Chương 4: Phong bì của mẹ
Tấm gương đứng trong tiệm may bà Vóc cao hơn đầu người, khung gỗ xoan sơn nâu, mặt gương có ba chấm mốc nhỏ ở góc dưới như ba nốt ruồi. Nó đứng đó từ trước khi Thao ra đời, đặt chéo ở góc tiệm, cạnh cái rèm vải hoa ngăn chỗ thử áo. Bà ngoại đặt nó chéo có lý do. Đứng trong chỗ thử áo, khách nhìn thấy mình trong gương, mà người may đứng ngoài cũng nhìn thấy khách, nhìn thấy cả cửa ra vào, cả hiên, cả quầy kính của ông Hàm.
Thao biết điều đó từ năm tám tuổi, khi cô trốn trong chỗ thử áo ăn vụng mứt Tết và bà đứng ngoài nhìn qua gương thấy hết.
Sáng thứ Bảy, mẹ về lần nữa, lần này có anh Tuấn và một tập hợp đồng nháp bọc bìa xanh.
Bà Vóc không chịu đọc. Bà bảo mắt bà kém, chữ in nhỏ như kiến. Mẹ bảo con đọc cho mẹ nghe. Bà bảo tay bà đau, không nghe được. Mẹ bảo đau tay thì liên quan gì đến tai. Bà bảo có liên quan, đau chỗ nào thì cả người đau. Anh Tuấn ngồi giữa hai mẹ con, tay cầm cái bút bi, mặt cố giữ cho thật lịch sự, như người lỡ ngồi vào giữa hai người đang đánh cờ.
Thao trốn vào chỗ thử áo. Không phải trốn, cô tự nhủ, mà là may. Cô đang lược tay cái áo mẫu bằng vải mộc cho bà Ổn, thứ vải thô màu cháo lòng thợ may hay dùng để dựng thử dáng trước khi cắt vào lụa thật. Cái cổ raglan cô dựng đã lần thứ ba vẫn không ra. Đường ráp từ nách lên chân cổ cứ bị vặn, như cái cổ một người vừa quay đầu lại.
Cô ngồi trên cái ghế đẩu trong chỗ thử áo, tấm vải mộc trải trên đầu gối, kim chỉ trong tay. Máy may điện ở bàn ngoài đang chạy, vì bà Vóc sai chị thợ phụ ở phố bên sang may hộ mấy đường thẳng. Tiếng máy rè rè át hết tiếng người.
Cô ngẩng lên lúc định lấy thêm chỉ, và thấy trong gương.
Mẹ đứng ở hiên, cạnh quầy kính. Anh Tuấn không ở đó, chắc đã ra xe. Thước đứng sau quầy. Mẹ rút trong túi da ra một cái phong bì trắng, loại phong bì dài, dày. Mẹ nói gì đó, miệng mấp máy, tay cầm phong bì đưa ra. Thước nhìn cái phong bì một lúc. Rồi anh đưa cả hai tay ra nhận, cúi đầu xuống, gật.
Tiếng máy may vẫn rè rè. Thao không nghe được một chữ nào.
Mẹ quay đi. Thước đứng yên, cái phong bì cầm trên tay, rồi anh mở ngăn kéo dưới tủ kính, cất nó vào đó, khoá lại.
Thao cúi xuống tấm vải mộc. Cái kim trong tay cô đâm xuyên qua ba lớp vải và đầu ngón tay cái. Một giọt máu nhỏ thấm lên vải màu cháo lòng, tròn như hạt đỗ.
Trưa, mẹ ăn cơm với hai bà cháu. Mẹ không nhắc gì đến hợp đồng nữa, chỉ hỏi chuyện chín cái áo nhà bà Liễu, hỏi Thao có cần mẹ gửi tiền không. Bà Vóc gắp cho mẹ miếng cá kho, mẹ ăn. Lúc đứng dậy ra xe, mẹ nói nhỏ với Thao ở bậc cửa:
– Mẹ lo xong phần cái quầy rồi. Con đừng có nhắc với bà.
– Lo thế nào ạ?
– Lo xong là xong. – Mẹ vỗ vai cô. – Cậu ấy biết điều hơn mẹ tưởng.
Chiếc taxi đi. Thao đứng ở bậc cửa, nhìn ra hiên. Thước đang ngồi lau mặt một chiếc đồng hồ đeo tay của khách, nghiêng nghiêng nó dưới ánh nắng để soi vết xước. Anh ngẩng lên, thấy cô, gật đầu như mọi lần.
Cô không gật lại. Cô quay vào.
Cả buổi chiều thứ Bảy và cả ngày Chủ nhật, Thao không ra hiên.
Cô không cố ý. Cô có quá nhiều việc. Cái áo mẫu bằng vải mộc của bà Ổn phải xong để thứ Ba bà Ổn đến thử. Thân áo cô dâu phải cắt. Bốn xấp lụa hồng đào phải giặt thử một mẩu xem có ra màu không. Cô ngồi bên bàn cắt từ sáng đến tối, cơm bưng vào ăn ngay tại bàn, cái điện thoại úp mặt xuống.
Chiều Chủ nhật, Thước đẩy cửa ngách vào, tay cầm một tờ mười nghìn và một tờ năm nghìn.
– Tiền chè hôm trước. – anh nói. – Tôi nợ cô.
Thao không ngẩng lên. Cái kéo trong tay cô đi dọc đường phấn, đều, chậm.
– Anh giữ lấy. Bây giờ anh có nhiều tiền rồi.
Thước đứng im. Cái kéo của Thao đi hết đường phấn, dừng lại.
– Là sao? – anh hỏi.
– Là anh giữ lấy.
Anh đứng thêm một lúc. Rồi anh đặt mười lăm nghìn lên góc bàn cắt, dưới cái hộp đựng phấn, cho khỏi bay, và đi ra. Không hỏi thêm. Thao nhìn hai tờ tiền nhàu dưới hộp phấn mà thấy tức hơn nếu anh hỏi.
Bà Vóc ngồi trên ghế mây, nhìn cháu, nhìn cửa ngách, rồi lại nhìn cháu.
– Mày làm sao thế?
– Cháu có làm sao đâu.
– Mày cắt cái thân áo cô dâu lệch về bên trái hai li.
Thao nhìn xuống. Lệch thật.
Sáng thứ Hai, Thao dậy lúc năm giờ, không phải vì cố ý mà vì cô thức gần như cả đêm với cái cổ raglan. Lần thứ năm thì nó ra. Bí quyết không nằm ở đường cắt mà ở đường lược: phải lược tay từ chân cổ xuống nách chứ không phải từ nách lên, để lụa ăn theo cái cong của gáy. Bà không dạy cô điều này. Cô tự tìm ra lúc bốn giờ sáng. Tìm ra rồi, cô ngồi im trên ghế rất lâu, nhìn cái cổ áo bằng vải mộc đứng thẳng lên như một bông hoa vừa nở, không biết kể với ai.
Năm giờ hai mươi lăm theo đồng hồ của bà, có tiếng lách cách ngoài hiên.
Thao bảo mình không ra. Cô ra.
Thước đã mở tủ, đã nhấc chiếc đồng hồ số bốn mốt khỏi cây đinh. Lần này anh không lên dây ngay. Anh đặt nó lên tấm nỉ xanh, mặt úp xuống, kéo đèn kẹp lại gần. Bóng đèn đã được thay, bây giờ là bóng trắng, sáng gắt.
– Anh làm gì đấy? – Thao hỏi. Giọng cô vẫn lạnh. Cô đứng cách quầy hai bước, hai tay khoanh trước ngực.
– Mở nắp. – Thước không quay lại. – Ông tôi cho phép rồi.
– Mở làm gì?
– Đọc.
Anh lấy trong hộp đồ nghề ra một con dao nhỏ, lưỡi dẹt, đầu vát như cái móng tay. Anh tìm cái khe nhỏ trên viền nắp đáy, đặt đầu dao vào, nghiêng. Thao thấy anh dừng lại một giây, đặt cổ tay phải tì xuống mặt kính, rồi mới bẩy. Có một tiếng tách khẽ. Nắp đáy bật lên.
Anh lật cái nắp lại, đặt nó dưới ánh đèn. Thao bước lại gần, không định thế. Cô đứng cạnh vai anh.
Mặt ngoài nắp đáy bằng thép đã mòn nhẵn, nhưng khi Thước nghiêng nó dưới đèn, có những nét khắc hiện ra như vết bút chì trên giấy can. Ba chữ cái và bốn con số, nét chữ nghiêng kiểu thợ khắc ngày xưa:
Q.Đ.T. 1966.
– Tên viết tắt của chủ. – Thước nói. – Khắc tay. Hồi đó tiệm vàng hay khắc kiểu này khi người ta mua đồng hồ làm quà.
– Q.Đ.T. là ai?
– Hông biết.
Anh lật mặt trong nắp đáy lên. Ở giữa có một miếng giấy tròn nhỏ bằng đồng xu, màu vàng nâu như lá chè khô, dán dính vào lòng nắp. Trên miếng giấy có mấy dòng chữ viết bút mực xanh, nét nhỏ li ti, đã nhoè.
Thước cầm cái kính lúp đeo mắt lên, đưa cho Thao.
– Cô đọc thử.
Cô đeo kính lúp vào mắt phải. Cả thế giới bên phải phình to, mờ, rồi rõ dần. Nét chữ trên miếng giấy hiện lên, run run như chữ một người viết bằng tay trái, mà không phải. Đó là chữ người viết bằng đầu ngòi bút sắt mài nhọn, viết rất nhỏ, rất cẩn thận.
– Bốn mốt. – cô đọc. – Mười hai, bốn, bảy hai. Thay… trục lắc. Lau dầu.
– Giấy lót. – Thước nói. – Thợ đồng hồ đời trước có lệ. Sửa xong một cái máy thì cắt một miếng giấy tròn, ghi số vé, ngày nhận, việc đã làm, dán vô trong nắp. Thợ sau mở ra là biết thợ trước đã làm gì. Ba tôi cũng làm vậy. Ba nói ông dạy.
– Ngày mười hai tháng Tư năm bảy mươi hai. – Thao tháo kính lúp ra. – Là ngày người ta mang nó đến sửa.
– Dạ.
– Và từ đấy không ai đến lấy.
Thước không trả lời. Anh cầm cái nắp đáy lên, nghiêng nó một góc khác dưới đèn. Bên cạnh miếng giấy lót, sát mép trong của nắp thép, có một vết vạch rất nhỏ, như ai đó đã dùng đầu kim mũi nhọn gạch lên kim loại. Thao phải cúi sát mới thấy.
H 11.76.
– Cái này là gì?
– Dấu của ông tôi. H là Hàm. – Thước nói chậm. – Mười một, bảy sáu. Tháng Mười một năm bảy mươi sáu.
– Sau bốn năm?
– Dạ. Sau bốn năm.
– Chắc ông lau dầu thêm lần nữa.
– Có thể. – Thước nói. Nhưng anh không đặt cái nắp xuống. Anh nhìn nó rất lâu. – Ông tôi lau dầu thì ghi vô giấy lót. Lần này hông ghi. Còn vạch vô kim loại là chuyện khác. Ba tôi cũng vạch như vậy, nhưng ba vạch khi nào thì tôi chưa hỏi.
Anh đậy nắp lại. Tách một tiếng. Anh cầm chiếc đồng hồ lên, xoay núm, đếm thầm ba chục vòng, đưa lên tai nghe, rồi treo lại đúng cây đinh thứ ba. Cái thẻ bìa quay mặt ra ngoài.
Trời đã sáng hẳn. Chị bánh cuốn bên kia đường đã nhóm lò, khói bay ngang phố mang theo mùi hành phi.
Thao vẫn đứng cạnh quầy. Cái lạnh của hai ngày trước đã nguội đi một nửa vì tò mò, nhưng còn một nửa thì vẫn đọng lại như cặn trong đáy cốc. Cô không chịu được cái nửa ấy nữa.
– Mẹ tôi trả anh bao nhiêu? – cô hỏi.
Thước đang cất con dao vào hộp. Tay anh dừng lại.
– Cô thấy hả?
– Qua gương.
Anh gật, như hiểu ra cái gương đặt chéo trong tiệm có tác dụng gì. Anh đóng nắp hộp đồ nghề, khoá tủ kính, nhét chìa vào túi áo. Rồi anh đứng dậy, nhìn thẳng vào Thao, lần đầu tiên kể từ hôm thứ Bảy.
– Tiền dọn cái quầy này hả?
– Ừ.
– Bằng giá cái hiên này năm mươi sáu năm. – anh nói.
Rồi anh bước xuống bậc hiên, đi về phía đầu ngõ Kim, không quay lại. Thao đứng một mình trước quầy kính, sau lưng là cái đồng hồ quả lắc vừa điểm sáu giờ, tức là năm giờ năm mươi ba. Cô không biết câu anh vừa nói là anh đã nhận, hay là anh chưa bao giờ nhận.
— Hết chương 4 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe