếng chân. Hai đôi dép. Một đôi kéo gót trái. Một đôi không.
Ông dừng tay. Ông quay mặt về phía cửa, nhìn lệch sang bên trái như mọi lần.
Bà đứng ở bậc cửa nhà ông. Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm, Thao không biết. Bà tắt đèn pin.
– Anh Hàm. – bà nói. – Cái số bốn mốt.
— Hết chương 29 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe