Chương 26: Người đứng dưới cột đèn
Sáng Chủ nhật, ông Thụy dậy lúc bốn giờ, pha một ấm trà, rồi ngồi ở hiên sau chờ hai đứa dậy. Thao xuống lúc năm giờ, thấy ông ngồi đó trong sương, hai tay ôm chén trà, nhìn ra đồi dâu còn tối.
– Tối qua con Hiên hỏi cháu cái tên trên bia. – ông nói, không quay lại. – Nó hỏi cháu có hiểu không. Cháu hiểu không?
Thao ngồi xuống cái ghế bên cạnh ông.
– Cháu nghĩ cả đêm. – cô nói. – Cháu nghĩ ông để cái tên ấy cho bà cháu.
Ông Thụy quay sang nhìn cô.
– Bà cháu nói với cả phố là anh Thụy hy sinh năm bảy tư. – Thao nói. – Năm mươi năm bà nói thế. Nếu ông về xoá tên, thì cái câu bà nói thành câu nói dối.
Ông không trả lời ngay. Ông đặt chén trà xuống.
– Cháu giống ông Khoan. – ông nói lần thứ ba. – Mà cái đầu thì của cô Vóc.
Thước dậy lúc sáu giờ. Chị Hiên dậy lúc sáu rưỡi, nấu một nồi cháo trắng, bày một đĩa dưa cải muối, một đĩa ruốc. Bốn người ăn ở hiên sau. Ăn xong, chị Hiên ra xưởng. Ông Thụy rót thêm trà, rồi ông kể.
Ông kể chậm. Có những chỗ ông dừng lại rất lâu, nhìn ra đồi dâu, rồi mới kể tiếp. Có những chỗ ông kể hai lần, như người lên dây một cái đồng hồ, đến vòng thứ ba mươi rồi còn vặn thêm một vòng cho chắc.
Cháu biết rồi đấy, tôi không chết. Tôi bị thương ở ngực năm bảy tư, nằm điều trị ở tuyến sau gần hai năm. Giấy tờ đơn vị lẫn. Người ta báo về quê là tôi hy sinh. Tôi không biết. Đến khi tôi biết thì đã là năm bảy sáu.
Tháng Mười năm bảy sáu tôi về làng. Mẹ tôi ngất ở cổng. Cả làng chạy ra xem người chết sống lại. Tôi ở nhà một tháng, mẹ tôi không cho tôi đi đâu. Đến cuối tháng Mười một, tôi bảo mẹ tôi lên tỉnh có việc.
Mẹ tôi biết việc gì. Bà không cản. Bà chỉ bảo: con lên thì con nhìn thôi, con đừng làm gì.
Tôi lên chuyến xe khách buổi chiều. Đến phố Hàng Chỉ thì trời tối. Hôm ấy là Chủ nhật, mồng một tháng Mười âm, đêm không trăng. Phố tối, chỉ có cái cột đèn bên kia đường trước nhà cô ấy, ngày ấy cả dãy phố có mỗi cái cột đèn ấy.
Tôi đứng dưới cột đèn.
Cửa tiệm đã đóng. Ngoài hiên, anh Hàm còn ngồi quầy, cái đèn dầu con đặt trên mặt tủ kính, cúi xuống sửa cái gì đó. Anh Hàm hay làm muộn. Tôi biết từ hồi trước.
Tầng hai nhà cô ấy sáng đèn. Cửa sổ mở. Cái rèm hoa vén sang một bên. Tôi thấy cô ấy.
Cô ấy bế con. Một đứa bé quấn trong cái chăn con màu đỏ. Cô ấy đứng ở cửa sổ, quay nghiêng, nhìn xuống đứa bé, miệng hát cái gì đó. Tôi không nghe được. Tóc cô ấy xoã. Cô ấy gầy hơn trước. Cô ấy mặc cái áo cánh màu gì tôi không nhớ. Tôi chỉ nhớ cô ấy cúi xuống đứa bé.
Tôi đứng đấy không biết bao lâu. Rồi anh Hàm ngẩng lên.
Anh Hàm nhìn sang bên kia đường, thấy tôi dưới cột đèn. Anh nhìn rất lâu. Rồi anh đứng dậy. Cái ghế đẩu đổ xuống gạch. Anh không nhặt.
Tôi sang đường.
Lúc tôi bước xuống lòng đường, cái rèm hoa trên tầng hai kéo vào.
Ông Thụy dừng lại. Ông nhấp một ngụm trà.
– Ông có thấy ai kéo rèm không ạ? – Thao hỏi.
– Không. Rèm kéo vào thì không thấy gì nữa. – Ông đặt chén xuống. – Đèn trong phòng vẫn sáng. Qua cái rèm thì thấy cái bóng. Cái bóng đứng ở cửa sổ. Bế con.
– Cái bóng làm gì ạ?
– Đứng. – ông nói. – Đứng yên. Lâu lắm. Tôi nghĩ cô ấy ru con ngủ.
Thao không hỏi thêm. Ông kể tiếp.
Anh Hàm đứng ở hiên. Tôi đứng dưới bậc hiên. Anh Hàm không nói được câu nào. Anh chỉ cầm lấy hai cánh tay tôi, bóp, như người ta thử xem một cái máy có thật không. Rồi anh khóc. Anh Hàm hồi ấy ba mươi tuổi, tôi chưa thấy anh khóc bao giờ.
Tôi rút trong túi áo ra cái vé.
Cái vé số bốn mốt, anh Hàm viết cho tôi hôm mười hai tháng Tư năm bảy hai. Tôi mang nó theo suốt. Nó ở trong cái ví vải mẹ tôi khâu, cùng với tấm ảnh cô ấy. Tấm ảnh mất ở mặt trận. Cái vé thì không mất. Ướt, nhoè, rách một góc, nhưng còn chữ.
Anh Hàm cầm cái vé, nhìn nó dưới đèn dầu. Anh mở tủ kính, lấy cái đồng hồ trên cây đinh thứ ba xuống. Bốn năm rưỡi, anh vẫn treo nó ở chỗ ấy. Anh sửa xong từ tháng Năm năm bảy hai, thay trục lắc, lau dầu, dán giấy lót, rồi treo lên chờ.
Anh lật nó lại. Anh lấy cái kim mũi nhọn trong hộp đồ nghề, vạch lên mặt trong nắp đáy. Tay anh run, tôi nhớ. Anh vạch mấy chữ. Rồi anh đậy nắp, đặt cái đồng hồ vào tay tôi.
Anh bảo: trả tận tay. Đúng luật.
Tôi lên dây nó. Ba chục vòng. Nó chạy. Tôi đeo nó vào cổ tay trái, đúng chỗ ngày xưa. Cái vệt da sáng chỗ ấy đã đen lại hết rồi, bốn năm nắng.
Rồi cửa ngách mở. Anh Khoan đi xuống.
Ông Thụy dừng lại lâu hơn lần trước.
– Ông Khoan nói gì với ông ạ? – Thước hỏi. Lần đầu tiên anh lên tiếng từ sáng.
Ông Thụy lắc đầu.
– Anh Khoan nói với tôi mấy câu. – ông nói. – Câu ấy là của anh Khoan. Anh Khoan mất rồi. Người mất rồi thì mình không nói thay.
– Ông Khoan có giận ông không ạ?
– Không. – ông nói. – Anh Khoan không giận ai bao giờ. Anh Khoan khoác cái áo bông, đứng ở hiên với tôi và anh Hàm. Ba người đứng. Anh Khoan đưa tôi điếu thuốc. Anh Khoan hỏi tôi bị thương ở đâu, ăn uống được không, mẹ tôi có khoẻ không. Rồi anh Khoan nói mấy câu ấy. Nói xong anh đứng đấy với tôi, không vào. Đến lúc tôi đi anh mới vào.
Ông im một lúc.
– Tôi đeo cái đồng hồ được một tiếng. – ông nói. – Nó chạy đúng. Anh Hàm sửa thì bao giờ cũng đúng. Rồi tôi tháo ra. Tôi đưa lại cho anh Hàm. Tôi bảo: anh giữ hộ em. Bao giờ cô ấy hỏi thì anh đưa. Cô ấy không hỏi thì anh đừng để nó đứng.
– Bà cháu không bao giờ hỏi. – Thao nói.
– Tôi biết. – ông Thụy nói. – Anh Hàm gửi bưu thiếp gần năm mươi năm. Hai chữ. Còn chạy. Nghĩa là cô ấy chưa hỏi.
Đêm ấy tôi ra bến xe ngủ. Sáng ra tôi xếp hàng mua vé về quê. Có một cô gái đi chợ sớm, tổ dệt cũ của tôi, nhìn thấy tôi, gọi to: anh Thụy. Tôi kéo cái mũ xuống, quay đi, lẩn vào đám đông. Tôi nghe sau lưng cô ấy kêu lên: ma, ma thằng Thụy.
Thao và Thước nhìn nhau.
– Bà Cả Nhung kể chuyện ấy. – Thước nói. – Cả hội hưu trí cười.
Ông Thụy cười theo. Cái miệng mím lại.
– Thì là ma thật. – ông nói. – Năm bảy bảy tôi vào Nam. Tôi xin vào làm ở nhà máy ươm tơ trên này. Tôi học nhuộm. Năm tám mươi tôi lấy bà Lý, mẹ con Hiên. Năm tám hai có con Hiên. Bà Lý biết hết. Bà Lý bảo: anh giữ cái gì thì giữ, miễn anh đừng giữ trong nhà này. Tôi giữ ở ngoài Bắc. Ở chỗ anh Hàm.
– Năm chín tám. – Thước nói. – Ba con lên đây.
– Năm chín tám. – Ông gật. – Anh Hàm viết thư cho tôi. Lần đầu tiên viết thư, không phải bưu thiếp. Anh viết: thằng Quân vào, có khi hai đứa. Nó với con gái cô Vóc. Anh nhờ chú.
Ông nhìn xuống bàn tay mình.
– Tôi dọn cái buồng trên gác xưởng. Hai cái giường. Bà Lý may cho hai cái gối mới. Đến hôm thằng Quân lên, nó lên một mình. Nó ngồi ở hiên này, cái ghế cháu đang ngồi đây. Nó không nói gì. Tôi không hỏi gì.
– Tại sao ông không hỏi?
Ông Thụy nhìn Thao.
– Có những cái cửa mình đứng trước một lần rồi. – ông nói. – Thì mình biết người đứng trước nó không muốn ai hỏi.
Ông kể xong lúc mười giờ. Chị Hiên vào gọi ông đi uống thuốc. Ông đứng dậy, chống tay lên bàn, rồi nhìn Thước.
– Thằng Thước. – ông nói. – Cái đồng hồ bây giờ ở đâu?
– Dạ, ở nhà ông nội con. Ông nội con mang về để bên gối. Nhà bà Vóc sắp bán. Tháng Giêng dỡ quầy.
Ông Thụy đứng im. Tay ông nắm lấy mép bàn.
– Cô ấy bán nhà?
– Dạ. Đặt cọc rồi.
Ông không nói gì nữa. Ông đi vào nhà. Thao nhìn theo cái lưng còng ấy, cái cổ tay trái trần, và nghĩ đến cái bóng đứng yên sau tấm rèm hoa.
Buổi chiều cô bay chuyến cuối từ Liên Khương. Thước ở lại thêm hai ngày rồi vào Sài Gòn dọn tiệm cho bố. Ở sân bay, anh ôm cô một cái, lâu, giữa dòng người kéo vali. Rồi anh bảo: em về bà, em nhìn cái rèm giùm anh.
Cô không hỏi anh nghĩ gì. Cô biết anh cũng đã nghe thấy.
Máy bay hạ cánh lúc chín giờ tối. Thao bắt chuyến xe ghép về thẳng Hàng Chỉ, không qua phòng trọ. Mười hai giờ kém mười lăm xe thả cô ở đầu phố. Nhà bà tối, chỉ có đèn ngủ tầng hai.
Cô mở cửa ngách. Cô lên tầng hai nhẹ chân. Cửa phòng bà khép hờ. Bà ngủ, quay mặt vào tường, cái bọc áo cưới nằm phía trong giường.
Thao bật cái đèn bàn ở góc phòng, ánh vàng. Cô đi đến cửa sổ. Cô kéo tấm rèm hoa cúc vàng nền xanh vào, kín, rồi đứng sau nó.
Qua lớp vải mỏng đã bạc, cô nhìn thấy phố. Không rõ như nhìn qua kính, nhưng thấy. Ánh đèn đường bên kia phố xuyên qua những bông cúc vàng.
Cô vén một khe nhỏ, rộng bằng hai ngón tay.
Cái cột đèn đứng đó, bên kia đường, đúng chỗ ngày xưa nó đứng, chỉ có cái bóng đèn là đã thay. Ánh đèn rọi thẳng từ trên xuống, tròn một vùng trên vỉa hè, sáng trắng.
Từ chỗ này, đứng sau tấm rèm này, nếu có ai đứng dưới cột đèn kia, thì thấy rõ từng nét mặt người đó. Rõ đến mức thấy được người ấy gầy đi bao nhiêu. Rõ đến mức thấy được người ấy có đang khóc hay không.
Thao đứng sau tấm rèm, nhìn cái vùng sáng tròn trống trơn trên vỉa hè, rất lâu.
Sau lưng cô, trên giường, bà trở mình.
— Hết chương 26 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe