Chương 22: Ông chủ Kiệm
– Anh Kiệm uống đi. Chén này anh không uống là anh coi thường em.
Người nói là ông trưởng phòng mua hàng của một cửa hàng bách hóa lớn ở Hà Nội, mặt đỏ như gấc, cái cà vạt đã nới ra một nửa. Bàn tiệc kê ở tầng hai một nhà hàng đặc sản trên đường ra bến Long Biên, có ba đĩa thịt dê, một con gà luộc, một bình rượu ngâm mấy cái củ gì đó đen sì. Tấn ngồi bên phải Kiệm, rót rượu cho mọi người, cái máy nhắn tin để trên mặt bàn, cứ năm phút lại kêu tít tít một lần.
Kiệm cầm chén lên. Bốn năm anh không uống một giọt, từ cái buổi sáng tháng Chín năm 1992 anh mở mắt ra trên tấm phản nhà u. Nhưng tháng Mười năm nay, ở một bàn tiệc như thế này, Tấn đã ghé tai anh bảo: Ở Hà Nội, người ta không ký giấy với người không uống. Anh đã uống một chén. Rồi chén thứ hai. Rồi anh thôi đếm.
Rượu trôi xuống cổ, nóng rát. Cái nóng ấy anh quen. Anh quen nó từ ba mươi năm sau, theo cái đồng hồ của riêng anh.
– Thế mới là ông chủ. – Ông trưởng phòng vỗ vai anh. – Tết này anh cho em năm tạ. Hàng phải đẹp như hàng anh bán cho công ty tỉnh bên. Em nghe nói kẹo của anh qua nồm vẫn giòn.
– Năm tạ thì có. – Kiệm nói.
Anh nghe chính mình nói câu ấy và không thấy lạ nữa.
Cuối năm 1996, xưởng kẹo trong kho số ba có ba mươi người làm, chia hai ca. Ca sáng từ bốn giờ đến trưa, ca chiều từ trưa đến tám giờ tối. Mười cái lò đất dọc tường phía đông, sáu mươi cái chum sành chiếm hết góc phía tây và tràn sang cả cái kho số bốn bên cạnh mà Kiệm thuê thêm hồi tháng Mười.
Anh mua thêm một chiếc xe tải nữa, cũ hơn chiếc đầu vuông, sơn màu cỏ úa. Thằng Lũng thi bằng lái tháng Mười, mười chín tuổi, đỗ ngay lần đầu, cầm cái bằng về cười suốt một buổi chiều như được ai cho vàng. Nó lái chiếc xe cũ. Chiếc đầu vuông xanh nước biển thì Kiệm thuê một ông lái xe ở bến, ông Đạt, năm mươi tuổi, tóc bạc, không uống rượu, không đánh bài. Cái cân đòn đỏ trên cửa buồng lái bị cào mất một góc, Gấm không kẻ lại.
Anh Nghĩa lấy ba tấn Tết. Tấn lấy hai tấn. Cửa hàng bách hóa trên Hà Nội lấy năm tạ. Bà đại lý ở Hòn Gai lấy một tấn rưỡi, chia ra các hàng tạp hóa ở khu mỏ. Lần đầu tiên, Kiệm phải sang tận Bồ Xuyên và hai xã bên cạnh mua lạc, mà vẫn thiếu, phải lấy thêm lạc của một ông thương lái ở Nam Định chở lên.
Chuyến lạc Nam Định đầu tiên về đến xưởng, u bốc một nắm, đưa lên mũi ngửi, rồi bóc một hạt, cắn.
– Lạc này người ta ủ ẩm cho nặng rồi sấy lại. – U nói. – Rang lên thì thơm, để một tháng là hôi dầu.
– Mười bảy tạ đấy u ạ. – Kiệm nói. – Trộn với lạc bãi, mỗi mẻ một ít thì không ai biết.
Cả cái góc rang lạc im bặt. Chị Lài đứng bên chảo, cầm cái muôi gỗ lơ lửng. U không nhìn anh. U thả nắm lạc xuống bao, phủi tay.
– Mày nhớ cái đêm hai mươi sáu Tết năm Nhâm Thân không? – U nói. – Mất điện, đèn bão. Mày đổ cả một mẻ kẹo ra mâm riêng vì nó hơi khét. Con Lài nó bảo trộn vào mấy mẻ kia, ai biết. Mày bảo bà Duệ biết.
Kiệm đứng im.
– Bà Duệ về hưu rồi. – U nói. – Thế thì bây giờ ai biết?
Chiều hôm ấy, mười bảy tạ lạc Nam Định lên xe trả lại cho ông thương lái. Kiệm mất tiền xe hai chiều. Anh không nói gì với u về chuyện ấy, và u cũng không nhắc lại. Nhưng tối ấy, lúc rửa tay ở giếng, anh nhìn mặt mình trong gáo nước và thấy cái mặt ấy hơi giống một người anh đã quen ở chợ đầu mối, những năm hai nghìn mười.
Anh ít ở nhà. Anh dậy lúc ba giờ, ra xưởng, đến trưa thì lên Hà Nội, đến tối ăn cơm với người này người kia. Mười một giờ đêm mới đi nhờ xe về, có hôm ngủ lại ở một nhà nghỉ gần bến xe Long Biên. Cái máy nhắn tin không còn giấu dưới vạt áo nữa. Nó kêu suốt, và anh rút nó ra xem ở mọi chỗ, trên mâm cơm, ở bậc thềm, giữa câu chuyện với u.
Thứ Bảy đầu tiên của tháng Mười hai, lương trả muộn hai tiếng.
Kiệm cầm tiền đi Hà Nội từ sáng, đặt cọc một cái máy hàn túi bằng điện mà Tấn giới thiệu, hẹn chiều về. Xe khách hỏng ở bến phà. Năm giờ chiều, ba mươi người đứng chờ ở sân xưởng. Gấm ngồi ở cái bàn gỗ cạnh cân bàn, trước mặt là cuốn sổ lương và ba mươi cái phong bì rỗng.
Bảy giờ tối anh mới về đến cổng. Ba mươi người vẫn đứng đấy. Không ai về. Chị Lài ngồi trên cái thùng phuy úp ngược, khoanh tay, nhìn anh bước vào, không nói câu nào.
Gấm đếm tiền vào từng phong bì. Cô đọc tên, như mọi thứ Bảy. Không ai cãi. Không ai phàn nàn. Họ chỉ nhận phong bì, ký tên, rồi về, và không ai chào anh.
– Anh xin lỗi. – Kiệm nói với Gấm, lúc xưởng đã vắng. – Xe hỏng ở bến phà.
– Em biết. – Gấm nói, gấp cuốn sổ lương lại. – Em không hỏi xe. Em hỏi tiền lương của ba mươi người sao lại nằm trong túi anh, đi Hà Nội.
– Anh cần đặt cọc gấp.
– Anh cần thì anh nói với em. – Gấm nói. – Hồi mình thỏa thuận thế. Anh bảo ừ.
Kiệm không nói gì. Gấm buộc cuốn sổ bằng sợi chun, đứng dậy, tắt bóng đèn ở góc xưởng.
Giữa tháng Một năm 1997, trường mẫu giáo của cái Hến tổ chức buổi liên hoan tất niên.
Con bé năm tuổi rưỡi, được cô giáo chọn múa bài hát về chú bộ đội. Gấm may cho nó cái váy đỏ bằng mảnh vải thừa của tấm khăn trải bàn thờ, thêu một ngôi sao vàng ở ngực. Cả tuần cái Hến tập múa ở sân, vừa múa vừa hát, chân giậm đều trên nền gạch, tay giơ lên chào. Tối nào nó cũng chạy đến chỗ bố.
– Thứ Bảy bố có đến xem con không?
– Có.
– Bố hứa đi.
– Bố hứa.
Thứ Bảy ấy, Kiệm ăn cơm với Tấn và hai ông chủ cửa hàng ở phố Huế. Bữa trưa kéo đến bốn giờ chiều. Anh về đến Vạn Lăng lúc tám giờ tối, người nồng mùi rượu, trong túi áo có một tờ giấy đặt hàng thêm tám tạ.
Cái Hến đã ngủ. Cái váy đỏ treo trên thành giường, ngôi sao vàng ở ngực phẳng phiu.
Gấm ngồi ở bậc thềm. Cô không nhìn anh.
– Con múa hàng đầu. – Cô nói. – Múa xong, con đứng trên sân khấu tìm bố. Cô giáo phải bế xuống.
Kiệm đứng ở bậc cửa. Anh không nhớ là mình đã hứa. Anh nhớ. Anh chỉ không nhớ đến lúc cần nhớ.
Sáng hôm sau, cái Hến dậy, ăn sáng, mặc áo đi chơi, không hỏi bố câu nào. Kiệm mua cho nó một con búp bê tóc vàng ở chợ, loại nhắm mắt mở mắt được. Con bé cầm lấy bằng hai tay, nói cảm ơn bố, cái câu cảm ơn lễ phép như người ta nói với khách. Rồi nó nhờ mẹ đặt con búp bê lên tấm ván gác xép, cạnh cái bát mộc vẽ bông sen mà mẹ nó đã cất lên đấy từ mùa lũ năm ngoái. Nó không chơi với con búp bê ấy lần nào.
Kiệm đứng dưới chân thang, nhìn con búp bê trên gác. Năm 2019, ở đám cưới con gái, anh ngồi hàng ghế cuối. Cái Hến hai mươi tám tuổi, mặc áo dài đỏ, đi qua anh, gật đầu một cái. Cái gật đầu lễ phép, như với khách.
Anh đã tưởng là cái gật đầu ấy bắt đầu từ năm 2001, khi Gấm đem con đi. Có khi nó bắt đầu từ một buổi chiều thứ Bảy nào đó, ở một sân khấu mẫu giáo, khi một con bé mặc váy đỏ đứng tìm bố.
Hai mươi tám Tết, Kiệm về nhà lúc mười giờ đêm.
Anh đi tất niên với anh Nghĩa ở thị xã tỉnh bên, rồi với ông Đạt lái xe và mấy ông chủ hàng tạp hóa. Anh đi bộ từ bến xe về, chân không thẳng, cái máy nhắn tin trong túi áo kêu tít tít mà anh không buồn rút ra.
U ngồi ở bậc thềm gian ngoài. Đèn trong nhà đã tắt hết, chỉ còn cái đèn dầu nhỏ trên bàn thờ. U đắp cái chăn mỏng lên vai, cái ống nhổ bã trầu bên cạnh.
– Gấm nó lại sang bãi đưa lãi cho bà Hòe. – U nói. – Một mình. Thằng Lũng chèo đò hộ. Nó về lúc tối, không ăn cơm.
Kiệm ngồi xuống bậc thềm cạnh u. Hơi rượu bốc lên mũi chính anh.
– Năm nay xưởng lãi gấp ba năm ngoái. – Anh nói. – Con làm thế này là vì cả nhà.
U nhổ bã trầu vào ống nhổ, lau miệng.
– Tao biết. – U nói. – Tao cũng nói câu ấy mười năm.
Kiệm quay sang nhìn u. Trong ánh đèn dầu trên bàn thờ hắt ra, mặt u nghiêng nghiêng, cái vệt bạc ở thái dương đã lan rộng thành cả mảng.
– Bố mày ngày xưa không thế. – U nói. – Bố mày cả đời không làm ra tiền. Đi làm về là về, không đi đâu, không ăn của ai. Tao giận bố mày cả đời vì cái tính ấy. – U nhìn ra cái sân tối, chỗ cái rào tre trắng ởn. – Mày thì không giống bố mày. Nhưng mày đang giống tao.
– Con không cân điêu.
– Tao có bảo mày cân điêu đâu. – U nói. – Tao bảo mày giống tao. Làm cái gì cũng bảo là vì nhà này. Rồi đến một hôm nhìn lại, không còn biết mình làm vì cái gì nữa, chỉ biết là quen tay.
U đứng dậy, kéo cái chăn lên vai.
– Vợ mày nó không nói gì đâu. – U nói. – Nó giống bố mày. Nó im. Mày đừng tưởng nó im là nó không biết.
U đi vào trong. Kiệm ngồi một mình ở bậc thềm cho đến khi hơi rượu tan hết, cho đến khi ngoài phố có tiếng gà gáy sớm.
Mùng một Tết Đinh Sửu, thứ Sáu ngày bảy tháng Hai, cả nhà ăn cỗ đầu năm. Gấm gắp thức ăn cho mọi người, cho u, cho hai đứa con, cho anh. Cô nói chuyện bình thường, cười bình thường. Cô không nhắc chuyện cái Hến, chuyện lương thứ Bảy, chuyện sang bãi một mình. Cô im, như u nói.
Mùng sáu, ông Đạt chạy chuyến đầu năm đi Hòn Gai. Chiều mùng bảy, ông về, đỗ xe ở sân xưởng, rồi lục trong buồng lái ra một cái túi nilon, đi thẳng đến chỗ Kiệm.
– Bà đại lý Hòn Gai gửi anh cái này. – Ông Đạt nói. – Bà ấy bảo khách mua ở một hàng tạp hóa dưới chợ Hạ Long, ăn được hai miếng thì mang ra trả, chửi um lên.
Kiệm cầm cái túi. Nhãn đỏ. Cái cân đòn nhỏ, quả cân to, túm lạc ở đầu móc. Kẹo lạc bà Tươi. Vạn Lăng. Cân đủ năm trăm gam.
Anh xé túi. Mùi dầu ôi xộc lên mũi, cái mùi khét khét chua chua của dầu lạc đã để quá lâu. Những miếng kẹo bên trong mềm oặt, dính vào nhau thành một tảng, lạc thì hạt lép hạt mốc.
– Bà ấy hỏi, – ông Đạt nói, – cái này có phải nhà anh làm không?
— Hết chương 22 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe