Chương 1: Thứ Hai lên dây
Tiếng lách cách ngoài hiên vang lên đúng lúc cái đồng hồ quả lắc dưới tiệm điểm năm giờ rưỡi. Thao biết nó điểm sai. Cả nhà này, cả phố Hàng Chỉ này, ai cũng biết đồng hồ nhà bà Vóc chạy nhanh bảy phút, nên năm giờ rưỡi của nó là năm giờ hai mươi ba của thiên hạ.
Cô nằm im nghe thêm. Lách cách. Một tiếng chìa xoay trong ổ. Rồi tiếng cánh tủ kính kêu kẹt một cái, cái tiếng mà hồi bé sáng nào cô cũng nghe, khi ông Hàm ngồi xuống chiếc ghế đẩu, kéo cánh tủ, lấy khăn lau mặt kính trước khi bày đồ nghề.
Nhưng ông Hàm đóng quầy từ tháng Tám. Mẹ nói trong điện thoại, mắt ông hỏng hẳn rồi, nhìn người chỉ thấy cái viền, giữa mặt là một vũng mờ. Ông không ra hiên nữa.
Thao khoác áo, xuống cầu thang bằng chân trần. Tầng một tối, mùi phấn may và mùi vải mới ùa lên mũi. Cô vớ cây thước gỗ dựng ở góc bàn cắt, cây thước mét bà dùng từ thời con gái, vạch sơn đen đã mòn. Cô cầm nó như cầm gậy.
Cửa xếp sắt vẫn khoá. Cô mở cánh cửa ngách bên hông, ló đầu ra.
Đèn đường vàng vọt hắt xuống hiên. Một người đàn ông ngồi xổm trước quầy kính của ông Hàm, ngậm cái đèn pin nhỏ trong miệng, hai tay thò vào trong tủ.
– Anh làm gì đấy?
Người kia giật mình, đèn pin rơi xuống gạch, lăn một vòng, chiếu thẳng vào chân Thao. Anh ta đứng dậy, giơ cả hai tay lên ngang vai, như người ta giơ tay trong phim.
– Dạ. Tôi tên Thước.
Thao chĩa đầu thước gỗ vào ngực anh ta.
– Tôi hỏi anh làm gì, tôi không hỏi tên.
– Thì tại cô cầm thước. – Anh ta liếc cái đầu thước, rồi nhìn cô. – Tôi là cháu ông Hàm. Ông dặn sáng thứ Hai phải lên dây trước sáu giờ.
Giọng Sài Gòn, chữ "dặn" kéo dài. Thao chưa hạ thước. Ông Hàm có một con trai ở trong Nam, cô có nghe, nhưng chưa từng nghe ai nói ông có cháu.
Cửa sổ tầng hai mở đánh rầm một tiếng.
– Cái Thao! – Bà Vóc thò đầu ra, tóc chưa búi, tay phải bó bột trắng treo trước ngực. – Để nó lên dây!
– Bà biết anh này à?
– Biết từ hôm thứ Bảy. Mày ngủ như chết thì biết gì. Để nó làm cho xong, sáu giờ rồi đấy.
Cánh cửa sổ đóng lại. Người tên Thước hạ tay xuống, nhặt cái đèn pin, lau vào ống quần.
– Đồng hồ nhà cô nhanh bảy phút. – anh nói. – Thật ra còn hơn nửa tiếng mới tới sáu giờ. Nhưng thôi, tôi làm lẹ.
Anh quay lại quầy. Thao đứng dựa cửa ngách, cây thước vẫn cầm trong tay, nhìn.
Phía sau tủ kính là tấm ván gỗ đóng đinh thành hàng, ngày xưa treo kín đồng hồ chờ sửa, mỗi chiếc buộc một cái thẻ bìa. Bây giờ phần lớn đinh trống. Chỉ còn vài chiếc lẻ tẻ, và ở hàng trên cùng, cây đinh thứ ba từ trái sang, một chiếc đồng hồ đeo tay dây da nâu đã nứt, mặt trắng ngả màu ngà. Cái thẻ buộc dây gai vàng ố, trên đó có hai chữ số viết bút chì: 41.
Thao biết chiếc đồng hồ ấy. Cô biết nó như biết cái cột điện trước cửa. Hồi bé cô tưởng đó là đồng hồ riêng của ông Hàm, chỉ là ông không thích đeo, nên treo ở chỗ dễ nhìn nhất.
Thước nhấc nó xuống, đặt lên lòng bàn tay trái, lấy ngón cái và ngón trỏ tay phải xoay núm. Anh đếm thầm, môi mấp máy. Thao đếm theo tiếng núm vặn rè rè. Đến khoảng ba chục thì anh dừng, đưa đồng hồ lên sát tai, nghiêng đầu nghe, rồi treo lại đúng cây đinh, chỉnh cho cái thẻ quay mặt ra ngoài.
– Xong. – anh nói.
– Đồng hồ ai mà phải lên dây?
– Của khách.
– Khách nào?
– Ông tôi hông nói. – Anh khoá tủ, nhét chìa vào túi áo. – Ông chỉ nói có chủ, chưa tới lấy thôi.
– Chưa tới lấy từ bao giờ?
Thước nhìn cái thẻ bìa.
– Từ năm bảy mươi hai.
Thao bật cười, rồi thấy anh không cười. Cô hạ cây thước xuống, dựng đầu nó trên gạch.
– Năm mươi tư năm.
– Dạ. Năm mươi tư năm. – Anh gật. – Thứ Hai nào ông cũng lên dây, trước sáu giờ. Giờ ông hông thấy đường đi ra đây, nên kêu tôi về.
Trời sáng dần. Bên kia phố, chị bán bánh cuốn kéo cái xe đẩy ra góc, tiếng bánh xe sắt lạo xạo trên mặt đường. Một ông đạp xích lô chở hàng đi qua, nhìn hai người đứng ở hiên, một người cầm thước gỗ, một người cầm đèn pin, rồi đạp tiếp.
Thao thấy mình đứng chân trần. Cô rụt một bàn chân lên mu bàn chân kia.
– Anh ăn sáng chưa?
– Dạ chưa.
– Thế thì vào. Bà tôi bảo vào đấy. – Cô nói vậy chứ bà chưa bảo gì. Nhưng ở nhà này, người ra hiên lúc sáng sớm chưa bao giờ phải đi về bụng đói.
Bà Vóc đã xuống tới tầng một khi hai người vào. Bà ngồi trên chiếc ghế mây cạnh bàn cắt, tay lành vuốt tóc, kẹp cái kẹp ba lá lên búi. Bảy mươi sáu tuổi, bà vẫn ngồi thẳng như người ta vừa đặt cái thước dọc lưng. Cái tay bó bột đặt lên đùi như một vật lạ người ta gửi bà giữ hộ.
– Cậu ngồi đây. – bà hất cằm về phía cái ghế đẩu. – Cái Thao nấu bát mì cho cậu ấy. Hai quả trứng.
– Dạ con ăn gì cũng được bà.
– Cháu. – bà sửa. – Ở đây không ai xưng con với người dưng.
– Dạ, cháu.
Thao đứng trong bếp đập trứng, nghe tiếng hai người ngoài tiệm. Bà hỏi ông nội cậu đêm qua ngủ được không, có chịu ăn cháo không. Cậu bảo ông dậy lúc ba giờ nghe radio, chê cháo nhạt. Bà bảo cái tính ông ấy năm mươi năm không đổi.
Rồi giọng Thước nhỏ đi, có vẻ ngập ngừng.
– Bà ơi, đồng hồ trên tường nhanh bảy phút. Để cháu chỉnh lại cho bà.
– Cấm.
– Dạ?
– Đồng hồ nhà tôi, tôi thích nó nhanh. – Giọng bà bình thường, như bảo cái cốc này để bên trái. – Khách đến may đo cứ nhìn nó mà đi sớm, không ai phải muộn.
Thao bưng bát mì ra. Thước ngồi trên ghế đẩu, hai gối co lên, nhìn cái đồng hồ quả lắc như nhìn một cái máy hỏng mà người ta không cho mình sửa. Cô đặt bát mì trước mặt anh.
– Đừng có đụng vào cái đồng hồ ấy. – cô nói. – Tôi lớn lên trong nhà này hai mươi sáu năm, chưa ai được đụng.
– Vậy hồi cô đi học thì sao?
– Thì tôi đến trường sớm bảy phút. Cả đời.
Anh cười, cúi xuống ăn. Lúc cầm đôi đũa, Thao thấy tay anh hơi khựng lại một chút trên miệng bát, như người ta dừng tay trước khi bước qua một vũng nước. Rồi anh gắp, ăn bình thường.
Bà Vóc nhìn Thao.
– Chín xấp lụa nhà bà Liễu đấy. Hôm nay mày đo xong ba người. Bà Liễu hẹn chín giờ.
– Cháu biết rồi.
– Biết thì đi rửa mặt đi. Đứng chân đất thế kia, ra ngoài người ta lại bảo nhà này hết dép.
Chín giờ kém năm theo đồng hồ của bà, tức là chín giờ kém mười hai của thiên hạ, có tiếng xe ô tô đỗ trước cửa. Không phải nhà bà Liễu. Là mẹ.
Mẹ cô, Tạ Hồng Vân, bước xuống từ một chiếc taxi trắng, váy công sở màu ghi, giày cao gót vừa phải, túi da đeo vai. Theo sau là một người đàn ông chừng gần bốn mươi, sơ mi trắng sơ vin, tay cầm cái thước cuộn bằng thép và một tập giấy kẹp bìa nhựa.
– Mẹ. – Tiếng mẹ gọi vọng vào, chưa bước lên bậc. – Con dẫn anh Tuấn sang đo nhà. Con nói với mẹ hôm thứ Năm rồi đấy.
– Thứ Năm tao đang nằm trên băng ca. – Bà Vóc không đứng dậy. – Chị nói gì tao nhớ được.
Thao đứng ở giữa tiệm, tay cầm cuộn thước dây, cổ còn quàng sợi dây đo. Cô gọi mẹ một tiếng. Mẹ nhìn cô từ đầu đến chân, gật, như đếm thấy đủ người.
– Con về lúc nào?
– Tối qua ạ.
– Mẹ bảo con về để đỡ bà, chứ không bảo con về để nhận may áo cho cả phố.
– Đơn bà nhận từ tháng trước. Bà Liễu đặt cọc rồi.
Mẹ thở ra một hơi ngắn, không nói gì nữa. Mẹ vẫn hay thở như thế khi một con số không khớp.
Anh Tuấn chào bà Vóc rất lễ phép, xin phép đo. Anh đo mặt tiền, đo chiều sâu, rồi khựng lại trước quầy kính của ông Hàm. Thước đang ngồi sau quầy, lấy khăn lau từng cái nhíp, xếp lên tấm nỉ xanh.
– Anh làm ơn cho em đo phần này. – Tuấn nói.
Thước đứng lên, lùi ra một bên. Không hỏi đo làm gì.
Mẹ bước lên bậc hiên. Đến bậc thứ hai, mẹ dừng lại, lâu hơn người ta cần để lấy hơi. Mẹ nhìn Thước. Thước cũng nhìn mẹ, rồi cúi đầu chào.
– Dạ con chào cô.
– Cậu là con nhà ai?
– Dạ, con là cháu ông Hàm.
Mặt mẹ không thay đổi. Chỉ có cái quai túi da trên vai mẹ được kéo lên một chút, như người ta kéo lại cổ áo khi gió lùa. Mẹ quay sang Tuấn.
– Phần hiên này tính vào diện tích sử dụng nhé anh.
– Vâng chị. Bên em cần chỗ này làm lối lên cho xe lăn và đặt quầy tư vấn. – Tuấn ghi vào tập giấy. – Quầy kia… bên chị dỡ trước ngày mười lăm tháng sau được không ạ? Bên em cần nhận mặt bằng trống để thi công.
– Được. – Mẹ nói.
– Chị bán nhà chị à? – Tiếng bà Vóc vọng ra từ trong tiệm, không to mà rõ từng chữ.
Mẹ đứng yên trên hiên một giây. Rồi mẹ bước vào, ngồi xuống cái ghế đối diện bà, hai đầu gối khép, đặt túi lên đùi.
– Mẹ. Nhà của mẹ, con không bán được. Con chỉ xin mẹ nghĩ. – Mẹ nói chậm, như đọc lại một bản báo cáo đã soạn sẵn. – Mẹ bảy mươi sáu tuổi. Mẹ ở một mình. Thứ Năm vừa rồi mẹ trèo lên ghế treo áo rồi ngã, nằm dưới sàn hai mươi phút chị Hằng bán xôi mới nghe thấy. Hai mươi phút, mẹ ạ. Lần sau là gì?
Bà Vóc nhìn cái tay bó bột.
– Lần sau tao không trèo ghế nữa.
– Mẹ lên Hà Nội ở với con. Bên anh Tuấn trả chín tỷ rưỡi. Đủ để mẹ sống thoải mái, đủ để con thuê người chăm mẹ, đủ để…
– Đủ để làm gì?
Mẹ im. Thao đứng ở góc bàn cắt, cuộn thước dây trong tay đã bị cô cuộn chặt đến mức cái lõi nhựa kêu răng rắc.
– Mẹ. – Thao gọi. – Để bà nghĩ đã.
– Mẹ có bảo bà không nghĩ đâu. – Mẹ không quay lại. – Mẹ cho bà một tháng.
Bà Vóc đứng dậy. Bà đi qua hai mẹ con, qua anh Tuấn, đến bức tường có treo đồng hồ quả lắc. Bà dùng tay lành mở cánh kính, đưa ngón trỏ đẩy cái kim phút lùi lại nửa vòng, rồi lại đẩy lên, đúng chỗ cũ. Không ai hiểu bà làm thế để làm gì. Bà đóng cánh kính lại.
– Chị về đi. – bà nói. – Chín giờ rồi. Khách của tao sắp đến.
Đồng hồ chỉ chín giờ năm phút. Thao biết thật ra mới chín giờ kém hai.
Mẹ đứng dậy, rút điện thoại ra xem giờ, như mọi lần. Mẹ chưa bao giờ đeo đồng hồ. Bà Vóc nhìn cái điện thoại, nói một câu đã nói chắc cả nghìn lần:
– Chị đeo cái đồng hồ vào thì đỡ phải móc máy.
Mẹ không trả lời. Mẹ gật đầu chào anh Tuấn ra xe trước, rồi quay lại nắm tay Thao, siết một cái, nói khẽ:
– Trưa mẹ với anh ấy ăn cơm ngoài, chiều mẹ về Hà Nội. Con khuyên bà. Bà nghe con hơn nghe mẹ.
– Con không khuyên được bà đâu mẹ.
– Thì con thử. – Mẹ buông tay, nhìn ra hiên một lần nữa, nhìn cái lưng người con trai đang cúi xuống quầy kính. – Mà con đừng có đứng nói chuyện nhiều với cậu kia.
– Sao ạ?
– Chẳng sao cả.
Chiếc taxi trắng chạy đi. Bà Liễu chưa đến. Bà Vóc lên gác, nói đau tay, nằm một lúc.
Thao ra hiên. Thước vẫn ngồi đó, trước mặt là một chiếc đồng hồ để bàn mở nắp. Anh không làm gì với nó, chỉ nhìn.
– Anh nghe hết rồi chứ gì.
– Dạ. Cái hiên nhỏ mà.
– Mẹ tôi nói ngày mười lăm tháng sau.
– Tôi nghe.
– Thế anh định thế nào? – Thao ngồi xuống bậc hiên, ngang tầm vai anh. – Ông anh ngồi đây năm mươi sáu năm, tôi biết. Nhưng nhà là của bà tôi. Nếu bà gật đầu…
Thước đặt cái nhíp xuống tấm nỉ xanh. Anh không nhìn Thao. Anh ngửa mặt nhìn lên tấm ván gỗ sau tủ kính, lên hàng đinh trên cùng, lên cái thẻ bìa vàng buộc dây gai đang khẽ đung đưa vì gió từ ngoài phố lùa vào.
– Ông tôi dặn một câu. – anh nói. – Quầy này chỉ dỡ khi số bốn mốt có người đến lấy.
— Hết chương 1 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe