AI Truyện
Chiếc đồng hồ số bốn mốt ở hiên tiệm may

💞 Ngôn tình

Chín cái áo cho nhà bà Liễu

Chiếc đồng hồ số bốn mốt ở hiên tiệm may · Chương 2/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 2: Chín cái áo cho nhà bà Liễu

Bà Liễu đến muộn bốn mươi phút theo đồng hồ của bà Vóc, tức là ba mươi ba phút theo đồng hồ của bà Liễu, và bà Liễu cho rằng mình chỉ muộn một chút.

– Chết, chết, cái xe máy nó dở chứng ở cầu Đò Quan. – Bà Liễu vừa bước qua bậc hiên đã nói, giọng chợ Rồng sang sảng, tay xách hai túi ni lông to đựng vải vụn mang sang làm mẫu. – Bà Vóc ơi, tay bà làm sao thế này? Ối giời ơi, gãy thật à? Thế ai may cho con Bích nhà tôi?

– Cháu tôi. – Bà Vóc ngồi trên ghế mây, hất cằm về phía Thao.

Bà Liễu nhìn Thao. Cái nhìn của người bán vải ba mươi năm, nhìn một tấm lụa là biết dệt ở đâu, nhuộm lần mấy. Bà nhìn từ cái sợi dây đo quàng cổ Thao xuống đôi tay, rồi lên mặt.

– Cháu bà làm ở Hà Nội đúng không? Ở nhà hát gì đấy?

– Dạ, cháu làm ở xưởng phục trang Nhà hát Kịch Sông Hồng ạ.

– May quần áo cho diễn viên. – Bà Liễu gật gù, giọng không rõ là khen hay chê. – Thế áo cưới thật thì cháu may được không?

– Áo diễn còn khó hơn áo cưới, bác ạ. – Thao nói. – Áo cưới mặc một ngày. Áo diễn mặc ba trăm đêm, đêm nào cũng thay trong bốn mươi giây.

Bà Vóc không nói gì. Nhưng Thao thấy khoé miệng bà giật lên một cái.

Đoàn nhà bà Liễu đến đủ thì tiệm chật như ngày Tết. Cô dâu Bích hai mươi bốn tuổi, làm kế toán ở một công ty may, gầy, cao, vai xuôi, đứng đâu cũng nép vào tường. Bốn cô phù dâu là bạn cùng lớp đại học, cười rúc rích suốt, chụp ảnh cái bàn cắt, chụp ảnh cái đồng hồ quả lắc, chụp ảnh cả bà Vóc đến khi bà quay mặt đi. Hai cô em gái bà Liễu từ Hải Hậu lên, mang theo một túi bánh nhãn. Và người cuối cùng bước vào, chậm nhất, là bà Ổn, mẹ chồng bà Liễu, bà nội cô dâu, tám mươi hai tuổi, chống cái gậy trúc có bịt đồng ở đầu.

Chín người. Chín cái áo.

Thao bắt đầu từ cô dâu. Cô có thói quen đo người bằng mắt trước khi đo bằng thước. Cô đứng lùi ra, nhìn Bích từ phía sau, rồi từ bên trái, rồi bảo Bích bỏ dép, đứng thẳng, thả hai tay xuống. Vai phải Bích thấp hơn vai trái chừng một đốt ngón tay. Không phải tật, mà là thói quen kẹp cặp tài liệu bên phải mười mấy năm.

– Em đứng thẳng lên.

– Em đứng thẳng rồi mà chị.

– Thế thì em đứng thẳng thêm một chút. – Thao ấn nhẹ hai ngón tay vào lưng Bích, chỗ dưới bả vai. – Hôm cưới em sẽ quên đứng thẳng, nên chị đo theo lúc em quên.

Cô ghi số vào cuốn sổ nhỏ kẹp ở cạp quần. Hạ eo, vòng ngực, vòng eo, vòng mông, rộng vai, dài tay, bắp tay, cửa tay, vòng cổ, hạ ngực, hạ mông, dài áo. Mười hai số cho một người. Mỗi số cô đọc to một lần, để bà nghe.

– Vòng mông chín mươi mốt.

– Đo lại. – Bà Vóc nói từ ghế mây. – Mày đo qua chỗ con bé đeo thắt lưng. Đo qua chỗ nở nhất.

Thao đo lại. Chín mươi ba. Cô không cãi. Bà cũng không nói gì thêm. Bà Liễu nhìn hai bà cháu, cười hở lợi.

– Bà Vóc gãy tay chứ có gãy mắt đâu.

Đến lượt bà Ổn thì mất nửa tiếng. Bà không chịu đứng, đòi ngồi đo. Thao quỳ xuống sàn, đo vòng ngực của một người đang ngồi, cộng thêm phần chùng như bà ngoại dạy. Bà Ổn để yên, nhưng đến lúc Thao hỏi muốn cổ áo thế nào thì bà nói luôn, như đã chuẩn bị câu ấy từ nhà:

– Cổ cao ba phân. Tay raglan. Như cái áo tôi lấy chồng.

Bốn cô phù dâu ngừng cười. Bà Liễu nhăn mặt.

– Mẹ ơi, bây giờ người ta không may kiểu ấy nữa. Cổ ba phân, mẹ mặc nóng chết.

– Tao lấy chồng tháng Sáu, tao có chết đâu. – Bà Ổn gõ đầu gậy xuống gạch. – Chị muốn cho tôi mặc cái áo cổ thuyền hở cả xương quai xanh à? Tám mươi hai tuổi, xương quai xanh tôi để ai xem?

Thao nhìn bà Vóc. Cổ cao ba phân, tay raglan là kiểu áo cuối những năm sáu mươi, đầu bảy mươi. Thao biết nó trên lý thuyết, đã thấy nó trong ảnh, đã vẽ lại nó trong một bản thiết kế cho vở diễn năm ngoái mà không ai dựng. Nhưng chưa bao giờ cô cắt một cái áo raglan thật cho một người tám mươi hai tuổi vai đã gù.

– Dạ được ạ. – cô nói. – Cháu may cho bà.

Bà Ổn gật một cái, rồi nhìn sang bà Vóc.

– Bà Vóc. Ngày xưa bà may cái kiểu này đẹp nhất phố. Con bé này có may được như bà không?

Bà Vóc nhìn cái tay bó bột của mình.

– Không. – bà nói. – Nó may kiểu của nó.

Lúc đoàn nhà bà Liễu ra về đã gần trưa. Chín xấp lụa trên bàn cắt đã được ghim chín cái thẻ tên. Lụa cô dâu màu trắng ngà, lụa bà Liễu màu đỏ đô, lụa bà Ổn màu nâu hồng như vỏ củ ấu, bốn xấp phù dâu màu hồng đào, hai xấp của hai cô em gái màu xanh ngọc. Ngày giao áo là thứ Sáu, mười sáu tháng Mười. Lễ vu quy là Chủ nhật, mười tám tháng Mười, mồng chín tháng Chín âm lịch, ngày bà Liễu đã nhờ thầy xem từ đầu năm.

Sáu tuần. Chín cái áo. Một bà ngồi ghế mây chỉ tay. Một cái áo cổ cao ba phân chưa có rập.

Thao ngồi xuống bậc thang, lấy tay ôm đầu.

Chiều thứ Ba, Thước mở lại quầy.

Anh không làm gì to tát. Chỉ đẩy cánh tủ kính ra, lau mặt kính, bày đồ nghề lên tấm nỉ xanh. Nhíp to, nhíp nhỏ, tua vít đầu dẹt bé như que tăm, cái kính lúp đeo mắt có quai cao su, hộp đựng linh kiện chia hai mươi bốn ô. Rồi anh ngồi xuống ghế đẩu, kéo cái đèn kẹp lại gần, chờ.

Khách đầu tiên là chị Hằng bán xôi đầu ngõ Kim, mang cái đồng hồ điện tử của chồng chị đến thay pin.

– Cháu ông Hàm à? – Chị Hằng nhìn anh chằm chằm. – Trông cháu giống ông hồi trẻ thế. Mà sao ăn nói như người trong Nam?

– Dạ, con lớn ở trong Nam.

– Con với chả cái. Ngoài này xưng cháu. – Chị Hằng cười. – Thay pin bao nhiêu?

– Dạ bốn chục.

– Ông Hàm lấy ba chục.

– Dạ, vậy ba chục.

Chị Hằng đi rồi, quay lại kể cho cả ngõ. Đến bốn giờ chiều thì có thêm bốn khách nữa. Một ông về hưu mang chiếc đồng hồ cơ đi chậm mười phút một ngày. Một cô sinh viên đứt dây. Một bà bán rau mang cái đồng hồ treo tường bằng nhựa hình con mèo đã đứng kim từ Tết. Một thằng bé lớp bảy hỏi chú có sửa được tay cầm chơi game không. Anh bảo không. Thằng bé đứng xem anh làm thêm nửa tiếng mới về.

Thao ngồi trong tiệm cắt lụa, qua ô cửa kính nhìn ra được cái lưng anh, cái gáy anh, và cái đèn kẹp. Cô không định nhìn. Chỉ là từ bàn cắt, ngẩng lên thì thấy.

Tối thứ Ba, tầm mười giờ, tiệm đã đóng cửa xếp nhưng Thước vẫn ngồi ở hiên với chiếc đồng hồ cơ của ông khách về hưu. Thao ra đổ nước, đứng sau cánh cửa ngách, nhìn qua khe.

Anh đeo kính lúp lên mắt phải, tay trái giữ bộ máy, tay phải cầm cái nhíp nhỏ nhất. Đầu nhíp đưa vào giữa đám bánh răng. Rồi dừng lại. Đầu nhíp rung. Không nhiều, chỉ như sợi chỉ trước quạt máy. Anh rút nhíp ra, đặt xuống, nắm bàn tay phải lại, mở ra, nắm lại. Anh xoa cổ tay. Uống một ngụm nước trong cái chai nhựa. Ngồi im đến mười giây, nhìn ra phố. Rồi cầm nhíp lên lần nữa. Lần này đầu nhíp vào được, gắp ra một vật gì nhỏ như hạt cát, đặt lên tấm nỉ.

Thao đứng thêm một lúc, rồi đẩy cánh cửa ra. Cô không định hỏi, nhưng cái chậu nước trong tay cô kêu loảng xoảng.

Thước ngẩng lên. Kính lúp vẫn trên mắt, làm một bên mắt anh to như mắt cá.

– Cô chưa ngủ?

– Tôi đổ nước. – Thao hất nước vào rãnh. – Anh làm muộn thế.

– Ông khách mai lấy sớm.

– Tay anh làm sao thế?

Câu hỏi bật ra nhanh hơn cô định. Anh tháo kính lúp ra, nhìn cô, rồi nhìn bàn tay mình như thể vừa được nhắc là mình có nó.

– Tại đèn chói. – anh nói. – Nhìn lâu mỏi mắt.

Thao gật. Cô biết đó không phải câu trả lời. Ở xưởng phục trang, cô đã thấy đủ kiểu người nói dối về đôi tay: anh thợ là bị bỏng mà nói là trầy, chị thợ thêu đeo kính ngày càng dày mà nói là tại chỉ mảnh. Người làm nghề bằng tay, ai cũng nói dối về đôi tay mình một lần.

– Ừ. – cô nói. – Đèn kẹp ấy cũ rồi, bóng vàng. Anh thay bóng trắng mà làm.

– Dạ.

Cô vào, đóng cửa ngách. Cái chậu không trong tay vẫn còn rỏ nước xuống gạch.

Thứ Tư, chị Lan Chi gọi.

Chị gọi lúc Thao đang cắt dở thân trước áo cô dâu, kéo đang nằm giữa lụa, nên cô kẹp điện thoại vào vai, nói bằng một bên má.

– Em đang ở đâu?

– Em ở Nam Định chị ạ. Bà em gãy tay, em xin phép chị rồi mà.

– Chị biết. Nghe này. – Giọng chị Lan Chi nhanh và gọn, như mọi lần chị phân việc ở xưởng. – Vở "Gió lụa" của anh Duy duyệt rồi. Công diễn tháng Một năm sau. Nhà hát không giao thiết kế phục trang cho người cũ nữa, mở chọn ba người. Anh Lân, một người bên nhà hát chèo, và em.

Cái kéo trong tay Thao dừng lại.

– Em ạ?

– Em. Anh Duy xem mấy bản vẽ em làm cho vở năm ngoái, cái vở không dựng ấy. Anh ấy hỏi ai vẽ. Chị nói. – Chị Lan Chi ngừng một chút. – Hạn nộp ý tưởng là thứ Bảy, ba mươi mốt tháng Mười. Thuyết trình đầu tháng Mười một. Ai qua vòng ý tưởng thì nộp một áo mẫu may hoàn chỉnh trước ba mươi tháng Mười một. Đầu tháng Mười hai chốt người.

– Chị ơi, em đang có chín cái áo cưới phải giao ngày mười sáu.

– Thì em may chín cái áo cưới. Và em vẽ. Chị cho em nghỉ phép thêm một tháng, không lương. Ban ngày may, ban đêm vẽ. Bốn năm em cắt áo cho người khác đứng tên rồi, Thao. Cơ hội này không đợi ai đâu.

Thao nhìn xấp lụa trắng ngà trước mặt, đường phấn cô vừa kẻ chạy dài từ vai xuống gấu.

– Vở ấy kể chuyện gì chị?

– Một làng dệt lụa những năm ba mươi. Ba thế hệ đàn bà trong một nhà dệt. – Chị Lan Chi cười. – Hợp với em đấy. Nhà em ba đời may áo còn gì.

Tối thứ Tư, Thao ngồi trên bậc cầu thang tầng hai, cuốn sổ vẽ đặt trên đầu gối, bút chì gặm đến mòn cả đầu. Cô vẽ được bốn cái dáng áo, xé cả bốn. Từ chỗ cô ngồi nhìn xuống thấy được nửa cái bàn cắt, chín xấp lụa đã ghim thẻ, và cái đồng hồ quả lắc trên tường đang chỉ mười một giờ bảy phút, tức là đúng mười một giờ.

Bà Vóc ra khỏi phòng, đứng ở đầu cầu thang. Bà mặc bộ đồ ngủ lụa màu tro, cái tay bó bột treo trước ngực bằng một chiếc khăn vuông.

– Không ngủ đi còn ngồi đấy?

– Cháu nghĩ cái cổ áo cho bà Ổn.

– Nghĩ gì. Cổ cao ba phân, chân cổ cong theo gáy, đỉnh cổ nhỏ hơn chân cổ năm li. Tay raglan thì đường ráp chạy từ nách lên chân cổ, chéo, không vuông như tay thường.

– Cháu biết thế. Nhưng cháu chưa cắt bao giờ. Ngày xưa bà có giữ rập không? Rập giấy ấy. Cháu lên gác ba tìm…

– Rập cũ tao đốt hết rồi.

Bà nói nhanh, nhanh hơn thường lệ. Thao ngẩng lên. Bà đứng trong khoảng tối giữa hai bóng đèn, mặt không rõ.

– Thế thì cháu tự dựng.

– Ừ. Mày tự dựng.

Bà quay vào phòng. Đến cửa thì bà dừng lại, không quay đầu.

– Cái Thao.

– Dạ.

– Mày đừng bao giờ mở cái hòm tôn trên gác ba.

— Hết chương 2 —

Mục lục Chiếc đồng hồ số bốn mốt ở hiên tiệm may

  1. 1Thứ Hai lên dây12 phút đọc
  2. 2Chín cái áo cho nhà bà Liễu11 phút đọc
  3. 3Ông Hàm không nhìn thấy kim10 phút đọc
  4. 4Phong bì của mẹ10 phút đọc
  5. 5Đường lược chỉ đỏ10 phút đọc
  6. 6Buổi thử áo thứ Bảy10 phút đọc
  7. 7Hội hưu trí nhà máy dệt10 phút đọc
  8. 8Đêm Trung thu ở làng nhuộm10 phút đọc
  9. 9Dấu khắc tháng Mười một10 phút đọc
  10. 10Một lời nói dối về khách10 phút đọc
  11. 11Bàn tay trên mặt bàn cắt9 phút đọc
  12. 12Tấm ảnh trên bậc hiên10 phút đọc
  13. 13Sân ga lúc chín giờ bốn mươi10 phút đọc
  14. 14Tà áo đứt chỉ trước giờ rước dâu10 phút đọc
  15. 15Người từ Sài Gòn10 phút đọc
  16. 16Bản vẽ thứ bảy10 phút đọc
  17. 17Đêm ở hành lang khoa chấn thương10 phút đọc
  18. 18Hai mươi tám năm ở hành lang10 phút đọc
  19. 19Cục chì trong gấu áo9 phút đọc
  20. 20Hợp đồng đặt cọc11 phút đọc
  21. 21Thứ Hai không ai lên dây11 phút đọc
  22. 22Ông Tư lụa10 phút đọc
  23. 23Bậc thềm nhà hát10 phút đọc
  24. 24Mẫu thử số một9 phút đọc
  25. 25Mưa chiều Bảo Lộc11 phút đọc
  26. 26Người đứng dưới cột đèn10 phút đọc
  27. 27Tháng Chạp10 phút đọc
  28. 28Bà đã nhìn thấy10 phút đọc
  29. 29Lời của ông Khoan11 phút đọc
  30. 30Số bốn mốt10 phút đọc
  31. 31Tiền cọc gấp đôi9 phút đọc
  32. 32Đêm tổng duyệt10 phút đọc
  33. 33Chuyến tàu ngày ông Công ông Táo10 phút đọc
  34. 34Cánh cửa10 phút đọc
  35. 35Giao thừa phố Hàng Chỉ10 phút đọc
  36. 36Thứ Hai đầu năm10 phút đọc

Về truyện này

Chiếc đồng hồ số bốn mốt ở hiên tiệm may là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →