Chương 28: Họ vỡ
Cửa sắt nhà bà Đào khóa hai lớp, một cái khóa to bằng nắm tay ở ngoài, một cái chốt cài ở trong mà không ai biết ai cài. Ngôi nhà hai tầng mặt phố Ga, cửa sổ tầng hai lắp kính màu, cái ban công có chậu hoa giấy đỏ rực. Hoa vẫn nở. Người thì không còn.
Gấm đứng ở rìa đám đông, cách cánh cửa sắt chừng hai chục bước. Phía trước cô có đến bốn năm chục người, có người đứng, có người ngồi bệt xuống vỉa hè, có một bà cụ ôm cái túi vải ngồi khóc ngay bậc cửa, đầu tựa vào song sắt. Hai người đàn ông bắc thang leo lên ban công, đập cửa kính tầng hai. Một người đứng dưới cầm cuốn sổ bìa xanh, đọc to tên những người góp họ, dây nào, chân nào, đã đóng bao nhiêu tháng, như người ta đọc danh sách người chết.
Thằng Hưng đứng cạnh cô, không nói gì. Từ lúc ở xưởng chạy ra đến đây, nó không nói được câu nào cho hết.
Gấm không chen lên. Cô biết tên mình nằm trong cuốn sổ bìa xanh của bà Đào, không phải cuốn sổ của người đàn ông kia. Hai chân, dây họ mười lăm người, mỗi chân mỗi tháng bốn triệu. Đóng từ tháng Năm. Đến tháng Tám là bốn tháng, tám lần bốn triệu, ba mươi hai triệu. Cộng tám triệu tiền đóng đầu bà Đào đòi người mới vào. Bốn mươi triệu. Tiền của xưởng, cô rút ra dần, mỗi tháng một ít, ghi trong sổ bằng những dòng chữ mà chỉ cô đọc được.
Và hai chỉ vàng. Đôi khuyên với cái nhẫn trơn.
Cô đứng nhìn cái chậu hoa giấy đỏ trên ban công, và cô nhớ lại tất cả theo đúng thứ tự, như cô vẫn cộng sổ.
Cái đêm tháng Hai, ở bàn gỗ gian giữa, chồng cô bảo: Anh hỏi em. Cô đã tính cho anh từng đồng. Cô đã bảo anh đừng ký hai tấn. Anh đã nghe hết, rồi anh bảo anh thấy khác. Rồi anh đi Hà Nội ký.
Cái buổi sáng máy cắt kẹo chạy thử. Cô đặt con dao phay xuống, cán quay về phía anh. Anh không nhặt nó lên. Anh để nó nằm đấy, trên cái bàn cắt cũ, cho đến chiều thì chị Lài cất đi.
Từ hôm ấy cô ngồi ở bàn gỗ, giữ sổ. Và vì cô giữ sổ, cô là người duy nhất trong cái xưởng ấy nhìn thấy cái lỗ.
Nó nằm ở tháng Chín. Cô đã thấy nó từ tháng Hai, mỗi tháng nó lại rõ thêm một ít, như vết nứt trên một cái bát mộc phơi nắng. Tháng Chín vào vụ lạc thu. Ở bãi Bồ Xuyên, ở hai xã bên cạnh, người ta chờ cái xưởng sang mua với tiền mặt, như sáu năm nay. Chồng cô đặt ra cái luật ấy từ năm chín hai. Không mua nợ một cân nào. Không có tiền thì không mua. Đến tháng Chín, tiền của trung tâm thương mại mới về đến đợt thứ ba, đợt ấy đã có chỗ của nó rồi. Tiền của Tấn thì không biết bao giờ. Tháng Mười một thì quỹ tín dụng.
Không có tiền mua lạc thu thì đến Tết không có lạc nấu kẹo. Hoặc phải mua nợ. Mua nợ một lần ở cái bãi ấy, là cái luật sáu năm đổ đi trong một buổi sáng.
Cô đã nói. Một lần ở bàn gỗ, một lần ở xưởng, một lần trong màn lúc hai đứa con đã ngủ. Lần nào anh cũng bảo: Anh lo. Lần thứ ba, anh còn chưa nghe hết câu đã ngủ, hơi rượu phả ra trong màn.
Cô không nói lần thứ tư.
Hưng bày cho cô cái cách. Chơi họ. Mỗi tháng góp một ít, đến lúc cần thì bỏ thăm hốt trước, cả dây góp cho mình một cục. Hai chân, hốt được năm mươi sáu triệu, đủ mua cả vụ lạc thu. Trả dần cho dây họ bằng tiền trung tâm thương mại về từ tháng Mười. Không cần thế chấp nhà. Không cần hỏi ai.
Cái tên bà Đào, cô đã nghe một lần. Năm năm trước, cái đêm Trung thu, chồng cô ngồi ở bàn gỗ kể cho cô nghe chuyện quả cân của u, và trong câu chuyện ấy có một người cho vay ba chỉ vàng tên là bà Đào. Lúc Hưng nói cái tên ấy ở bến xe, cô đã khựng lại một nhịp. Rồi cô nghĩ: thị xã này có ba bà tên Đào. Bà này cầm họ ở phố Ga, nhà hai tầng, cửa kính màu, không giống một người cho vay ba chỉ vàng hồi bao cấp. Rồi cô nghĩ: chuyện ấy mười một năm rồi, u đã trả xong từ năm tám chín.
Cô đã không muốn nghĩ tiếp. Cô biết thế. Cô đã chọn không nghĩ tiếp, như chồng cô đã chọn không rạch cái thùng kẹo nặng.
Lần đầu tiên cô đến nhà bà Đào là một buổi tối tháng Năm. Bà Đào năm mươi ba tuổi, người đẫy đà, cười để lộ hai cái răng bọc vàng, giọng ngọt như mía lùi. Bà mời cô ngồi trên bộ ghế gỗ tay khuỳnh, rót trà vào cái chén sứ có viền vàng. Bà mở cuốn sổ bìa xanh, chỉ cho cô những cái tên, những con số, cột nào đóng, cột nào hốt, chữ viết đẹp, thẳng hàng, sạch sẽ như sổ của chính cô.
– Cô là người mới. – Bà Đào nói. – Người mới thì phải có cái gì làm tin. Tôi không nghi cô. Nhưng dây họ có mười lăm người, người ta hỏi tôi, tôi phải có cái mà trả lời.
Gấm đã nghĩ suốt đêm hôm ấy. Sáng hôm sau, lúc u còn ngủ, lúc chồng cô đã ra xưởng, cô đứng trước bàn thờ. Bát hương, ảnh bố chồng, cái đĩa nhỏ, gói vải đỏ. Năm năm trước, chiều ba mươi Tết, chồng cô đặt gói vải đỏ ấy lên đây và bảo: Để bố giữ hộ em.
Cô mở gói vải ra. Đôi khuyên tai và cái nhẫn trơn nằm đấy, vàng đã xỉn đi một chút. Cô cầm chúng lên. Nhẹ. Nhẹ hơn cô tưởng.
Cô mang chúng đến nhà bà Đào, nhận về một tờ biên nhận viết tay, có chữ ký, có điểm chỉ. Nhận của cô Trần Thị Gấm hai chỉ vàng làm tin, trả lại khi mãn dây. Cô gấp tờ biên nhận làm tư, gói lại trong miếng vải đỏ, đặt về chỗ cũ trên bàn thờ. Từ ngoài nhìn vào, gói vải đỏ vẫn y như thế.
Rằm tháng Bảy, ngày bỏ thăm, bà Đào nhắn qua Hưng là lùi lại hai hôm, vì ngày rằm cúng cô hồn, kiêng tiền nong. Cô tin. Tối chủ nhật, mười sáu tháng Bảy, nhà bà Đào vẫn sáng đèn, Hưng đi qua còn thấy bà ngồi xem ti vi. Sáng thứ Hai, cửa sắt khóa hai lớp.
Trên ban công, hai người đàn ông đã đập vỡ được tấm kính màu. Một người chui vào. Một lúc sau anh ta thò đầu ra, gào xuống dưới đường:
– Trống trơn! Két sắt mở toang! Không còn cái gì!
Đám đông ồ lên. Bà cụ ngồi ở bậc cửa bật khóc to hơn. Có tiếng một người đàn bà chửi, chửi rất to, chửi những câu Gấm chưa từng nghe bao giờ. Rồi có tiếng một ông già, giọng khàn, nói không to lắm nhưng ai cũng nghe thấy:
– Con mụ này từ năm tám mấy đã cho vay cắt cổ rồi. Ai ốm, ai đói, nó đến tận nhà cho vay. Lãi mẹ đẻ lãi con. Cái thị xã này nhà nào chả từng mắc nợ nó.
Gấm về nhà lúc mười giờ sáng. Cô không về xưởng. Cô về thẳng nhà u.
U ngồi ở bậc thềm sân sau, cái gậy dựng bên cạnh, đang nhặt rau muống cho bữa trưa. Tay trái u vẫn yếu, nhặt chậm. U ngẩng lên nhìn con dâu, và nhìn mặt cô là u biết.
– Mất cái gì? – U hỏi.
Gấm ngồi xuống bậc thềm. Cô kể, không sót cái gì. Bốn mươi triệu. Hai chỉ vàng. Họ của bà Đào ở phố Ga.
U ngừng tay nhặt rau. Cọng rau muống còn kẹp giữa hai ngón tay.
– Đào nào? – U hỏi, rất chậm.
– Bà Phí Thị Đào ạ.
U im lặng rất lâu. Rồi u đặt cọng rau xuống rổ.
– Năm tám sáu nó còn ở chợ cũ. – U nói. – Nó bán vải, rồi nó cho vay. Bố mày ốm, tao đến nhà nó, nó đưa cho tao ba chỉ vàng, cười hở hai cái răng bọc vàng. Nó bảo: Chị Tươi cứ cầm, lãi theo tháng, chị buôn bán thế, lo gì không trả được. Mỗi tháng tao mang lãi đến, nó đếm, nó ghi vào cái sổ bìa xanh. – U nhìn ra cây nhãn. – Tháng Tư năm tám bảy tao mang quả cân của bố mày sang Thịnh Khê. Vì cái sổ bìa xanh ấy.
Gấm ngồi im. Ngoài ngõ, có tiếng xe đạp của ai đi qua, chuông kêu leng keng.
– Mười một năm. – U nói. – Nó đổi chỗ ở, đổi cái nhà, đổi cả cái nghề. Mà vẫn cái sổ ấy.
Chồng cô về lúc bảy giờ tối. Thằng Hưng đã chạy đến xưởng nói với anh từ trưa, nói lắp bắp, không đầu không cuối, nhưng đủ để anh hiểu. Anh không về ngay. Anh ở lại xưởng đến hết ca chiều, như mọi ngày. Gấm biết anh làm thế để thợ không thấy gì.
Anh bước vào nhà, đứng ở gian giữa. U đã vào buồng. Hai đứa con đang ăn cơm ở bếp với chị Lài, chị sang từ chiều để trông hộ. Gấm ngồi ở cái bàn gỗ, cuốn sổ mở trước mặt.
Anh không hỏi gì. Anh đi đến bàn thờ.
Anh cầm gói vải đỏ lên. Gấm thấy tay anh dừng lại giữa chừng, như người cầm một vật mình nhớ là nặng mà hóa ra nhẹ. Anh mở nó ra. Tờ biên nhận gấp tư rơi vào lòng bàn tay anh.
Anh đọc. Rồi anh đứng yên, quay lưng về phía cô, rất lâu.
Gấm chờ. Cô chờ anh quay lại, đập tay xuống bàn, nói cái câu mà sáu năm trước anh đã nói. Đàn bà biết gì. Cô đã chuẩn bị cho câu ấy. Cô đã chuẩn bị cả câu trả lời: Đàn bà biết tính. Còn anh thì không nghe.
Anh không nói câu ấy.
Anh gói tờ biên nhận lại trong miếng vải đỏ, đặt về chỗ cũ trên bàn thờ. Rồi anh quay lại, kéo cái ghế đối diện cô, ngồi xuống.
– Năm chín hai, – anh nói, – em ném cái gói ấy lên nóc tủ cho anh cầm đi. Em bảo: mất thì anh nhớ là anh tự mất.
Gấm nhìn anh.
– Anh không cầm. – Anh nói. – Năm nay em cầm đi. Không bảo anh.
– Em bảo anh rồi. – Gấm nói. Giọng cô không run. – Em bảo ba lần. Anh bảo anh lo.
– Ừ.
– Anh lại ừ.
– Không phải ừ cho có. – Anh nói. Anh nhìn xuống hai bàn tay mình đặt trên mặt bàn. – Em giấu anh vì anh không nghe. Anh biết. Anh làm cho em phải giấu.
Gấm không nói được gì. Cô đã chuẩn bị cho mọi câu, trừ câu ấy.
Chồng cô ngồi im một lúc. Rồi anh hỏi một câu mà cô không ngờ, giọng nhỏ, như người hỏi đường.
– Trong sổ còn bao nhiêu?
Cô lật sổ. Cô không cần lật. Cô biết.
– Bốn triệu sáu. – Cô nói. – Lương thứ Bảy này cần năm triệu tám.
— Hết chương 28 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe