Chương 9: Ba cân trong một tạ
Kẹo giữ được giòn qua nồm.
Tháng Hai năm Quý Dậu, trời nồm đến mức nền gạch nhà u đọng nước như ai vừa dội, tường vôi rịn mồ hôi, quần áo phơi ba ngày không khô. Kiệm xếp kẹo vào bốn cái chum sành mua ở chợ, đáy chum lót một lớp vôi sống bọc vải màn, nắp đậy bằng cái mo cau buộc dây. Mười ngày sau mở ra, miếng kẹo bẻ vẫn đánh tách.
Bà Duệ nhận chuyến kẹo tháng Hai mà không nói câu nào. Tháng Ba bà đặt gấp đôi. Đến tháng Năm thì kẹo lạc của Kiệm đã nằm trong bốn cửa hàng bánh mứt ở phố Hàng Đường, bày trong những cái lọ thủy tinh to, không có nhãn, người bán chỉ gọi là kẹo lạc dưới quê.
Cái sân sau nhà u thành xưởng thật sự. Ba cái lò đất thành bốn. Chị Lài thành người giữ việc, đến từ năm giờ sáng, về khi trời tối, mồm năm miệng mười, tay không lúc nào ngơi. Thêm hai chị nữa ở xí nghiệp sứ nghỉ việc, thêm cô bé mười hai tuổi nhà bên cạnh mỗi chiều đi học về sang gói kẹo. Lạc xuân dỡ vào cuối tháng Năm, Kiệm sang Bồ Xuyên mua gần hết vụ của xóm Bãi Giữa. Lạc hạt to bán bà Duệ. Lạc hạt nhỏ để nấu kẹo. Gấm giữ sổ tiền, mỗi tối ngồi bên cái bàn gỗ cộng trừ, rồi cất vào cái hộp sắt dưới gầm giường. Đến cuối tháng Tám, trong hộp có hơn sáu triệu đồng.
Anh Tòng đã thôi buôn lạc, chuyển sang buôn phụ tùng xe máy ở bến xe. Thằng Khảm vẫn lái xe cho hợp tác xã, thỉnh thoảng chạy cho Kiệm một chuyến hàng tư, và đã trả hết hai trăm nghìn hồi tháng Ba.
Mọi việc đều đi đúng như một người làm ăn tử tế mong muốn. Cân đủ, trả tiền ngay, hàng không sai lần nào. Cả bãi Bồ Xuyên bây giờ gọi anh là cậu Kiệm cân đủ.
Đầu tháng Chín, mùa lạc thu, Kiệm lên Hà Nội mua một cái cân bàn.
Lạc mua nhiều lên, mỗi ngày bốn năm tạ, cái cân đòn treo trên vai anh với thằng Lũng không còn kịp nữa. Mỗi bao phải móc lên, kéo quả cân, chờ cho đòn đứng yên, đọc số, rồi gỡ xuống. Mới cân nửa buổi sáng hai chú cháu đã mỏi rời vai. Anh mua một cái loại một tạ, mặt sắt, cột sắt có cái đồng hồ kim, bốn trăm tám mươi nghìn đồng, thuê xe thồ chở ra bến xe rồi chất lên mui xe khách về.
Anh định mang nó sang bãi, đặt ở sân nhà bà Hòe, cho người bán tự đứng xem kim chỉ. Nhưng trước khi mang sang, anh đặt nó ở sân sau nhà u, để thử.
Thứ Bảy, ngày hai mươi lăm tháng Chín, Lũng chèo thuyền chở sang mười hai bao lạc Kiệm vừa mua buổi sáng. Mười hai bao, mỗi bao anh đã cân bằng cái cân đòn, có giấy ghi số, có chữ ký người bán.
Bao đầu tiên của nhà ông Thục xóm dưới. Giấy ghi năm mươi cân. Kiệm đặt nó lên cân bàn. Kim đồng hồ quay một vòng rồi dừng ở năm mươi mốt cân rưỡi.
Anh nhìn cái kim. Anh nhấc bao xuống, đặt lại. Năm mươi mốt cân rưỡi.
– Cân mới chưa chuẩn đấy chú. – Lũng nói. – Hay là cái lò xo nó cứng.
Bao thứ hai, nhà bà Hòe. Giấy ghi bốn mươi tám. Cân bàn chỉ bốn mươi chín rưỡi.
Bao thứ ba. Giấy ghi năm mươi hai. Cân bàn chỉ năm mươi ba rưỡi.
Kiệm cân cả mười hai bao. Bao nào cũng hơn số trên giấy. Bao nào cũng hơn chừng ba phần trăm. Một trăm cân trên giấy thì cân bàn chỉ một trăm linh ba.
– Cân này hỏng rồi chú. – Lũng nói. – Chú mang lên Hà Nội trả người ta đi.
Kiệm không nói gì. Anh đứng nhìn cái kim đồng hồ đang run run ở vạch năm mươi ba rưỡi. Cái cân bàn của bà Duệ chưa bao giờ sai với cân của anh quá một cân, mỗi lần một trăm bốn mươi cân lạc nhân. Nhưng lạc nhân thì anh cân bằng cân đĩa của u. Lạc vỏ anh mua ở bãi thì anh cân bằng cân đòn.
Anh chưa bao giờ đặt hai cái cân ấy cạnh nhau.
Chiều thứ Hai, anh lên Ban quản lý chợ Vạn Lăng mượn bộ quả cân chuẩn. Ông trưởng ban là người quen của bố anh ngày trước. Ông mở cái tủ sắt, lấy ra một quả cân gang mười cân hình hộp, có kẹp chì của phòng đo lường, đưa cho anh, dặn trước lúc chợ đóng cửa phải mang trả.
Anh mang quả cân gang về sân sau. Đặt lên cân bàn. Kim chỉ đúng mười cân.
Anh lấy cái cân đòn của u, treo lên cái xà gỗ ở hiên. Móc quả cân gang vào móc cân. Kéo quả cân đồng trượt dọc đòn, chậm, chậm, cho đến lúc đòn nằm ngang. Đọc vạch.
Chín cân bảy.
Anh làm lại. Chín cân bảy. Anh đổi tay, đổi chỗ đứng, lau cái móc. Chín cân bảy.
Một quả cân nặng mười cân, cái cân đòn của u bảo nó chỉ nặng chín cân bảy. Mua một trăm cân thì giấy chỉ ghi chín mươi bảy. Ba cân trong một tạ.
Anh tháo quả cân đồng ra khỏi sợi dây gai, đặt lên lòng bàn tay. Ba vết khía sắc cạnh. Nặng tay hơn trong trí nhớ.
Nặng tay hơn trong trí nhớ. Anh đã thấy điều đó từ cái buổi sáng đầu tiên, ngày năm tháng Chín năm ngoái, khi anh vừa mở mắt ra ở cái kiếp này. Anh đã thấy, rồi tự cười mình. Anh đã miết ngón tay lên ba vết khía hôm ba mươi Tết, thấy sắc, rồi lại tự bảo mình nhớ nhầm.
Một quả cân nặng hơn thì đòn cân phải kéo nó vào gần hơn mới cân bằng. Kéo vào gần hơn thì vạch đọc được ít hơn. Hàng nặng mười cân, cân ra chín cân bảy. Ai cầm cái cân ấy đi mua, người ấy lời ba cân trong một tạ. Ai bán cho người cầm cái cân ấy, người ấy mất ba cân trong một tạ mà không biết.
Bà Hòe biết đọc vạch. Bà Hòe cúi xuống đọc từng vạch, mắt nheo lại. Nhưng bà Hòe không biết quả cân nặng bao nhiêu. Không ai biết. Không ai nhìn quả cân. Người ta chỉ nhìn vạch.
Anh không nói với ai.
Anh bảo thằng Lũng là cái cân bàn hỏng. Anh ngừng sang bãi, bảo trời sắp mưa. Bốn ngày liền anh đứng bên chảo nha từ sáng đến tối, không nói một câu, đến mức chị Lài phải hỏi chú Kiệm ốm à.
Đêm nằm, anh nghe thấy tiếng bãi Bồ Xuyên của kiếp trước. Tháng Mười năm 1993. Một ông già ở xóm dưới mang hai bao lạc vừa bán cho anh sang hợp tác xã nhờ cân lại bằng cân bàn của kho thóc. Thiếu ba cân. Chiều hôm ấy cả xóm kéo ra bến đò. Người ta không đánh anh. Người ta chỉ đứng thành một hàng dài ở mép bãi, nhìn anh khiêng cái cân đòn xuống thuyền, và có người nói một câu không to không nhỏ: Thằng cân điêu. Rồi cả xóm nói theo.
Anh đã chửi lại. Anh đã thề với trời đất. Anh đã chỉ tay sang cái lán của anh Tòng ở đầu xóm, gào lên là có người hại anh. Ba mươi năm, anh tin như vậy. Có người hại anh. Anh bị vu oan. Anh là người tử tế bị đời chơi xấu, và điều đó cho phép anh làm mọi thứ sau này.
Cẩn thận cái cân nhà chú.
Anh Tòng đã đứng dưới giàn mướp mà nói với anh như thế. Không phải lời dọa. Là một lời nhắc của một người đi buôn, biết những gì người bãi nói với nhau sau lưng, mà không thể nói thẳng với con trai người ta.
Cân nhà bà Tươi xưa nay vẫn chặt.
Bà Hòe đã nói với anh câu ấy ngay buổi sáng đầu tiên. Không phải khen. Không phải chê. Là một câu người ta nói khi đã biết từ lâu và đã thôi không buồn nói nữa.
Chiều thứ Năm, ba mươi tháng Chín, rằm tháng Tám.
U ra chợ từ sáng. Gấm đưa cái Hến sang nhà bà ngoại ở Đồng Khê, tối mới về. Chị Lài và mấy chị nghỉ sớm để về làm cỗ trung thu cho con. Cái sân sau vắng tanh, bốn cái lò đất nguội ngắt.
Kiệm vào buồng u.
Cái rương gỗ của u để dưới gầm giường, từ ngày u về làm dâu nhà này. Hồi bé anh bị cấm mở. Bây giờ anh kéo nó ra, mở cái khóa đồng không có chìa, chỉ cài bằng một cái chốt. Bên trong là mùi long não, mùi vải cũ. Mấy cái áo dài của u từ hồi cưới, gấp vuông vức. Một tập giấy tờ nhà buộc dây chun. Một cái hộp sắt đựng mấy tấm ảnh. Cái mũ cối của bố.
Dưới đáy rương, trong góc, có một cái gói nhỏ bọc bằng khăn mùi xoa trắng. Cái khăn mùi xoa của bố, thêu chữ C bằng chỉ xanh ở góc. Anh nhận ra nó vì hồi bé bố hay dùng nó lau mắt kính.
Anh mở cái khăn.
Một quả cân đồng hình quả bầu nậm nhỏ. Cái móc trên đỉnh mòn thành rãnh. Trên bụng có ba vết khía song song, mòn nhẵn, sờ vào trơn như hòn cuội.
Anh đặt nó lên lòng bàn tay. Nhẹ. Đúng cái nhẹ trong trí nhớ của thằng bé mười tuổi. Đúng cái nhẹ mà anh đã ngờ suốt một năm nay, rồi tự cười mình.
Anh ngồi trên nền gạch trong buồng u rất lâu, quả cân của bố trong tay, cho đến khi ngoài ngõ bọn trẻ con bắt đầu rước đèn.
Tối ấy, u về lúc tám giờ. Gấm và cái Hến vẫn chưa về. U bày mâm cỗ ra hiên như năm ngoái: một quả bưởi, mấy quả hồng, cái bánh nướng, đĩa kẹo lạc của Kiệm. Cái đèn ông sao năm cánh của năm ngoái vẫn treo trên gác xép, giấy bóng kính đã bạc màu thành hồng nhạt. Trăng lên khỏi mái chợ, to và vàng như năm ngoái.
Kiệm đặt hai quả cân lên mâm cỗ, cạnh đĩa kẹo.
U nhìn hai quả cân. U không giật mình. U không hỏi mày lục rương của tao à. U chỉ nhìn, rất lâu, như người ta nhìn một cái đồng hồ đã dừng.
– Con mượn quả cân chuẩn của Ban quản lý chợ. – Kiệm nói. – Cân đòn của u, mười cân chỉ chín cân bảy.
U vẫn không nói gì.
– U ơi. – Kiệm nói. – Từ bao giờ?
U cầm quả cân của bố lên, quả nhẹ, quả có ba vết khía mòn. U miết ngón tay cái lên ba vết khía, như bố ngày xưa miết.
– Từ tháng Tư năm tám bảy. – U nói. Giọng u đều đều, như đọc giá hàng. – Bố mày nằm viện tỉnh từ tháng Mười năm tám sáu. Hai đợt. Thuốc phải mua ngoài, người ta bảo mua ở chợ đen, một lọ bằng nửa tháng lương. Tao vay bà Đào ba chỉ vàng. Bà Đào cho vay tính lãi theo tháng. Tháng Hai bố mày mất. Mày thì mới vào lò, lương học việc không đủ mày ăn, tháng nào tao cũng phải dúi thêm.
U đặt quả cân của bố xuống, cầm quả kia lên.
– Tháng Tư tao mang quả cân của bố mày sang Thịnh Khê, nhờ ông thợ đồng đúc một quả y hệt. Nặng hơn một tí. Ông ấy hỏi tao để làm gì. Tao bảo để phòng mất. Ông ấy biết. Ông ấy đúc cho tao, khía cả ba vết khía cho giống. Ông ấy chết năm chín mươi rồi.
– U dùng nó khi mua hàng.
– Tao chỉ dùng khi mua. – U nói, lần đầu tiên giọng u cao lên một chút. – Bán thì tao dùng cân đĩa. Tao chưa thiếu khách nào một lạng. Mày đi khắp chợ này mà hỏi.
– Còn những người bán cho u?
U im.
– Ba chỉ vàng, tao trả bà Đào mất hai năm rưỡi. – U nói, chậm lại. – Trả xong rồi. Cuối năm tám chín trả xong rồi.
– Thế sao u không bỏ nó đi?
U nhìn quả cân trong tay. Lần này u nhìn lâu hơn.
– Tao không biết. – U nói. – Quen tay rồi. Ai đi mua mà chả thế. Người bãi họ cũng phun nước vào lạc, họ cũng để cát trong bao. Mày tưởng họ không biết à? Họ biết. Bà Hòe biết. Cả cái bãi ấy biết. Họ vẫn bán cho tao, vì tao trả tiền ngay, không bao giờ nợ ai một ngày.
– Thế sao u đưa nó cho con? Hôm con sang bãi lần đầu?
U ngẩng lên nhìn anh. Trong ánh trăng, mặt u già đi mười tuổi.
– Mày đi mua thì tao đưa quả mua. – U nói. – Tao tưởng mày biết.
Kiệm ngồi im. Ngoài ngõ, bọn trẻ con hát bài rước đèn tháng Tám, tiếng trống hộp sắt đập loạn xạ. Trên gác xép, cái đèn ông sao năm ngoái đung đưa trong gió lùa qua khe ván.
Một năm. Một năm anh đi khắp bãi Bồ Xuyên với cái cân đòn trên vai và tờ giấy học trò trong túi. Một năm anh tự hào là người cân đủ, người không bao giờ cân điêu, người tử tế giữa một đám thương lái ép giá. Cả cái chữ tín mà anh xây được, xây trên một quả cân nặng hơn quả của bố bốn đồng cân.
Và kiếp trước, cái mùa thu năm 1993 ấy, người ta không vu oan cho anh. Người ta chỉ nói thật.
– Mai con sang bãi. – Anh nói.
U đặt quả cân xuống mâm, cạnh đĩa kẹo, cạnh quả bưởi.
– Mày sang đấy, – u nói, – là mày bêu tao.
— Hết chương 9 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe