Chương 29: Thứ Bảy không có lương
Cái bàn gỗ trong ngõ chợ Bắc Qua lại có người ngồi.
Kiệm đứng ở đầu ngõ thứ ba, nhà thứ năm bên trái, chỗ sáu năm trước anh đứng mồ hôi ướt lưng áo, không biết người mình tìm có ở đây hay không. Cái ghế mây của Tấn không còn. Cái máy tính bỏ túi chạy pin không còn. Cửa gỗ lùa chỉ mở một nửa. Bên trong không còn bao tải chất đến trần, chỉ còn mấy cái bao rỗng gấp vuông ở góc.
Và sau cái bàn gỗ, trên một cái ghế đẩu thấp, bà Duệ ngồi, tay trái lần tràng hạt, tay phải gẩy cái bàn tính cũ.
Sáu mươi tuổi. Tóc bạc gần hết, vẫn búi tó củ hành. Cái áo cánh trắng cổ tròn đã ngả màu ngà. Trước mặt bà là một cuốn sổ to, một chồng giấy biên nhận, và ba người đàn ông đứng chờ, người nào cũng cầm một tờ giấy.
Kiệm đứng chờ đến lượt.
Bà Duệ đọc tờ giấy của người thứ nhất, lật sổ, gẩy bàn tính, rồi đếm ra mặt bàn một xấp tiền mỏng. Người đàn ông nhìn xấp tiền, cãi một câu. Bà nói một câu, không ngẩng lên. Ông ta cầm tiền, ký vào sổ, đi ra, mặt hầm hầm. Người thứ hai, người thứ ba cũng thế.
Đến lượt Kiệm. Bà Duệ ngẩng lên, nhìn anh, và ngón cái đang đẩy tràng hạt dừng lại.
– Cậu Kiệm. – Bà nói. – Ngồi đi.
Anh ngồi xuống cái ghế đối diện. Bà Duệ lật sổ, dò ngón tay xương xẩu theo từng dòng.
– Thằng Tấn nợ cậu bốn mươi sáu triệu hai trăm nghìn. – Bà nói. – Tiền hàng từ tháng Mười một năm ngoái đến tháng Tám năm nay. Đúng không?
– Vâng.
– Nó nợ mười chín người. – Bà nói. – Cả thảy hơn bốn trăm triệu. Nó lấy hàng chịu của người này bán chịu cho người kia, rồi lấy tiền người kia đi đầu tư với một ông ở Sài Gòn. Ông ấy mất tích từ tháng Sáu. Thằng Tấn thì đi tìm ông ấy từ tháng Bảy. Chưa về.
Bà nói đều đều, như đọc giá lạc. Kiệm nhìn bàn tay bà trên cuốn sổ. Những ngón tay gầy, đốt to, run nhẹ.
– Tôi bán cái nhà ở phố Hàng Chiếu rồi. – Bà Duệ nói. – Cái nhà ấy của bố mẹ tôi để lại. Được một trăm tám mươi triệu. Tôi trả cho những người cần nhất trước. Người có con ốm. Người nợ lãi ngoài. Người dưới quê không có gì khác. Còn lại thì tôi ngồi đây, buôn lại, có bao nhiêu trả bấy nhiêu.
Bà ngẩng lên nhìn anh.
– Cậu ở đâu trong cái danh sách ấy?
Kiệm không trả lời ngay. Anh nhìn cái ngõ, nhìn cái cửa gỗ lùa mở một nửa, nhìn bà cụ sáu mươi tuổi ngồi sau cái bàn tính.
Năm 2010, ở cửa xưởng ông Cự, bà Duệ bảy mươi hai tuổi ngồi một mình trên cái ghế nhựa. Bà không bao giờ nhắc đến một người con trai nào. Anh đã nghĩ, suốt hai năm nay, rằng có chuyện gì đó sẽ xảy ra với Tấn. Anh đã không nghĩ cái chuyện ấy sẽ có tên anh trong đó. Cũng như ở kiếp trước, có lẽ, đã có tên ai đó khác trong đó, những người anh không bao giờ biết.
Trí nhớ của anh là cái nửa anh nhìn thấy. Nửa kia là của người khác.
– Bà trả cháu sau cùng. – Anh nói.
Bà Duệ nhìn anh rất lâu. Ngón cái đẩy một hạt tràng hạt.
– Cậu đang khó. – Bà nói. Không phải câu hỏi. – Thằng Tấn nợ cậu chừng ấy, cậu không khó mới lạ.
– Vâng.
– Thế mà cậu bảo tôi trả cậu sau cùng.
– Bà ngồi lại đây là vì anh Tấn. – Kiệm nói. – Cháu ngồi đây đòi bà thì cháu cũng chỉ lấy được một ít. Bà trả người khác trước. Cháu tự lo được.
Bà Duệ không nói gì. Bà ghi vào sổ, cạnh dòng tên anh, một chữ nhỏ mà anh không đọc được. Rồi bà gấp sổ lại.
– Cậu biết nhiều thứ quá so với tuổi. – Bà nói. Lần thứ ba bà nói câu ấy với anh. – Tôi vẫn không biết cậu biết từ đâu.
Thứ Bảy, ngày mười hai tháng Chín, năm giờ chiều.
Ba mươi người đứng trong sân xưởng, như mọi thứ Bảy. Gấm ngồi ở cái bàn gỗ cạnh cân bàn, trước mặt là cuốn sổ lương. Không có phong bì nào trên bàn.
Kiệm đứng cạnh cái cân bàn. Anh đã nghĩ suốt đêm qua những câu sẽ nói. Rồi anh nhận ra mình đã từng đứng thế này một lần, ở giữa sân nhà bà Hòe, trước hơn hai chục người, với một câu duy nhất còn lại trong đầu.
– Tuần này tôi không trả đủ lương. – Anh nói.
Không ai nói gì. Chị Lài đứng ở hàng đầu, khoanh tay. Duyến đứng ở cuối, cạnh đống chum vôi. Thằng Lũng đứng sát cửa kho.
– Xưởng mất bốn mươi triệu ở họ bà Đào. – Kiệm nói. – Tấn ở Hà Nội vỡ nợ, nợ xưởng bốn mươi sáu triệu, chưa biết bao giờ trả. Tiền trung tâm thương mại đợt này đã có chỗ, đợt sau tháng Mười mới về. Trong két còn bốn triệu sáu. Lương tuần này của cả xưởng là năm triệu tám.
Anh không nói ai bỏ tiền vào họ. Anh không nói tên Gấm. Anh nói xưởng mất. Gấm ngồi ở bàn gỗ, hai tay đặt trên cuốn sổ, mắt nhìn thẳng ra trước.
– Là lỗi của tôi. – Kiệm nói. – Tôi ký những cái hợp đồng tôi không nên ký. Tôi không nghe người cần nghe. Tôi để xưởng đến chỗ phải mất một khoản như thế mới thấy cái lỗ.
Một con gà nhà ai chạy vào sân xưởng, cục tác, rồi chạy ra.
– Bốn triệu sáu, tôi chưa biết chia thế nào. – Anh nói. – Tôi muốn mọi người nói.
Ba mươi người nhìn nhau. Một lúc lâu không ai lên tiếng. Rồi chị Lài bước ra một bước.
– Chia đều. – Chị nói, giọng to như mọi khi, nhưng không cười. – Có bốn triệu sáu mà cần năm triệu tám, thì mỗi người lấy tám phần mười lương tuần này. Còn hai phần thì chú ghi nợ. Ai cần gấp hơn thì nói.
– Em không cần. – Duyến nói từ cuối sân. – Phần của em chị chia cho người khác.
– Cô không cần thì cô nuôi thằng Bờm bằng gì? – Chị Lài quay lại. – Lấy đi. Ai cũng lấy. Không ai được nhường. Nhường một lần thì tuần sau lại phải nhường.
Gấm mở cuốn sổ. Cô đọc tên, như mọi thứ Bảy. Từng người lên nhận, đếm, ký vào sổ, và bên cạnh chữ ký, Gấm ghi số tiền còn nợ. Không ai cãi. Có mấy người lấy tiền xong vẫn đứng lại, không về.
Chị Lài là người cuối cùng ký. Chị cầm tiền, đếm, rồi nhìn Kiệm.
– Bốn năm rồi chú Kiệm ạ. – Chị nói. – Bốn năm thứ Bảy nào cũng đủ. Một tuần thiếu thì chị chịu được. – Chị nhét tiền vào túi áo. – Chị chỉ sợ chú quen.
Chủ nhật, Mạc Văn Hoàn đến xưởng.
Ông ta đi một chiếc xe hơi bốn chỗ màu bạc, có người lái, đỗ ngay ở cổng, cả dãy nhà kho của hợp tác xã thò đầu ra xem. Ông ta mặc áo sơ mi trắng, cái đồng hồ mạ vàng ở cổ tay. Ông ta không vào xưởng. Ông ta đứng ở cửa, nhìn cái máy cắt kẹo, nhìn những cái lò đất, nhìn dòng chữ sơn trắng trên tường, rồi bảo Kiệm ra xe nói chuyện.
– Tôi nghe chuyện của anh rồi. – Hoàn nói, ngồi ở ghế sau, cửa xe mở. – Tôi không đến để cười anh. Tôi đến để giúp.
Ông ta đưa cho Kiệm một tờ giấy đánh máy.
– Giấy chứng nhận nhãn hiệu kẹo lạc bà Tươi anh mới được cấp tháng trước. – Hoàn nói. – Tôi biết, vì tôi cũng có người theo dõi công báo. Tôi mua cái nhãn hiệu ấy, cả cái máy cắt kẹo, một trăm năm mươi triệu. Anh vẫn làm kẹo, ở đúng cái kho này, cho tôi. Tôi trả công theo cân, trả đúng hạn. Anh hết nợ. Thợ của anh có lương.
Một trăm năm mươi triệu. Kiệm cầm tờ giấy. Bốn mươi triệu của họ bà Đào. Hai mươi triệu của quỹ tín dụng. Lương thợ ba tháng. Tiền mua lạc thu. Một trăm năm mươi triệu xóa hết những cái ấy trong một buổi chiều.
– Tôi xin nghĩ. – Anh nói.
– Anh nghĩ đến thứ Tư. – Hoàn nói, rồi đóng cửa xe.
Tối hôm ấy, Kiệm đặt tờ giấy của Hoàn lên cái bàn gỗ gian giữa, trước mặt Gấm.
– Anh hỏi em. – Anh nói.
Gấm đọc tờ giấy. Đọc xong, cô không nói ngay. Cô đặt nó xuống, vuốt phẳng.
– Không phải em hỏi được. – Cô nói. – Tên của u. Anh hỏi u.
Hai vợ chồng vào buồng. U ngồi ở đầu giường, cái gậy dựng bên cạnh. Kiệm đọc cho u nghe tờ giấy. U nghe hết, rồi cười, cái cười móm mém, một bên miệng còn hơi xệ từ sau Tết.
– Bán thì bán. – U nói. – Nó mua cái tên tao in trên giấy chứ nó mua gì được tao. Tao còn ngồi đây.
Kiệm nhìn u. Anh đã tưởng u sẽ nói không. Anh đã tưởng mình chỉ cần nghe u nói không, rồi anh có thể bảo Hoàn: u tôi không cho.
U không cho anh cái cớ ấy.
– Thế mày định bán không? – U hỏi.
Kiệm nghĩ đến cái quầy đặc sản trong trung tâm thương mại, cái kệ gỗ có đèn chiếu vàng, những túi kẹo hàn mép thẳng như kẻ. Nghĩ đến cái nhãn với quả cân to, với ba vết khía mòn Gấm vẽ bằng nét bút nhòe ở hai đầu, với bông sen nhỏ bằng hạt đỗ ở góc. Nếu bán, cái nhãn ấy sẽ in trên những túi kẹo của Hoàn, làm ở Thường Tín, cân bằng cái cân của Hoàn. Rồi đến một ngày nào đó, một túi trong số ấy sẽ thiếu một lạng, và không có ai ngồi ở bến xe với cái cân đòn nữa.
– Người ta nhìn thấy cái quả cân, người ta nhớ. – Anh nói. – U nói thế.
– Tao nói thế hồi nào?
– Tết Giáp Tuất. Lúc u cho in.
U nhìn anh. Rồi u kéo cái chăn lên vai, nằm xuống, quay mặt vào tường.
– Thế thì đừng bán. – U nói. – Mà đừng bắt tao quyết hộ mày.
Thứ Tư, Kiệm gọi điện từ bưu điện thị xã lên Hà Nội, nói với Hoàn một câu. Hoàn cười trong ống nghe, bảo anh sẽ hối hận. Rồi cúp máy.
Sáng thứ Năm, Kiệm dậy lúc bốn giờ, đi bộ ra bến Lăng. Trời chưa sáng. Sông Lăng tháng Chín nước còn đỏ, chảy chậm. Bên kia sông, trên bãi Bồ Xuyên, những luống lạc thu đã nhổ phơi thành từng hàng dài, lờ mờ trong sương.
Vụ lạc thu bắt đầu. Trong túi anh có hai trăm nghìn đồng.
Ông Khuể đã ngồi trên mũi đò, rót nước chè từ cái ấm nhôm méo.
– Anh Kiệm sang bãi à? – Ông hỏi. – Năm nay anh mua giá bao nhiêu?
– Năm nay cháu không mua được, bác ạ. – Kiệm nói. – Cháu sang để nói với người ta như thế.
— Hết chương 29 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe