AI Truyện
Cân lại đời mình từ năm 1992

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Những bao lạc không lấy tiền

Cân lại đời mình từ năm 1992 · Chương 30/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 30: Những bao lạc không lấy tiền

– Cậu không mua nợ. – Bà Hòe nói. – Thì tôi bán chịu. Hai cái ấy khác nhau.

Bà đứng giữa sân, hai tay chống vào cái cào tre, nhìn Kiệm như nhìn một đứa trẻ vừa nói một câu ngớ ngẩn. Năm mươi sáu tuổi, bà vẫn to ngang, vẫn cái áo bà ba nâu bạc vai, chỉ có tóc đã bạc gần hết, búi gọn sau gáy. Quanh chân bà, trên sân đất nện, lạc thu mới nhổ phơi thành từng luống dài, rễ chĩa lên trời.

Kiệm đã nói hết với bà, đứng ở cổng tre, không vào sân. Xưởng mất tiền. Năm nay không có tiền mặt mua lạc. Anh không mua nợ, vì cái luật ấy anh đặt ra từ năm chín hai, ngay trên cái sân này. Anh sang để nói trước, cho bà con trong bãi tìm người khác mà bán, đừng để lạc chờ anh đến mốc.

– Khác chỗ nào hả bác? – Anh hỏi.

– Mua nợ là cậu đến nhà người ta, cậu bảo bán cho tôi, mai tôi trả. – Bà Hòe nói. – Bán chịu là người ta tự mang đến cho cậu. Cậu không xin. Người ta cho.

Bà quay vào trong nhà. Kiệm nghe tiếng bà lục lọi gì đó trên bàn thờ, tiếng cái nắp hộp sắt kêu cạch. Bà đi ra, cầm cái hộp sắt đựng bánh cũ, cái hộp anh đã thấy hai năm trước, cái hộp đựng những tờ giấy học trò từ năm 1992. Bà mở nắp, chìa ra trước mặt anh.

Năm cái phong bì đỏ nằm chồng lên nhau. Phẳng phiu. Không có cái nào có dấu bóc.

– Tết Giáp Tuất, Tết Ất Hợi, Tết Bính Tý, Tết Đinh Sửu, Tết Mậu Dần. – Bà Hòe đếm, ngón tay gõ lên từng cái. – Vợ cậu năm nào cũng sang, hai mươi tám Tết, đưa bằng hai tay. Năm nào tôi cũng cất vào đây. Tôi bảo cô ấy là mở ra thì tôi tiêu. Không phải. Tôi không mở vì tôi biết sẽ có năm này.

– Bác…

– Tôi chưa nói xong. – Bà Hòe gắt, như năm năm trước. – Tám mươi sáu nghìn bốn trăm, vốn tôi góp. Cộng năm cái phong bì này. Tôi không biết trong đấy bao nhiêu, tôi chưa đếm. Cậu cầm về. Không phải tôi cho. Tôi rút vốn. Cậu trả công bóc lạc cho người ta bằng cái này. Còn lạc thì cậu nợ.

Kiệm cầm cái hộp sắt. Nó nhẹ. Năm cái phong bì đỏ không nặng hơn một nắm lạc.

Bà Hòe không chờ anh nói gì. Bà đi ra đầu ngõ, đứng trên cái gò đất cạnh bụi tre, và gọi. Ba tiếng, to, dài, như cái cách bà gọi người năm năm trước. Rồi bà quay vào, ngồi xuống bậc hiên, chờ.

Đến tám giờ sáng, trong sân nhà bà Hòe có gần ba chục người. Có những khuôn mặt Kiệm đã gặp hàng trăm lần trong sáu năm. Có ông Thục xóm dưới, lưng đã còng. Có thằng con trai cả của bà già hồi năm chín hai không ai gánh lạc hộ, giờ đã có vợ con. Có mấy người trẻ Kiệm không biết tên.

Bà Hòe nói ngắn. Xưởng của cậu Kiệm năm nay khó. Ai có lạc thì mang đến đây, cân ở cái cân giữa sân nhà tôi, cậu ấy viết giấy, đến khi nào trung tâm trên Hà Nội trả tiền thì cậu ấy trả. Ai không muốn thì thôi, không ai bắt.

– Trả trước Tết. – Kiệm nói. – Cháu viết vào giấy là trước hai mươi tháng Chạp.

Ông Thục đứng ở hàng đầu, chống cái gậy tre.

– Cân bằng cân nào? – Ông hỏi.

– Cân giữa sân nhà tôi. – Bà Hòe nói. – Cái cân từ năm chín ba đấy. Năm nào lũ xong thằng Lũng cũng lau, tra dầu. Kim vẫn đúng.

Ông Thục nhìn cái cân bàn gỉ ở giữa sân một lúc. Rồi ông quay ra cổng, gọi thằng cháu nội gánh lạc sang.

Năm ngày liền, lạc từ khắp xóm Bãi Giữa, xóm dưới, rồi cả xóm Cuối Bãi gánh đến sân nhà bà Hòe. Người ta tự đặt bao lên cân bàn, tự đứng xem kim. Kiệm ngồi ở cái bàn tre kê dưới hiên, viết giấy học trò như năm chín hai. Ngày tháng, tên người bán, số cân, giá, và một dòng mới mà sáu năm trước không có: Chưa trả tiền. Hẹn trả trước ngày hai mươi tháng Chạp năm Mậu Dần. Người bán ký, anh ký. Mỗi người giữ một tờ.

Thằng Lũng chở lạc bằng thuyền sang bến Lăng, ông Đạt chở bằng xe tải từ bến về xưởng. Ở xưởng, chị Lài và mấy chị bóc lạc đến khuya, công bóc trả bằng tiền trong năm cái phong bì đỏ.

Gấm sang bãi từ ngày thứ hai. Cô ngồi cạnh anh ở cái bàn tre, cộng số, ghi vào cuốn sổ của xưởng. Ở bìa trong của cuốn sổ ấy có một cái túi vải nhỏ cô khâu từ năm chín ba, đổi bao nhiêu cuốn sổ cô cũng chuyển sang theo, không ai biết trong đấy có gì.

Chiều ngày thứ tư, có một thằng bé chừng mười hai tuổi gánh một bao lạc nhỏ vào cổng, đi sau nó là một bà cụ.

Bà cụ còng gần gập đôi, chống cái gậy tre, đi từng bước ngắn. Tóc bà trắng như bông, mặt nhăn như quả táo tàu khô. Bà không có cái răng nào. Thằng bé đặt bao lạc lên cân bàn. Bà cụ không nhìn cái cân. Mắt bà đã mờ, bà nhìn vào cái hiên, nơi Kiệm ngồi, nheo nheo như nhìn qua một lớp sương.

– Con bà Tươi đấy phải không? – Bà cụ hỏi.

Kiệm đứng dậy. Anh nhận ra giọng nói ấy trước khi nhận ra khuôn mặt.

– Vâng ạ. Bà Nhỡ.

– Bà Tươi còn sống không?

– Còn ạ. U cháu ốm từ Tết, giờ đi phải chống gậy như bà.

Bà Nhỡ gật đầu, chậm.

– Tôi thề không bán cho nhà cậu nữa. – Bà nói. – Tôi bảy mươi lăm tuổi rồi, tôi không nuốt lời. Lạc này tôi không bán cho cậu. Tôi gửi bà Tươi. Bà ấy ốm, bà ấy cần.

Cả sân im. Thằng bé đứng cạnh bao lạc, không hiểu gì, nhìn bà rồi nhìn Kiệm.

Gấm đứng dậy. Cô mở bìa trong cuốn sổ, cởi cái túi vải nhỏ, lấy ra hai tờ giấy bạc gấp chung làm tư, một tờ hai nghìn, một tờ một nghìn, đã ngả màu, mép sờn. Cô đi xuống sân, đến trước mặt bà Nhỡ, đặt món tiền vào bàn tay bà.

– Ba nghìn của bà, năm chín ba. – Gấm nói. – Bà đặt nó lên cái cân này. Cháu giữ từ hôm ấy.

Bà Nhỡ cầm món tiền. Bà không nhìn thấy rõ. Bà sờ nó, những ngón tay xương xẩu miết lên hai tờ giấy bạc gấp tư, như người ta đọc chữ nổi.

– Năm năm. – Bà nói.

– Vâng.

Bà Nhỡ đứng im rất lâu. Rồi bà nắm tay lại, món tiền biến vào lòng bàn tay nhăn nheo.

– Thì coi như tôi lấy trước ba nghìn. – Bà nói. – Còn lại thì bao giờ có bảo bà Tươi trả.

Bà quay đi, chống gậy ra cổng. Thằng cháu chạy theo. Đến cổng, bà dừng lại, không quay đầu.

– Cậu viết giấy cho tôi. – Bà nói. – Ghi tên bà Tươi.

Tối hôm ấy, Kiệm không đổ bao lạc của bà Nhỡ vào kho. Anh vác nó về nhà, đặt ở bậc thềm, trước mặt u.

U nhìn cái bao. Anh kể. U nghe xong, không nói gì, chỉ cởi miệng bao, thò tay phải vào bốc một nắm, đưa lên mũi. Rồi u bóc một hạt, cắn bằng một bên hàm.

– Lạc bà Nhỡ. – U nói. – Bà ấy phơi trên mái nhà, không phơi dưới đất. Bốn mươi năm vẫn thế.

U ngồi nhặt lạc lép trong cái bao ấy cả buổi tối, bằng một tay, chậm, từng hạt. Gấm mang tờ giấy học trò ra, viết theo lời u: Bà Nguyễn Thị Tươi, phố Chợ, nhận của bà Nhỡ, xóm Cuối Bãi, một bao lạc vỏ, ba mươi hai cân. Chưa trả tiền. Đã nhận trước ba nghìn đồng.

U cầm bút. Tay phải u run. U viết tên mình ở cuối tờ giấy, nét chữ to, từng chữ tách rời như xếp gạch, giống hệt chữ bà Hòe năm chín hai.

– Mai mày mang sang cho bà ấy. – U nói. – Mày đọc cho bà ấy nghe. Bà ấy không đọc được nữa đâu.

Thứ Bảy hai mươi sáu tháng Chín, năm giờ chiều, Kiệm đứng ở cân bàn trong xưởng, nói với ba mươi người. Đến Tết anh chỉ trả được nửa lương, nửa kia ghi nợ, trả khi trung tâm thương mại thanh toán. Ai muốn nghỉ thì anh viết giấy nợ và trả đủ trước, bằng mọi giá.

Không ai nghỉ. Có hai người xin nghỉ hẳn, về quê làm ruộng, nhưng là vì việc nhà, chuyện đã định từ trước. Kiệm vay chị Lài hai triệu, trả đủ cho họ. Chị Lài đếm tiền cho anh vay mà mặt hầm hầm, bảo chú vay chị thì chú phải viết giấy, chị không cho không ai.

Anh Tòng đến vào một tối giữa tuần, khi trời đã mưa lâm thâm.

Anh ngồi ở bậc thềm gian ngoài, như cái trưa tháng Chín năm chín hai, cái điếu cày bằng trúc đặt bên cạnh. Anh ba mươi chín tuổi, tóc đã điểm bạc ở thái dương, vẫn cái áo sơ mi trắng cài kín cúc cổ. Anh đặt lên bậc thềm một cái phong bì giấy xi măng.

– Ba chục triệu. – Anh nói. – Tôi buôn phụ tùng sáu năm, để dành được chừng ấy. Chú cầm. Không lãi. Bao giờ có thì trả.

Kiệm nhìn cái phong bì.

– Anh lấy gì nuôi hai đứa cháu?

– Thằng lớn mười bốn tuổi rồi, nó phụ tôi bán hàng. – Anh Tòng nói. – Tôi còn cái cửa hàng. Chú không phải lo.

– Em viết giấy cho anh.

– Không cần.

– Em viết. – Kiệm nói. – Người không viết giấy với mình thì mình cũng không nên cầm tiền của người ta.

Anh Tòng nhìn anh. Rồi anh cười, cái cười ngắn, khô, như người ho, cái cười Kiệm mới thấy một lần, trên đò, năm chín ba.

– Câu ấy của tôi. – Anh nói. – Năm chín hai.

– Vâng. Của anh.

Anh Tòng cầm cái điếu cày lên, vê thuốc, nhưng không châm.

– Hồi ấy trên đò, chú xin lỗi tôi. – Anh nói. – Năm năm rồi, tôi vẫn chưa hiểu chú xin lỗi cái gì.

Kiệm im một lúc lâu. Ngoài sân, mưa rơi trên tán nhãn lộp độp.

– Có một ngày em kể anh nghe. – Anh nói.

– Thôi. – Anh Tòng nói. – Cái gì người ta chưa nói được thì đừng bắt người ta nói. Chú viết giấy đi.

Kiệm viết. Anh Tòng đọc, gấp làm tư, cho vào túi áo ngực, rồi đi ra cổng, đội cái nón lá, khuất trong mưa.

Chuyến đò cuối cùng chở lạc chịu từ bãi Bồ Xuyên về là một chiều giữa tháng Mười. Thuyền của ông Khuể chất mười hai bao, nằm thấp xuống nước, mạn thuyền chỉ còn cách mặt sông hơn một gang. Ông Khuể bảy mươi tuổi, không chèo nổi một thuyền nặng như thế nữa. Thằng Lũng chèo. Ông ngồi ở mũi, chỉ đường.

Gấm ngồi cạnh Kiệm ở giữa thuyền, trên một bao lạc. Hai bàn tay anh bám chặt vào mạn thuyền, đầu ngón tay trắng bệch. Sáu năm anh qua lại con sông này hàng trăm lần, hai bàn tay vẫn bám như thế. Gấm nhìn hai bàn tay ấy rất lâu.

Mặt trời xuống thấp sau rặng tre bên thị xã. Mặt sông đỏ quạch, rồi tím lại. Một con cò bay ngang qua mũi thuyền.

– Anh sợ cái gì ở con sông ấy? – Gấm hỏi.

Kiệm không quay sang. Anh nhìn thẳng về phía bến Lăng, nơi những bậc đá đã hiện ra dưới bóng tre.

– Có một ngày anh kể em nghe. – Anh nói. – Không phải hôm nay.

Gấm nhìn anh một lúc.

– Anh hứa thì anh nhớ. – Cô nói. – Anh hay quên lời hứa lắm.

— Hết chương 30 —

Mục lục Cân lại đời mình từ năm 1992

  1. 1Bao lạc thứ bốn mươi mốt10 phút
  2. 2Chú em không tin anh11 phút đọc
  3. 3Bãi Bồ Xuyên9 phút đọc
  4. 4Ngõ chợ Bắc Qua10 phút đọc
  5. 5Tiền của Khảm11 phút đọc
  6. 6Giá lạc hai nghìn bảy11 phút đọc
  7. 7Mạch nha Thịnh Khê10 phút đọc
  8. 8Hai trăm cân trước giao thừa11 phút đọc
  9. 9Ba cân trong một tạ12 phút đọc
  10. 10Trả lại ba cân11 phút đọc
  11. 11Gian hàng khóa trái10 phút đọc
  12. 12Mùa nồm10 phút đọc
  13. 13Thằng bé có nốt ruồi ở vành tai10 phút đọc
  14. 14Cái kho của bố10 phút đọc
  15. 15Cái Tết không có pháo10 phút đọc
  16. 16Đêm hai mươi bảy tháng Giêng11 phút đọc
  17. 17Chín triệu của Tạo bi-a10 phút đọc
  18. 18Đêm mồng một tháng Chín10 phút đọc
  19. 19Lời khai12 phút đọc
  20. 20Phiên tòa tháng Tư12 phút đọc
  21. 21Nước lên ở bến Lăng10 phút đọc
  22. 22Ông chủ Kiệm10 phút đọc
  23. 23Kẹo bà Tươi giả10 phút đọc
  24. 24Cái cân ở cửa hàng10 phút đọc
  25. 25Mùa khủng hoảng10 phút đọc
  26. 26Quả cân thật9 phút đọc
  27. 27Hợp đồng chín mươi ngày10 phút đọc
  28. 28Họ vỡ10 phút đọc
  29. 29Thứ Bảy không có lương10 phút đọc
  30. 30Những bao lạc không lấy tiền11 phút đọc
  31. 31Khảm về10 phút đọc
  32. 32Nói với Gấm10 phút đọc
  33. 33Rằm tháng Sáu10 phút đọc
  34. 34Người lái đò10 phút đọc
  35. 35Bao lạc không cần cân10 phút đọc
  36. 36Mùng một tháng Chạp năm Nhâm Dần9 phút đọc

Về truyện này

Cân lại đời mình từ năm 1992 là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →