Chương 25: Mưa chiều Bảo Lộc
Mùi đầu tiên Thao ngửi thấy khi bước qua cổng xưởng là mùi kén luộc, ngai ngái, ngọt, hơi tanh, như mùi ngô luộc để qua đêm, và cô biết mình đã đến đúng chỗ trước khi nhìn thấy ai.
Cô bay chuyến sáng thứ Bảy vào sân bay Liên Khương, rồi đi xe khách xuống Bảo Lộc hai tiếng rưỡi, đường đèo uốn qua những đồi chè xanh thẫm và những rừng thông lấm tấm nắng. Thước đứng chờ ở bến xe. Anh gầy đi nữa, râu chưa cạo, mặc một cái áo khoác len cũ không phải của anh. Anh thấy cô bước xuống xe, giơ tay lên một nửa rồi hạ xuống, như không biết mình có được phép vẫy không.
Thao đi thẳng đến trước mặt anh.
– Anh tắt máy năm ngày. – cô nói.
– Dạ.
– Anh nói gì khác đi.
– Anh xin lỗi. – Thước nói. – Tối nay anh nói hết với em. Bây giờ ông đang chờ.
Xưởng nhuộm nằm ở rìa thị trấn cũ, cuối một con dốc đất đỏ, sau lưng là một đồi dâu. Cổng sắt sơn xanh. Sân lát xi măng, ba cái bể nhuộm, những hàng sào phơi lụa: xanh lam, vàng nghệ, nâu cánh gián, hồng đất. Trong nhà xưởng mái tôn, mấy cái nồi to đang sôi, hơi nước bốc lên, mấy chị thợ đeo găng cao su vớt kén, kéo sợi tơ vàng óng quấn lên guồng. Mùi kén luộc đặc quánh trong không khí.
Một người đàn bà chừng bốn mươi lăm tuổi đi ra từ nhà xưởng, tạp dề cao su, tóc buộc gọn, tay còn dính nước nhuộm xanh. Chị nhìn Thao một lượt, cái nhìn đo người của dân làm nghề.
– Em là Thao. Cháu bà Vóc.
– Chị là Hiên. – Chị lau tay vào tạp dề, chìa ra. Giọng chị Nam, mềm, nhưng câu nói thì gọn như người Bắc. – Bố chị ngồi ở hiên sau. Từ sáng tới giờ ông hỏi giờ ba lần.
Hiên sau là một mái tôn thấp nhìn ra đồi dâu. Có một bộ bàn ghế gỗ, một ấm trà, và một ông già ngồi ở đó.
Ông gầy, cao, lưng hơi còng, tóc bạc trắng cắt ngắn, lông mày rậm đã bạc gần hết. Ông mặc áo sơ mi trắng xắn tay lên khuỷu, giống hệt tấm ảnh năm hai nghìn lẻ chín, như ông chỉ có một kiểu áo cả đời. Cổ tay trái để trần. Khi Thao bước vào, ông đứng dậy, chậm, chống một tay lên mặt bàn.
Ông nhìn cô lâu. Rất lâu. Rồi ông nói, giọng Bắc, mà những chữ cuối câu thì đã tròn như người trong này:
– Cháu không giống bà. Cháu giống ông Khoan.
Thao không biết trả lời thế nào. Cô chưa từng nghe ai nói cô giống ông ngoại.
– Ngồi đi. – ông nói. – Ngồi đi cháu. Uống trà.
Cô ngồi. Thước ngồi cạnh cô. Chị Hiên rót trà rồi đứng ở cột hiên, khoanh tay, không đi.
Ông Thụy rót thêm trà vào chén Thao, dù chén chưa vơi. Tay ông không run. Tay ông to, các khớp xương nhô ra, móng tay xanh nhạt một màu không gột được, màu của năm mươi năm nhuộm chàm.
– Thằng Thước đến đây từ thứ Hai. – ông nói. – Ba ngày tôi không ra gặp nó. Tôi bảo con Hiên nói tôi ốm.
– Ba ngày con ngồi ở xưởng. – Thước nói nhỏ với Thao. – Phụ chị Hiên vớt lụa.
– Nó vớt lụa giỏi. – chị Hiên nói từ cột hiên. – Tay vững.
– Thứ Năm tôi ra. – ông Thụy nói. – Tôi ra vì nó ngồi vớt lụa, cái lưng nó giống thằng Quân năm chín tám. Thằng Quân ở đây ba hôm, cũng ngồi vớt lụa cho tôi, không hỏi gì. Tôi không chịu được hai lần.
Ông đặt ấm trà xuống.
– Nó cho tôi xem cái ảnh chụp nắp đồng hồ. – ông nói. – Anh Hàm vẫn vạch chữ ấy. Năm mươi năm, chữ không đổi.
Thao nhìn ông. Cô nhìn cái cổ tay trái ấy, trần, gầy, có một vệt da sáng hơn mờ mờ chỗ xương nhô lên, mờ đến mức nếu không biết thì không thấy.
– Ông là ông Thụy. – cô nói. Không phải hỏi.
Ông Thụy cười. Cái miệng mím lại, cái kiểu mím nhịn cười của người con trai trước phông cây dừa.
– Ở đây người ta gọi tôi là ông Tư. – ông nói. – Tên Thụy chết năm bảy tư. Còn trên bia ở quê.
– Bố. – chị Hiên nói từ cột hiên.
– Ừ. Thôi.
Ông hỏi Thao về bà. Ông hỏi từng thứ nhỏ: bà còn búi tóc không, bà còn ngồi thẳng không, bà còn cúng mồng một không, cái bàn cắt còn không. Thao trả lời từng câu. Bà vẫn búi tóc, kẹp cái kẹp ba lá. Bà ngồi thẳng như có cái thước dọc lưng. Mồng một nào cũng cúng xôi gấc. Bàn cắt vẫn còn, gỗ lim, ông Khoan đóng.
– Anh Khoan đóng. – ông nhắc lại. – Anh Khoan làm mộc khéo.
Rồi ông hỏi:
– Cô ấy còn đặt cái đồng hồ nhanh bảy phút không?
– Còn ạ. – Thao nói. – Năm mươi tư năm. Ai chỉnh bà cũng vặn lại.
Ông Thụy nhìn ra đồi dâu. Ông không nói gì một lúc.
– Ông ơi. – Thao hỏi. – Tại sao bảy phút?
Ông cười. Lần này cười thành tiếng, khàn, ngắn.
– Tại tôi. – ông nói. – Hồi ấy tôi làm ca sáng ở phân xưởng cơ khí, sáu giờ vào ca. Năm giờ rưỡi tôi đạp xe qua phố Hàng Chỉ, dừng ở hiên nhà cô ấy. Cô ấy dậy sớm, mở cửa trước chợ. Tôi ngồi ở bậc hiên nhìn cô ấy quét nhà, nói dăm câu, rồi đi. Lần nào tôi cũng tiếc, ngồi thêm một chút. Lần nào vào ca cũng muộn bảy phút. Tổ trưởng ghi tên tôi vào sổ, tháng nào cũng bị trừ thưởng.
Ông lắc đầu, như vẫn còn tiếc cái tiền thưởng năm bảy mốt.
– Đầu năm bảy hai, một sáng tôi đến, cô ấy chỉ cái đồng hồ quả lắc trong tiệm, bảo: em vặn nó nhanh bảy phút rồi. Từ nay anh nhìn nó mà đi. Nó bảo đi là anh đi, đừng tiếc. – Ông nhìn xuống cái chén trà. – Thế là tôi nhìn nó mà đi. Ba tháng sau tôi đi bộ đội. Từ đấy không phải nhìn nữa.
Thao ngồi im. Cô nghĩ đến cái câu bà nói với cả phố, với Thước sáng thứ Hai đầu tiên: khách đến may đo cứ nhìn nó mà đi sớm. Đúng thật. Bà không nói dối. Bà chỉ không nói khách nào.
– Năm mươi tư năm. – Thước nói. – Ông đi rồi mà bà vẫn để nó nhanh.
– Thì cô ấy cứng đầu. – ông Thụy nói. – Cái gì cô ấy làm rồi thì cô ấy không sửa.
– Ông ơi. – Thao nói. – Ông ra Bắc với cháu đi.
Ông Thụy không trả lời ngay. Ông cầm cái chén trà, xoay nó trên mặt bàn, một vòng, hai vòng.
– Thôi. – ông nói.
– Ông…
– Thôi cháu ạ. – Giọng ông không cao lên, nhưng có cái gì đó đóng lại. – Cô ấy có chồng, có con, có cháu. Chồng cô ấy là người tốt. Tôi biết. Tôi không ra.
– Ông Khoan mất rồi ông ạ. Năm hai nghìn mười.
– Tôi biết. Anh Hàm viết. Bưu thiếp năm ấy anh Hàm viết thêm một dòng. – Ông đặt cái chén xuống. – Anh Khoan mất thì tôi càng không ra.
– Tại sao ạ?
Ông nhìn cô. Đôi mắt già, vàng ở lòng trắng, nhưng không đục như mắt ông Hàm.
– Vì tôi đã đứng ở đấy một lần rồi. – ông nói. – Một lần là đủ cho cả đời một người.
Ông không nói thêm. Ông đứng dậy, bảo ông đi nằm, chiều tối nói chuyện tiếp. Chị Hiên đỡ ông vào nhà. Đến cửa, ông quay lại, nhìn Thao một lần nữa.
– Cháu giống ông Khoan thật. – ông nói. – Cái cằm.
Chiều, trời đổ mưa.
Mưa cuối mùa trên cao nguyên đến nhanh như người ta kéo một tấm lụa ngang trời. Mây xám từ phía đồi chè tràn sang, rồi mưa trắng xoá, đập lên mái tôn xưởng như tiếng thoi bà Cả Nhung tả, cả phân xưởng chạy một lúc. Mấy chị thợ chạy ra rút lụa khỏi sào. Thao chạy ra cùng. Thước chạy ra cùng. Chị Hiên đứng giữa sân hét: lụa hồng đất trước, lụa hồng đất mà ướt là loang.
Ba người vác lụa ướt vào xưởng, ướt sũng từ đầu đến chân. Chị Hiên lấy cho Thao một cái áo len cũ của chị, cho Thước một cái khăn tắm. Rồi chị đứng nhìn hai người, lắc đầu, đi vào bếp nấu nước gừng.
Tối, mưa tạnh. Sương xuống. Sương Bảo Lộc dày đến mức đèn sân chỉ còn là một quầng sáng mờ như đèn sau tấm lụa. Ông Thụy ăn cơm sớm rồi đi nằm, bảo mai nói chuyện, tối nay ông mệt.
Thao và Thước ngồi ở hiên xưởng, dưới mái tôn còn nhỏ giọt, trên hai cái ghế gỗ thấp, nhìn ra cái sân trắng sương.
– Anh nói đi. – Thao nói.
Thước im một lúc lâu. Rồi anh nói. Anh nói như kể lại một ca sửa máy hỏng, từng bước một, không bỏ bước nào.
Thứ Năm tuần trước anh thấy hai tấm ảnh cạnh nhau, và anh biết. Anh định lên Hà Nội nói với cô thứ Bảy, nói rằng anh sẽ đi Bảo Lộc, nói rằng anh muốn cô đi cùng nếu cô xong áo mẫu. Bà sai anh mang cơm. Anh lên, ông bảo vệ bảo cô sang Tràng Tiền. Anh đi bộ sang. Anh đứng ở góc quảng trường dưới cây sấu, định chờ cô ra. Anh thấy cô ngồi trên bậc thềm. Anh thấy anh Duy đặt tay lên tay cô.
– Em rút tay ra. – Thao nói. – Mười lăm giây sau. Em rút ra.
– Anh hông đứng được mười lăm giây. – Thước nói. – Anh đứng được năm giây. Rồi anh quay đi.
– Tại sao?
– Tại anh nghĩ: anh ấy đạo diễn, anh ấy đứng tên vở diễn của em, anh ấy hông run tay. – Anh nhìn xuống hai bàn tay mình, đặt trên đầu gối. – Anh nghĩ: mình về mà làm gì. Rồi anh nghĩ đến ba anh năm chín tám. Đứng dưới cột đèn từ bốn giờ, sang gõ cửa, người ta nói người ta không đi. Ba anh tin. Ba anh đi. Anh đứng dưới cây sấu, anh thấy một bàn tay, anh tin. Anh đi.
– Rồi anh tắt máy.
– Rồi anh tắt máy. Vì anh sợ em gọi, em nói một câu mà anh hông muốn nghe. – Anh cười, không vui. – Anh hèn hơn ba anh. Ba anh còn gõ cửa.
Thao ngồi im. Sương đọng thành giọt trên mép mái tôn, rơi xuống từng giọt một, đều như kim giây.
– Anh Duy nói anh ấy quý em. – cô nói. – Em bảo em không muốn ngồi đấy với anh ấy mà nghĩ đến người khác. Anh ấy hỏi có người rồi à. Em bảo em không biết có phải là "có" không.
Thước quay sang.
– Bây giờ em biết rồi. – Thao nói. – Em biết từ cái lúc ông bảo vệ đưa em cái cặp lồng. Em ăn hết. Bà dặn đừng để thừa.
Anh nhìn cô. Trong sương, trong quầng đèn mờ, mặt anh rất gần. Anh không nói gì. Cô cũng không. Rồi cô nghiêng người sang, đặt tay lên cổ tay anh, đúng chỗ xương nhô lên, ấn nhẹ xuống như ấn nó xuống mặt bàn cắt.
– Anh thở ra đi. – cô nói.
Anh thở ra. Cô cảm thấy hơi thở anh chạm vào môi mình.
Rồi cô hôn anh.
Ở hiên một xưởng nhuộm trên cao nguyên, dưới mái tôn còn nhỏ giọt, giữa mùi kén luộc và mùi lụa ướt. Nhẹ, ngắn, như một mũi lược, rồi lâu hơn. Tay anh đưa lên chạm vào má cô. Không run.
Khi cô lùi ra, Thước vẫn nhắm mắt. Rồi anh mở mắt, nhìn cô như nhìn một cái máy vừa chạy lại sau khi anh tưởng đã hỏng hẳn.
– Ba giây. – anh nói.
– Hơn ba giây. – Thao nói.
Phía sau lưng họ có tiếng cửa mở. Chị Hiên bước ra hiên, tay cầm hai cốc nước gừng nóng. Chị nhìn hai người, đặt hai cốc nước lên cái bàn con, không nói gì về điều chị vừa thấy hay không thấy.
Chị đứng ở mép hiên một lúc, nhìn ra cái sân trắng sương, nơi đèn sân chỉ còn là một quầng mờ.
– Bố chị kể với em chưa? – chị hỏi Thao, không quay lại. – Chuyện cái tên.
– Ông bảo tên Thụy chết năm bảy tư. Còn trên bia ở quê.
– Còn trên bia. – Chị Hiên gật. – Năm mẹ chị mất, chị bảo bố về quê làm giấy tờ đi, xoá cái tên ấy đi, người ta sống sờ sờ ra đây. Bố chị bảo: để họ nhớ một thằng Thụy chết trẻ cũng được.
Chị quay lại nhìn Thao.
– Bố chị chưa bao giờ đi xoá. – chị nói. – Năm mươi năm. Em có hiểu vì sao không?
— Hết chương 25 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe