Chương 7: Hội hưu trí nhà máy dệt
– Con gái dệt ngày xưa không ai để tóc xoã. – Bà Cả Nhung nói, tay vuốt mái tóc bạc cắt ngắn ngang tai. – Thả tóc ra là cái máy nó cuốn. Năm sáu tư, con Hợi tổ tao bị cuốn mất một mảng da đầu to bằng bàn tay. Từ đấy cả phân xưởng phải quấn khăn. Khăn trắng, buộc ra sau gáy, thắt nút như cái tai thỏ.
Bà đưa tay ra sau gáy, làm động tác thắt một cái nút không có thật. Hai ngón tay bà vẫn nhanh như sáu mươi năm trước.
Thao ngồi đối diện bà trên chiếc ghế nhựa đỏ, cuốn sổ vẽ mở trên đầu gối, bút chì chạy không kịp. Cô vẽ cái khăn, vẽ cái nút tai thỏ, vẽ cái bàn tay bà Cả Nhung với hai ngón trỏ cong vào trong, cong mãi không duỗi thẳng ra được nữa.
– Ngón tay bà làm sao thế ạ?
– Nối sợi. – Bà Cả Nhung giơ hai ngón tay lên, cười. – Sợi đứt thì phải nối, nối bằng hai ngón này, một ca tám tiếng nối mấy trăm lần. Ba mươi năm thì nó cong thế. Con gái phân xưởng tao, đứa nào về hưu cũng có đôi ngón tay như cái móc.
Phòng sinh hoạt của hội hưu trí nằm ở tầng một một dãy nhà cấp bốn cạnh khu tập thể cũ của nhà máy dệt. Sáng thứ Ba nào ở đây cũng đông. Một góc các cụ ông đánh cờ tướng, tiếng quân cờ gỗ đập xuống bàn chan chát. Một góc các cụ bà tập hát chèo, cái loa kéo phát nhạc đệm rè rè. Giữa phòng có một cái tủ kính bày mấy con thoi gỗ đã nhẵn bóng, một cuộn sợi bông vàng ố, mấy tấm bằng khen đóng khung. Trên tường treo ảnh cũ: những dãy máy dệt nối nhau đến tận cuối phân xưởng, những cô gái quấn khăn trắng đứng thành hàng, cười như được ai cho kẹo.
Chị Hằng bán xôi giới thiệu Thao đến đây. Chị bảo mẹ chồng chị là bạn của bà Cả Nhung, mà bà Cả Nhung thì nhớ dai nhất hội, chuyện năm nào tháng nào bà kể vanh vách như đọc báo.
Thao cần những chuyện ấy cho "Gió lụa". Vở kịch kể chuyện ba thế hệ đàn bà trong một nhà dệt những năm ba mươi, cái thời trước cả khi bà Cả Nhung ra đời. Nhưng Thao tin nghề dệt có những thứ không đổi qua mấy chục năm: cái khăn buộc tóc, đôi ngón tay cong, cái mùi.
– Mùi gì hả cháu? – Bà Cả Nhung hỏi lại. – Mùi hồ. Hồ sợi nấu bằng bột sắn, bột mì, cả mỡ bò nữa, thơm như mùi bánh đa nướng mà chua. Ai làm nhà máy dệt về nhà, chó trong ngõ nó cũng biết. Tao lấy chồng rồi, chồng tao bảo, ngủ cạnh mày như ngủ cạnh nồi cháo.
Mấy bà ngồi gần đấy cười ồ lên. Một bà nói chen vào: cái tiếng thoi mới khó quên, tiếng thoi cả phân xưởng chạy một lúc như mưa rào trên mái tôn, về nhà nằm ngủ tai vẫn ù ù. Một bà khác bảo nhớ nhất là cái còi tan ca, còi rú một hồi dài, cả thành phố nghe thấy, đồng hồ ai sai thì cứ theo còi mà chỉnh.
Thao vẽ, viết, ghi âm vào điện thoại. Cô thấy tay mình nóng lên, như hồi mới vào xưởng, lần đầu được giao cắt một cái áo thật cho một vở thật.
Thước không ngồi cùng.
Anh đi theo Thao đến đây vì một lý do khác, và anh nói thật lý do ấy từ lúc trên xe. Cái nắp đáy khắc "Q.Đ.T. 1966", cái vé sửa năm bảy hai, ở một thành phố mà đàn ông con trai thời ấy nửa phố làm nhà máy dệt. Anh hỏi ông nội Q.Đ.T. là ai, ông im. Anh hỏi có phải người nhà máy dệt không, ông bảo cháu tự đi mà hỏi. Thế là anh đi.
Từ chỗ ngồi, Thao thấy anh đứng ở cuối phòng, cạnh bàn của ông chủ tịch hội, cúi xuống một cuốn sổ bìa đen dày cộp. Danh sách hội viên, chị Hằng bảo, từ hồi thành lập hội đến giờ, ai còn ai mất đều có tên. Ông chủ tịch hội là một ông cụ tóc bạc trắng, mặc áo sơ mi cộc tay bỏ trong quần, tay cầm cái kính lúp to bằng cái đĩa, đang dò từng trang cùng anh.
Một lúc sau, anh đi ra phía cửa sau, nơi hành lang có treo một tấm bảng gỗ sơn đỏ. Thao không nhìn rõ tấm bảng ấy ghi gì. Cô chỉ thấy anh đứng trước nó rất lâu.
Bà Cả Nhung đang kể về những đêm trực ca ba, về con mèo mướp tổ trưởng nuôi trong phân xưởng để bắt chuột gặm sợi, thì Thước quay lại, đứng bên cạnh bàn.
– Bà ơi, con xin phép hỏi bà chuyện này. – anh nói.
– Cháu. – Thao nhắc khẽ.
– Dạ, cháu. – Thước sửa. – Cháu xin phép hỏi bà một người.
Bà Cả Nhung ngẩng lên nhìn anh. Rồi bà nhìn sang Thao, cười khà khà.
– Người yêu cháu à?
– Không ạ. – Thao nói nhanh. – Anh ấy là cháu ông Hàm sửa đồng hồ.
– À, ông Hàm Hàng Chỉ. – Bà Cả Nhung gật gù. – Ông ấy sửa cho tao cái đồng hồ đeo tay đầu tiên, năm bảy mươi, hồi tao được thưởng lao động giỏi. Hỏi gì thì hỏi đi.
– Bà ra đây với cháu một lát được hông? – Thước nói, chỉ về phía cửa sau.
Bà Cả Nhung chống tay đứng dậy. Thao định đi theo thì cái điện thoại trong túi cô rung. Chị Lan Chi. Cô đi ra góc phòng nghe máy.
Chị Lan Chi gọi để hỏi Thao có muốn xem bản thảo kịch bản không, anh Duy vừa sửa xong cảnh hai. Rồi chị kể chuyện anh Lân đã bay vào Huế lấy cảm hứng, chuyện người bên nhà hát chèo đã có sẵn ba bản vẽ, chuyện ai cũng đang chạy, Thao không được ngồi một chỗ. Thao đứng ở góc phòng nghe, ừ, dạ, ghi lại, lúc ấy cô quay lưng về phía cửa sau.
Khi cô nghe máy xong, bà Cả Nhung đã quay về chỗ ngồi, vừa đi vừa lắc đầu cười, và mấy bà ngồi gần đấy cũng đang cười theo, như vừa nghe một chuyện tếu.
– Bà kể chuyện gì mà vui thế ạ?
– Chuyện ma. – Bà Cả Nhung xua tay. – Chuyện ngày xưa ấy mà. Cái cậu này hỏi tao toàn chuyện người chết.
Thước đứng ở cửa sau. Anh không cười.
Họ ra về lúc gần trưa. Ông chủ tịch hội tiễn ra tận cổng, dặn Thao lúc nào vở diễn công diễn thì gửi về cho hội mấy cái vé, các cụ đi xe khách lên Hà Nội xem. Thao hứa. Bà Cả Nhung dúi vào tay cô một con thoi gỗ cũ, nhẵn bóng, đầu thoi bịt đồng.
– Cho cháu. Mang lên nhà hát cho cái đứa đóng vai thợ dệt nó cầm. Cầm thoi thật thì diễn mới ra người.
Trên đường về, Thước chở Thao bằng cái xe máy cũ của ông Hàm, một chiếc xe số màu xanh rêu đã tróc sơn, tiếng máy nổ như người ho. Thao ngồi sau, con thoi gỗ trong tay, cuốn sổ vẽ kẹp dưới nách. Đi qua đoạn đường ven sông Đào, gió lùa vào làm tóc cô bay rối.
– Anh tìm được ai chưa? – cô hỏi to, cho khỏi lẫn vào tiếng gió.
– Ba người. – Thước nói to lại, không quay đầu. – Trong sổ hội có ba người tên tắt Q.Đ.T. làm ở nhà máy hồi những năm sáu mươi.
– Ai?
– Ông Quan Đức Tín. Còn sống, bảy mươi chín tuổi, hồi nãy đánh cờ ở góc phòng. Tôi hỏi rồi. Ông bảo cả đời ông chưa từng có cái đồng hồ nào khắc tên, ông còn cười tôi, bảo hồi đó có cái đồng hồ đeo là sướng rồi, ai dám khắc.
– Người thứ hai?
– Ông Quang Đăng Toàn. Mất năm hai nghìn lẻ một. Ông chủ tịch nói ông ấy hông có con, nhà bán từ lâu.
– Người thứ ba?
Thước im một lúc. Xe chạy qua một cái ổ gà, xóc mạnh. Thao nắm lấy vạt áo sau lưng anh.
– Người thứ ba thì hông hỏi được. – anh nói.
– Sao không hỏi được?
– Mất rồi. Tên ở trên tấm bảng ngoài hành lang.
Thao nhớ ra tấm bảng gỗ sơn đỏ, cái lúc anh đứng rất lâu trước nó.
– Bảng gì đấy?
– Bảng ghi tên công nhân nhà máy đi bộ đội hông về. – Anh đi chậm lại. – Có bốn mươi mấy tên.
Thao không nói gì một lúc. Gió trên sông Đào thổi vào mặt, mang theo mùi bùn và mùi khói đốt rơm từ phía bên kia sông.
– Thế thì chắc là ông Toàn. – cô nói. – Ông ấy mang đến sửa, rồi quên, rồi… Còn người trên tấm bảng thì mất rồi, mình tìm cũng chẳng biết trả cho ai.
– Ừ. – Thước nói. – Chắc vậy.
Anh không nói tên người thứ ba. Thao không hỏi. Cô đang nghĩ đến con thoi gỗ trong tay, đến cái nút tai thỏ ở gáy, đến cái mùi bánh đa nướng mà chua. Cô đang nghĩ cách đưa cái mùi ấy lên một sân khấu.
– Thế lúc nãy bà Cả Nhung kể chuyện ma gì mà cả hội cười thế? – cô hỏi.
Thước vặn tay ga, chiếc xe xanh rêu ho lên một tiếng.
– Chuyện hồi xưa. Có người đồn thấy ma ở bến xe.
– Ma ai?
– Một người trên tấm bảng. – Anh nói, rồi nói sang chuyện khác, chỉ cho Thao xem cái cây gạo bên đường ông nội anh hay kể, hồi trẻ ông đạp xe qua đây mỗi sáng.
Chiều hôm ấy, Thao làm một việc cô đã định làm từ tuần trước: giặt thử bốn mẩu lụa hồng đào.
Bốn xấp lụa phù dâu, mỗi xấp cô cắt một mẩu nhỏ bằng bàn tay ở mép, đánh số một đến bốn bằng bút bi trên mép trắng. Cô thả chúng vào bốn cái bát nước xà phòng loãng, để mười lăm phút, giũ, vắt nhẹ, phơi lên dây ở sân sau. Đây là việc bà Vóc dạy từ năm cô mười tuổi: lụa nhuộm thủ công thì phải giặt thử trước khi cắt, vì lụa mới xấp nào trông cũng đẹp, qua một nước mới biết thật.
Đến năm giờ chiều, bốn mẩu lụa khô. Thao gỡ chúng xuống, đặt cạnh nhau trên mặt bàn cắt, dưới ngọn đèn trắng.
Mẩu số một và mẩu số ba vẫn hồng đào, đằm hơn một chút, đúng như bà Liễu nói.
Mẩu số hai và mẩu số bốn đã ngả sang màu hồng cam, như màu vỏ quýt non. Đặt cạnh nhau thì lệch hẳn, nhìn từ cửa cũng thấy.
Thao gọi bà. Bà Vóc đến, đứng bên bàn cắt, nghiêng đầu nhìn bốn mẩu lụa, rồi cầm mẩu số hai lên soi ra ánh sáng ngoài cửa.
– Hai lô nhuộm. – bà nói. – Người ta nhuộm hai mẻ rồi bán chung một lần. Lúc mới thì giống, qua nước là lộ.
– Bốn cô phù dâu đứng thành hàng, hai cô hồng, hai cô cam.
– Thì trông như cái đĩa hoa quả.
Thao không cười được. Cô nhìn tờ lịch treo trên tường. Hôm nay hai mươi hai tháng Chín. Ngày giao áo là mười sáu tháng Mười. Còn ba tuần rưỡi. Hai xấp lụa phải nhuộm lại, phải giặt, phải phơi, phải là, rồi mới cắt được, mà cái làng nhuộm nơi bà Liễu mua lụa nằm tận bên kia sông, cô chưa đến bao giờ.
Bà Vóc đặt mẩu lụa xuống.
– Thằng Thước có xe. – bà nói. – Bảo nó chở mày đi.
— Hết chương 7 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe