Chương 3: Bãi Bồ Xuyên
– Mày cầm cái cân của tao sang bãi thì cầm cả cái mặt tao sang đấy. – U nói, tay vẫn tháo cái cân đòn khỏi móc. – Làm gì thì làm, đừng để người ta bảo con bà Tươi đi buôn mà như đi ăn mày.
Bốn giờ rưỡi sáng Chủ nhật, chợ chưa mở. U đã ra gian hàng từ lúc trời còn tối để nhận hàng của mấy bà ở các xã quanh đây gánh lên: vài cân đỗ xanh, một thúng lạc, một mớ mộc nhĩ phơi trên mái nhà. U mua của họ bằng cái cân đòn, rồi bán lẻ cho khách bằng cái cân đĩa nhỏ đặt trên bàn. Cân đòn là để mua. Cân đĩa là để bán. Từ ngày Kiệm còn bé đã thế.
U gỡ sợi dây gai buộc quả cân, quấn lại gọn quanh đòn, đưa cho anh cả bộ.
– Cân cho chặt vào. – U dặn. – Người bãi họ ranh lắm. Họ để cát trong bao, họ phun nước cho lạc nặng. Mày phải bóp từng nắm.
– Con biết rồi.
– Mày biết cái gì. Mày đốt lò bảy năm, mày biết mỗi cái lò.
Anh không cãi. Anh vác cái cân lên vai, cầm thêm cái túi vải trong đó có sáu trăm nghìn đồng, một tập giấy học trò, cây bút bi và mấy chục cái bao tải mượn của bà Sáu. Một triệu hai còn lại anh để Gấm cất. Cô cầm tiền mà nhìn anh như muốn hỏi một câu, rồi lại thôi.
Đò ông Khuể rời bến lúc năm giờ kém mười. Sương trên sông dày đến mức đứng ở mũi đò không nhìn thấy đuôi. Mái chèo khuấy nước đều đều. Trên đò có hai bà đi chợ sớm về bãi, một ông dắt con bò, một thằng bé ôm con gà trống buộc chân. Con bò đứng yên như tượng, thỉnh thoảng thở phì phì ra một luồng hơi trắng.
Kiệm ngồi trên mạn đò, hai tay bám chặt vào thành gỗ. Nước sông cách tay anh hai gang. Anh nhìn thẳng sang bờ bên kia, không cúi xuống.
– Anh say sóng à? – Ông Khuể hỏi.
– Không ạ.
– Mặt anh trắng như vôi.
– Cháu dậy sớm.
Ông Khuể không hỏi thêm. Đò cập vào bãi Bồ Xuyên lúc mặt trời vừa nhô lên khỏi rặng tre phía đông, đỏ như lòng đỏ trứng vịt. Sương tan dần, để lộ ra những luống lạc đã nhổ nằm phơi trên đất cát, rễ chĩa lên trời. Mùi đất ẩm, mùi lá lạc héo, mùi khói rơm từ mấy cái bếp ở xa.
Nhà bà Hòe sát chân đê bối, ba gian lợp rạ, sân đất nện rộng như cái sân kho hợp tác. Trên sân, lạc vỏ đã khô phơi thành từng đống, có cái trải trên nong, có cái trải ngay trên tấm ni lông xanh. Một bà to ngang, mặc cái áo bà ba nâu đã bạc vai, đang cầm cái cào tre đảo lạc. Đứng bên cạnh là một thằng bé gầy nhom đen nhẻm, cởi trần, xương sườn lộ ra như cái lồng chim, đang lom khom nhặt lạc lép bỏ vào cái rổ.
– Bác Hòe ạ. – Kiệm gọi từ ngoài cổng tre.
Bà Hòe ngẩng lên, chống cái cào, nhìn anh từ đầu đến chân, nhìn cái cân trên vai anh, nhìn đống bao tải.
– Thương lái à?
– Vâng. Cháu ở phố Chợ bên kia sông.
– Phố Chợ thì ai? – Bà nheo mắt. – Trông quen quen. Cậu con bà Tươi hàng khô phải không?
– Vâng.
Bà Hòe gật gù, rồi cười một cái, không vui lắm.
– Cân nhà bà Tươi xưa nay vẫn chặt. – Bà nói. – Thế cậu sang đây trả bao nhiêu?
Kiệm nghe câu ấy và không nghĩ gì về nó. Người bán hàng ở chợ nào chẳng bị gọi là chặt. U anh chặt thật, chặt từng đồng bạc lẻ, chặt từng hạt lạc lép. Anh còn thấy hơi tự hào.
– Cháu trả hai nghìn sáu. – Anh nói. – Tiền ngay. Cân ở đây, trước mặt bác.
Bà Hòe không nói gì một lúc. Thằng bé gầy nhom ngừng tay nhặt lạc, đứng thẳng lên.
– Hôm qua người ta trả hai nghìn hai. – Bà Hòe nói chậm. – Cậu trả hai nghìn sáu. Thế là cậu dại, hay cậu định cân điêu bù vào?
– Bác cứ để cháu cân. – Kiệm nói. – Bác tự đọc vạch.
Anh chọn cái đòn gánh của nhà bà Hòe làm đòn treo, gác lên vai anh một đầu, vai thằng bé đầu kia. Thằng bé tên Lũng, mười lăm tuổi, nhỏ con nhưng vai cứng như gỗ. Bao lạc đầu tiên móc vào móc cân, Kiệm kéo quả cân trượt dọc đòn cho đến lúc cái đòn nằm thăng bằng, nhấc nhấc mấy cái cho chắc, rồi giữ yên.
– Bác lại đây xem.
Bà Hòe lại gần, cúi xuống nhìn sợi dây quả cân dừng ở đâu. Bà đọc vạch to lên: Năm mươi hai, quá một tí.
– Năm mươi hai. – Kiệm nói. – Cháu trừ một cân bì bao. Năm mươi mốt.
– Bao này của nhà tôi nhẹ, không đến cân đâu.
– Thế thì trừ nửa cân. Năm mươi mốt rưỡi.
Bà Hòe nhìn anh. Rồi bà ngồi xổm xuống, thò tay vào bao bốc một nắm lạc lên lắc lắc bên tai, như người ta lắc ống tiền xem còn bao nhiêu xu. Lạc khô lắc kêu sàn sạt. Bà bóp vỡ một quả, đưa hạt lên răng cắn.
– Lạc khô thật đấy. Cậu không phải sợ.
– Cháu không sợ.
Anh mở tập giấy học trò, xé một tờ, viết: Ngày 6 tháng 9 năm 1992. Bà Phạm Thị Hòe, thôn Bãi Giữa, xã Bồ Xuyên. Lạc vỏ khô một bao, năm mươi mốt cân rưỡi, giá hai nghìn sáu, thành tiền một trăm ba mươi ba nghìn chín trăm đồng. Anh đếm tiền ra trước mặt bà, rồi đưa bút cho bà ký vào cuối tờ giấy.
– Ký cái gì? – Bà Hòe cầm bút lơ lửng. – Tôi bán lạc chứ có bán nhà đâu.
– Để bác giữ một tờ, cháu giữ một tờ. Sau này có gì không đúng thì cứ cầm giấy sang phố Chợ tìm cháu.
Đây là thói quen của anh ở chợ đầu mối. Mười năm vác hàng ở đó anh đã thấy bao nhiêu trận cãi nhau chỉ vì không ai nhớ hôm ấy cân bao nhiêu. Người buôn to lúc nào cũng có phiếu. Người buôn nhỏ thì không, và người buôn nhỏ lúc nào cũng thua.
Bà Hòe nhìn tờ giấy, nhìn anh, rồi viết tên mình bằng nét chữ to, run, từng chữ tách rời như xếp gạch. Thằng Lũng đứng sau lưng mẹ mà nhìn tờ giấy chăm chú như nhìn một thứ phép lạ.
– Mẹ ơi, – nó nói, – người ta đưa giấy cho mình.
– Tao có mắt. – Bà Hòe gắt, nhưng bà gấp tờ giấy rất cẩn thận, làm tư, cất vào túi áo trong.
Đến trưa thì cả xóm Bãi Giữa đã biết có thằng con bà Tươi phố Chợ sang mua lạc hai nghìn sáu, tiền ngay, có giấy. Người ta gánh lạc đến sân nhà bà Hòe, có người gánh một bao, có người hai. Một ông thương lái từ Hà Nội về, mặc áo sơ mi xanh, đi cái xe đạp khung cao có giỏ sắt, đứng ở cổng xem một lúc, cười khẩy.
– Hai nghìn sáu à? Mua thế thì bán cho ai? Bán cho ma à?
Kiệm không đáp. Anh cân tiếp. Ông thương lái đứng thêm một lúc, rồi đạp xe đi sang xóm khác, cái giỏ sắt lắc lư.
Đến hai giờ chiều anh đã mua đủ hai trăm cân lạc vỏ của bảy nhà, viết bảy tờ giấy, nhận về bảy chữ ký và hai dấu điểm chỉ. Trong túi vải còn tám mươi nghìn đồng. Lũng giúp anh khuân từng bao ra bến, đi đi về về trên con đường đất ven đê như con kiến tha mồi. Lúc khuân bao cuối cùng xuống đò, nó đứng ở mép nước hỏi:
– Chú ơi, mai chú có sang nữa không?
– Hết tiền rồi. – Kiệm nói. – Bán được thì chú sang.
– Bán ở đâu ạ?
– Hà Nội.
Thằng bé nhìn sang bên kia sông, phía thị xã, rồi nhìn xa hơn nữa như thể Hà Nội nằm ngay sau rặng tre.
– Cháu chưa đi Hà Nội bao giờ. – Nó nói.
Ông Khuể cười hô hố, đẩy sào cho đò rời bãi.
Đêm ấy sân sau nhà u sáng đèn dầu đến mười một giờ. Gấm, chị dâu nhà bà Sáu mắm, hai bà hàng xóm đầu ngõ và một cô bé mười hai tuổi nhà bên cạnh ngồi quanh mấy cái nong bóc lạc. Kiệm trả công một trăm năm mươi đồng một cân lạc vỏ, tính theo số cân trước khi bóc, trả ngay sau khi xong. Các bà vừa bóc vừa nói chuyện, chuyện con dâu nhà này, chuyện đám cưới nhà kia, chuyện xí nghiệp sứ lại sắp cho thêm người nghỉ. Tiếng vỏ lạc lách tách đều như mưa rơi trên tàu chuối.
Cái Hến nằm ngủ trên cái võng mắc ở hiên, một tay còn nắm một vỏ lạc. Gấm bóc nhanh nhất. Ngón tay cô nhỏ, khéo, bẻ một cái là hai hạt lạc rơi ra nguyên vẹn, vỏ lụa không sứt. Những người khác bóc thì thỉnh thoảng có hạt vỡ đôi. Gấm thì không.
– Tay chị Gấm như tay vẽ bát. – Cô bé mười hai tuổi nói.
– Thì chị vẽ bát thật. – Gấm cười. Đó là lần đầu tiên từ sáng qua Kiệm thấy cô cười.
U không bóc. U ngồi trên bậc thềm, khoanh tay trước bụng, nhìn. Thỉnh thoảng u cúi xuống bốc một nắm lạc nhân lên soi dưới đèn, rồi thả xuống.
– Lạc bãi năm nay đẹp. – U nói. Chỉ có thế.
Mười một giờ đêm, Gấm cân lạc nhân bằng cái cân đĩa của u, cân từng mẻ rồi cộng lại bằng cách nhẩm, nhanh hơn Kiệm viết. Một trăm bốn mươi cân.
Bảy phần mười. Đúng như anh nhớ.
Kiệm ngồi ở bậc thềm, cạnh u, nhìn đống lạc nhân hồng hồng chất trong mấy cái thúng. Một trăm bốn mươi cân. Nếu bán được năm nghìn một cân thì là bảy trăm nghìn. Trừ năm trăm hai mươi tiền lạc, ba mươi tiền bóc, tiền đò, tiền xe khách, tiền bao, còn lại chừng trăm nghìn. Một trăm nghìn sau bốn ngày làm. Hơn nửa tháng lương của Gấm.
Nếu bán được.
Anh đã tính tất cả, trừ một điều. Cái ngõ gần chợ Bắc Qua mà anh nhớ, anh nhớ nó từ năm 2010. Bà Duệ bảy mươi hai tuổi đã nói rằng bà buôn lạc ở đó từ thời tem phiếu. Nhưng người già nói về thời trẻ của mình thì hay nói cho đẹp. Biết đâu năm 1992 bà còn bán rau ở Hà Đông. Biết đâu năm 1992 cái ngõ ấy còn là một bãi rác.
Thứ Bảy này anh sẽ mang một trăm bốn mươi cân lạc nhân lên Hà Nội, đi tìm một người mà anh chỉ quen ở một kiếp chưa xảy ra.
— Hết chương 3 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe