Chương 1: Bao lạc thứ bốn mươi mốt
Bao thứ bốn mươi mốt rách một lỗ ở góc, và lạc cứ rỉ ra từng hạt theo mỗi bước chân của Kiệm.
Bốn giờ sáng, chợ đầu mối chưa sáng hẳn, đèn cao áp vàng đục như nước chè để qua đêm. Người chủ hàng đứng ở đầu xe đếm bao bằng cách gõ cây bút bi vào thành thùng, mỗi bao một tiếng cạch. Bốn mươi bao đã xuống. Còn hai mươi.
– Nhanh lên ông ơi, sáu giờ xe ra rồi!
Kiệm không đáp. Năm mươi lăm tuổi, người ta không đáp lại những câu như thế, chỉ cúi thấp vai thêm một chút. Bao lạc năm chục cân đè lên chỗ bả vai đã chai thành cục. Đến bước thứ sáu thì có cái gì đó trong ngực anh bóp lại, không đau, chỉ chặt, như có ai thít một sợi dây quanh quả tim rồi kéo.
Anh dừng. Người chủ hàng lại gõ bút vào thùng xe.
Anh định bước thêm bước thứ bảy. Chân trái của anh bước, chân phải thì không. Bao lạc trượt khỏi vai, rơi xuống trước, và anh rơi theo nó, mặt úp vào lớp bao tải thô có mùi đất bãi và mùi khói rơm. Lạc từ cái lỗ rách tuôn ra lạo xạo bên tai anh.
Trong cái mùi ấy anh nghĩ đến chợ Vạn Lăng. Đến cái cân đòn treo trên xà gian hàng của u, quả cân đồng đung đưa, và tiếng u quát: Đứng xa ra, mày làm lệch cân của tao.
Rồi anh không nghĩ được gì nữa.
Điện thoại trong túi quần anh rung lên một hồi. Lúc ba giờ anh đã gọi cho con gái, không ai nghe. Nó rung chỉ vì báo pin yếu.
Cái anh nghe thấy đầu tiên là tiếng trẻ con khóc.
Nó ở ngay đây, cách anh vài bước, khóc ngằn ngặt kiểu đứa bé vừa ngủ dậy không thấy ai. Rồi có tiếng chân đất chạy trên nền gạch, tiếng một người đàn bà dỗ: Thôi nào, thôi nào, mẹ đây, bố còn ngủ.
Mùi lạc rang trong chảo gang, vỏ lụa cháy xém ở rìa, cái mùi ngậy ngậy bám vào áo cả ngày không bay. Mùi ấy anh đã quên lâu đến mức không còn biết mình quên.
Kiệm mở mắt.
Trên đầu anh là cái gác xép gỗ lim đen bóng, nắng lọt qua khe ván thành những sợi vàng có bụi bay lơ lửng. Anh nằm trên tấm phản, gối đầu lên cái gối vỏ đỗ. Ở góc nhà, cái tủ gỗ ba buồng có tấm gương ố một vệt hình con cá. Trên tường, tờ lịch bloc dày cộp treo ở cái đinh, tờ trên cùng in số 5 màu đen to tướng.
Anh ngồi dậy, chậm, chờ cái đau ở ngực. Nó không đến. Anh chờ cái đau ở thắt lưng, cái đau mười năm nay sáng nào cũng bắt anh lăn nghiêng người mới ngồi lên được. Nó cũng không đến. Anh bật dậy nhẹ đến mức suýt bổ nhào ra trước.
Anh giơ hai bàn tay lên. Không có vết sẹo dao phay ở mu bàn tay trái. Không có cái móng tay cái đen sì vì bị bao hàng đè. Mười ngón tay của một người thợ lò trẻ, dày, chai ở lòng, móng cắt bằng.
Anh đứng lên, đi đến tờ lịch. Thứ Bảy, ngày 5 tháng 9 năm 1992. Dòng chữ nhỏ bên dưới: ngày 9 tháng Tám, năm Nhâm Thân.
Kiệm đứng nhìn tờ lịch lâu đến mức tiếng trẻ con khóc ở sân sau đã nín, đã chuyển sang ê a, rồi lại khóc. Anh không cần hỏi đây là đâu. Đây là nhà u ở phố Chợ, thị xã Vạn Lăng. Đứa bé ở sân sau là cái Hến, con gái anh, mười lăm tháng tuổi. Người đàn bà đang dỗ nó là Gấm. Và hôm nay là ngày ấy.
Anh biết đó là ngày ấy trước cả khi quay lại nhìn nóc tủ. Nhưng anh vẫn quay lại.
Trên nóc tủ có một cái phong bì giấy xi măng, gập đôi, buộc bằng sợi chun. Trong đó là một triệu tám trăm nghìn đồng, tiền trợ cấp nghỉ việc theo chế độ của Xí nghiệp sứ Vạn Lăng, anh lĩnh hôm cuối tháng Tám. Bảy năm đốt lò, đổi lấy cái phong bì ấy và một tờ quyết định có con dấu đỏ. Bên cạnh phong bì là một gói vải đỏ nhỏ bằng hai đốt ngón tay. Anh không cần mở cũng biết bên trong có đôi khuyên tai và cái nhẫn trơn, tổng cộng hai chỉ vàng. Vàng cưới của Gấm.
Tối qua, sau một trận cãi nhau mà cả dãy phố nghe thấy, Gấm đã tháo đôi khuyên ra khỏi tai, tuột cái nhẫn khỏi ngón, gói lại, ném lên nóc tủ. Anh nhớ rõ câu cô nói, vì ba mươi năm sau anh vẫn còn nghe thấy nó những đêm mất ngủ: Anh cầm hết đi. Mất thì anh nhớ là anh tự mất.
Và trưa nay, lúc mười hai giờ, anh Tòng sẽ đến. Anh sẽ đưa cả phong bì lẫn gói vải đỏ cho anh Tòng, góp vốn buôn bốn mươi chiếc xe đạp khung Trung Quốc từ Lạng Sơn về. Cuối tháng, anh Tòng sẽ về tay trắng, bảo hàng bị giữ ở trạm. Anh sẽ không bao giờ thấy lại một đồng nào. Anh sẽ chửi anh Tòng giữa chợ là đồ lừa đảo, sẽ uống rượu, sẽ đi buôn những chuyến to hơn để gỡ, sẽ thua những chuyến to hơn nữa. Gấm sẽ không bao giờ đeo lại khuyên tai.
Rồi những thứ khác nữa sẽ xảy ra. Những thứ anh không muốn nghĩ tới khi đứng ở đây, trong buổi sáng có nắng này, khi con gái anh đang khóc ở sân sau vì chưa được ăn.
Kiệm cầm gói vải đỏ lên. Nó nhẹ hơn anh tưởng.
Sân sau nhà u lát gạch đỏ, rêu xanh ở mép giếng. Cây nhãn già che nửa sân, quả còn xanh lấm tấm. Gấm ngồi trên cái ghế con bên cạnh bếp, một tay bế cái Hến, một tay khuấy bát bột. Cô mặc cái áo cánh màu cốm, tóc buộc túm, mặt còn sưng vì khóc tối qua.
Hai mươi ba tuổi. Kiệm đứng ở bậc cửa và không bước tiếp được. Lần cuối anh thấy cô là ở đám cưới con gái năm 2019, từ hàng ghế cuối. Cô năm mươi tuổi, tóc bạc ở thái dương, nhìn thấy anh thì gật đầu một cái rồi quay đi. Không phải giận. Là cái gật đầu với một người quen cũ.
Còn đây là Gấm của năm 1992, ngẩng lên nhìn anh bằng đôi mắt đỏ hoe, chờ anh nói một câu xin lỗi mà cô biết chắc anh sẽ không nói.
Cái Hến nhìn thấy bố thì giơ hai tay ra, miệng dính bột: Bố, bố.
Kiệm bước xuống sân. Anh không ôm con, vì sợ ôm thì sẽ khóc. Anh ngồi xổm xuống trước mặt vợ, đặt gói vải đỏ vào lòng bàn tay cô.
– Em cất đi. – Anh nói. – Anh không cần.
Gấm nhìn gói vải, rồi nhìn anh. Cô không nắm tay lại.
– Anh lại định làm gì?
– Anh không làm gì cả.
– Thế tiền thôi việc?
– Anh giữ. Anh không đưa ông Tòng.
Gấm nhìn anh lâu, cái nhìn của người đã quen bị lừa bằng những câu hứa nhẹ tênh. Hôm qua chồng cô còn đập tay xuống mặt bàn bảo đời người có mấy lần được ăn to, đàn bà biết gì.
– Anh nói như ông già ấy. – Cô nói khẽ, rồi nắm tay lại, gói vải đỏ biến vào trong lòng bàn tay. – Em cất. Nhưng anh đừng có hôm nào lại đòi.
Kiệm gật. Anh đưa tay quệt vết bột trên má con gái. Cái Hến nắm lấy ngón tay anh, kéo vào miệng mút. Răng sữa mới nhú, ngưa ngứa. Anh để yên đấy rất lâu.
Chợ Vạn Lăng cách nhà u có năm chục bước chân. Mái tôn gỉ thành từng đám, nắng chiếu qua lỗ thủng xuống lối đi thành những đồng xu sáng lóa. Gian hàng của u là gian thứ tư dãy B, cạnh hàng mắm của bà Sáu.
Người ta chào anh dọc đường, và anh nhận ra từng khuôn mặt mà rờn rợn như đi giữa những tấm ảnh thờ.
U ngồi trên cái ghế đẩu cao giữa gian hàng, xung quanh là những thúng lạc, đỗ xanh, đỗ đen, những bao miến dong, mộc nhĩ, những lọ hạt tiêu nút lá chuối. Năm mươi hai tuổi, u vẫn còn đen tóc, chỉ có hai vệt bạc chạy dọc như ai lấy phấn quệt vào. Áo nâu, khăn mỏ quạ, hai tay đang lật một mẹt lạc nhặt ra những hạt lép, nhanh như gà mổ.
Năm 2008, anh đứng ở cửa phòng cấp cứu bệnh viện tỉnh, không có tiền đóng viện phí, và u đã nắm tay anh mà bảo: Thôi, về nhà, tao muốn chết ở nhà.
– Đứng đấy làm gì? – U không ngẩng lên. – Ăn sáng chưa? Vợ mày nó lại khóc cả đêm, tao nghe thấy hết.
– Con chưa ăn.
– Thế thì đi mà ăn. Tao không có cơm cho người đi buôn xe đạp.
Trên xà ngang, cái cân đòn của u treo ở móc sắt, đòn bằng gỗ nghiến đen bóng vì tay người, vạch đinh đồng chạy dọc thân như đốt tre. Quả cân đồng lủng lẳng ở đầu sợi dây gai. Từ bé anh đã bị cấm sờ vào cái cân ấy. Năm nào bố anh cũng mang nó lên phòng đo lường thị xã cho người ta kiểm, về treo lên, không ai được lấy ra làm đồ chơi.
Anh đưa tay nâng quả cân lên.
Nó nằm trong lòng bàn tay anh, mát lạnh, hình quả bầu nậm nhỏ. Trên bụng có ba vết khía song song, dấu của bố. Anh nhấc nhấc nó, và có cái gì không đúng, nhỏ như hạt cát trong giày. Nó nặng tay hơn anh nhớ.
Rồi anh tự cười mình. Anh nhớ nó bằng bàn tay của một thằng bé mười tuổi, bốn mươi lăm năm về trước. Bây giờ là bàn tay khác, trí nhớ của một ông già. Có gì đáng tin trong hai thứ ấy đâu.
– Bỏ xuống. – U quát. – Mày làm lệch cân của tao.
Anh bỏ xuống. Quả cân đung đưa mấy cái rồi đứng im.
– U ơi. – Anh nói. – Con không đưa tiền cho ông Tòng nữa.
U ngừng tay. Hạt lạc lép kẹp giữa hai ngón tay, chưa kịp vứt.
– Mày nói thật hay mày nói để tao nấu cơm cho mày ăn?
– Thật.
U nhìn anh như nhìn một mớ hàng lạ. Rồi u búng hạt lạc lép ra ngoài lối đi.
– Thế thì về mà ăn. Trong nồi có cơm nguội với cà. Mà mày lấy cái gì để ăn với nó? Một triệu tám trăm nghìn để trong nhà, ngồi nhìn thì nó cũng hết.
Bà Sáu mắm ở gian bên cạnh thò đầu sang, cười khục khục, răng đen nhánh:
– Thằng Kiệm hôm nay hiền thế. Đêm qua vợ nó bỏ bùa à?
Kiệm cũng cười. Có lẽ vì mùi mắm tôm của bà Sáu, cái mùi mà ba mươi năm sau anh đi khắp chợ Hà Nội không tìm thấy hũ nào thối đúng như thế.
Anh ngồi ăn cơm nguội với cà ở bậc thềm. Cái Hến bò lại giành một quả cà, cắn một cái thì mếu, vẫn cầm khư khư không trả.
Anh tính. Anh không nhớ con số xổ số nào, cả đời anh chưa trúng một tờ. Anh không nhớ giá vàng năm nào lên năm nào xuống, chỉ nhớ những lần mình bán chạy vì cần tiền. Cái anh nhớ là những ngày tai họa của nhà mình, rõ như vết sẹo: ngày anh đưa tiền cho anh Tòng; ngày thằng Khảm chết trên con dốc; ngày con trai anh. Anh dừng ý nghĩ ấy lại ở đó, như dừng tay trước một cái chảo đang nóng.
Và anh nhớ những nghề mình đã làm. Bốc vác, phụ xe, gác cổng công trường. Sáu năm làm thuê ở xưởng kẹo lạc của ông Cự trong một con ngõ ở Hà Nội. Rang lạc bằng cát, nấu mạch nha, cắt kẹo cho đến khi hai bàn tay nhớ được độ giòn của một mẻ kẹo bằng cái tiếng nó gãy.
Một người năm mươi lăm tuổi trong cái xác hai mươi lăm. Thế thôi. Đó là tất cả vốn liếng của anh, cộng với một triệu tám trăm nghìn đồng trên nóc tủ.
Mười một giờ rưỡi, ngoài ngõ có tiếng xe máy hai thì nổ bành bạch rồi tắt, rồi tiếng cánh cổng sắt ken két.
– Kiệm ơi! Có nhà không mày!
Không phải giọng anh Tòng. Giọng ấy to, khàn, cười sẵn ở trong. Kiệm đặt bát cơm xuống bậc thềm. Tay anh run, một chút thôi, đủ để đôi đũa lăn xuống gạch.
Thằng Khảm. Hai mươi sáu tuổi, áo bộ đội bạc màu xắn tay, đầu húi cua, khuôn mặt to bè đỏ nắng, đứng ở cổng mà cười như thể cả cái thị xã này là của nó. Đứng cạnh nó, gầy và thấp hơn một cái đầu, là anh Tòng, áo sơ mi trắng cài kín cúc cổ, tay cầm cái cặp giả da.
Khảm bước vào sân, vỗ vai anh đánh bốp một cái.
– Ông Tòng bảo mày đổi ý. – Nó nói, vẫn cười. – Tao không tin. Thằng Kiệm mà đổi ý thì trời sập. Thế nào? Mày không góp thì tao góp. Sáng nay tao đã bán con xe đạp với cái đài rồi đây này.
Nó vỗ vỗ vào túi áo ngực, chỗ cộm lên một xấp tiền buộc chun.
Kiệm nhìn túi áo của bạn mình. Năm 1995, người ta kéo Khảm ra khỏi buồng lái một chiếc xe tải lật nghiêng ở con dốc trên đường số Một. Trong túi áo ngực nó lúc ấy có một tờ giấy ghi số hàng của Kiệm, viết bằng chính tay Kiệm.
Bây giờ trong cái túi ấy là tiền của nó. Không phải tiền của anh.
— Hết chương 1 —
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe