AI Truyện
Cân lại đời mình từ năm 1992

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Hai trăm cân trước giao thừa

Cân lại đời mình từ năm 1992 · Chương 8/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 8: Hai trăm cân trước giao thừa

– Một chảo một mẻ được năm cân. – Gấm nói, ngón tay gõ gõ lên mặt bàn như gẩy bàn tính. – Một mẻ mất bốn mươi phút, tính cả lúc đổ ra cán. Hai trăm cân là bốn mươi mẻ. Một lò làm cả ngày cả đêm cũng chỉ được ba mươi mẻ.

– Thế thì ba lò. – Kiệm nói.

– Ba lò thì ba người nấu. Anh có mấy tay?

Họ ngồi ở bàn gỗ gian giữa, chín giờ tối hai mươi tư tháng Chạp. Cái mảnh giấy của bà Duệ nằm giữa bàn, dưới bóng đèn. Cái Hến đã ngủ. U ngồi ở đầu giường, nhai trầu, không nói gì, nhưng không đi ngủ.

Kiệm nhìn mảnh giấy. Thằng hai mươi lăm tuổi trong anh nói: Nhận. Nhận đi, tiền đấy. Ông già năm mươi lăm tuổi nói: Mày có bốn ngày, một cái lò, và một người vợ còn phải đi làm. Nhận rồi không giao được thì cái ngõ ấy đóng cửa với mày mãi mãi.

Ông già ấy đã nhận không biết bao nhiêu đơn hàng không giao được.

– Em nghỉ làm được không? – Anh hỏi.

– Xí nghiệp có việc đâu mà nghỉ. – Gấm nói. – Cả tổ vẽ ngồi chơi từ tháng trước. Người ta chỉ đến điểm danh cho khỏi bị gạch tên.

– Thế thì mai em đi xin nghỉ đến Tết. Rủ thêm mấy chị trong tổ, ai nghỉ được thì sang. Anh trả công theo ngày, trả tiền tối.

U nhổ bã trầu vào cái ống nhổ, lau miệng.

– Chị Lài nhà ở dốc Gạch. – U nói. – Nó nghỉ việc từ năm ngoái, chồng đi Liên Xô không về. Nó có hai đứa con, nó cần tiền. Tay nó nhanh.

Kiệm và Gấm cùng quay lại nhìn u. U đã nằm xuống, kéo chăn lên, quay mặt vào tường.

Bốn giờ sáng hai mươi lăm tháng Chạp, Kiệm đạp xe về Thịnh Khê.

Cụ Đoài đã dậy, đang nhóm bếp. Anh xin mua bốn chục cân nha và mượn cụ một cái chảo gang. Cụ nghe xong, không nói gì, đi ra sau bếp, lôi ra một cái chảo gang to gần gấp rưỡi chảo nhà u, đáy dày cộp, quai đã gãy một bên.

– Chảo này tao nấu nha bốn chục năm. – Cụ nói. – Mày đánh vỡ thì mày đền tao cái mới, mà cái mới thì không bao giờ bằng.

– Vâng.

– Mày nấu kẹo cho ai mà gấp thế?

– Cho người ta ở Hà Nội ạ.

Cụ Đoài gật gù, cột cái chảo lên yên sau xe đạp của anh bằng sợi dây thừng, cột kỹ đến mức buộc ba vòng.

– Lửa đều thì kẹo đều. – Cụ nói. – Mày đắp lò đất là đúng. Thằng nào bảo mày đắp?

Kiệm ngẫm nghĩ một lúc.

– Một ông già. – Anh nói.

Cụ Đoài cười móm mém, vỗ vào yên xe.

– Ông già nào chả bảo thế.

Đến trưa hai mươi lăm, sân sau nhà u đã có ba cái lò đất. Chị Lài đến từ bảy giờ sáng, ba mươi hai tuổi, người to, giọng to, đi đâu cũng mang theo một tràng cười. Chị gọi Kiệm là chú Kiệm, vì hồi anh lên năm chị đã cõng anh đi xem hội đình.

– Chú Kiệm làm ông chủ rồi đấy. – Chị nói, xắn tay áo. – Chị làm gì? Chú bảo đi.

Hai chị nữa ở tổ vẽ của Gấm cũng sang, rồi cô bé mười hai tuổi nhà bên cạnh, rồi chị dâu nhà bà Sáu. Kiệm chia việc: chị Lài với một chị rang lạc bằng cát, sàng vỏ lụa. Anh và Gấm mỗi người đứng một chảo nấu nha. Lò thứ ba để chị dâu nhà bà Sáu giữ lửa, chuyên rang mẻ lạc dự phòng. Những người còn lại cắt, gói, cân, đóng túi.

U về từ chợ lúc mười một giờ. U đứng ở bậc cửa nhìn cái sân sau đã thành một cái xưởng, khói lò bay lên tán nhãn, mùi lạc rang, mùi đường, mùi gừng đặc quánh. U không nói gì, đi thẳng ra chỗ chị Lài đang rang lạc, cầm cái muôi gỗ, xúc một muôi lạc lên, thổi, bóc một hạt, cắn.

– Non. – U nói. – Năm phút nữa.

Chị Lài cười hì hì, rang tiếp. Năm phút sau, u bốc một hạt nữa, cắn.

– Được. Đổ ra.

Bốn ngày ấy, u không ra chợ. U đứng ở chỗ rang lạc, mỗi mẻ cắn một hạt, quyết định lúc nào đổ ra. Mắt u nhìn lạc không ai bằng. Kiệm biết điều đó từ hồi bé nhưng chưa bao giờ nghĩ đến nó như một thứ có giá. Bây giờ, đứng bên chảo nha, anh nhìn u cúi xuống ngửi một muôi lạc như ngửi một bông hoa, và anh hiểu ra vì sao suốt bao nhiêu năm gian hàng của u lúc nào cũng có người mua.

Đêm hai mươi sáu, điện cắt lúc bảy giờ tối.

Cả thị xã tối om. Cắt luân phiên, khu phố Chợ cắt từ bảy giờ đến mười một giờ. Gấm chạy đi mượn thêm ba cái đèn bão của hàng xóm. Ánh đèn dầu vàng vọt, lửa lò hắt lên những khuôn mặt đỏ au. Không ai về.

Lúc mười giờ đêm, Kiệm đổ một mẻ nha ra để thử, cầm sợi nha lên bẻ. Nó gãy. Nhưng tiếng gãy không giòn. Anh đưa lên mũi ngửi. Có một mùi khét rất nhẹ, mùi của đáy chảo vừa chớm cháy trong lúc anh nhìn sang đèn.

Anh đổ cả mẻ ấy ra một cái mâm riêng, đặt sang góc sân.

– Sao đấy chú? – Chị Lài hỏi.

– Mẻ này khét.

– Khét đâu mà khét. – Chị bẻ một miếng, nhai. – Thơm thế này cơ mà. Trộn vào mấy mẻ kia, ai biết.

– Bà Duệ biết.

– Bà Duệ nào mà biết?

– Người mua hàng của em. – Kiệm nói. – Bà ấy bảo hàng sai một lần là thôi.

Chị Lài nhìn anh, rồi nhìn mâm kẹo bị đặt riêng, rồi nhún vai.

– Thế thì cho chị mang về cho hai đứa nhỏ. Bỏ thì phí.

– Chị cứ mang.

Gấm không nói gì. Nhưng lúc đi ngang qua anh để lấy thêm dầu lạc, cô dừng lại một chút, chạm nhẹ vào khuỷu tay anh, rồi đi tiếp.

Đến nửa đêm hai mươi bảy, kẹo đã chất đầy bốn cái thùng giấy to và hai cái sọt tre lót giấy dầu. Gấm cân từng túi một ký bằng cái cân đĩa của u, ghi vào tờ giấy. Hai trăm linh ba cân. Ba cân thừa ra là phòng hao, phòng vỡ dọc đường.

Kiệm ngồi phịch xuống bậc thềm. Hai bàn tay anh phồng rộp chỗ cầm cái muôi khuấy nha. Lưng anh như có ai đóng đinh vào. Nhưng nó là cái đau của cái lưng hai mươi lăm tuổi, cái đau mà ngủ một đêm là hết.

Ba giờ sáng, có tiếng còi xe tải ngoài đầu ngõ, hai tiếng ngắn một tiếng dài. Thằng Khảm. Nó xin hợp tác xã cho chạy một chuyến hàng tư lên Hà Nội trong ngày, nộp tiền xăng và tiền khấu hao cho hợp tác xã, phần công thì Kiệm trả nó.

– Thơm thế này thì đến Hà Nội tao ăn hết một thùng. – Nó nói, khuân thùng kẹo lên xe. – Mày thuê tao rẻ thế thì phải cho tao ăn.

– Một túi. – Kiệm nói.

– Hai túi. Một cho tao, một cho thằng Bờm.

– Hai túi.

Khảm cười hô hố, vỗ đánh bộp vào thùng xe.

Tám giờ sáng hai mươi tám tháng Chạp, xe tải đỗ ở đầu ngõ cạnh chợ Bắc Qua, chắn mất nửa lối đi, người đi chợ Tết chửi um lên. Bà Duệ đứng ở cửa nhà, tay lần tràng hạt, nhìn Kiệm và Khảm khuân từng thùng vào.

Bà cân. Từng thùng, từng sọt, đọc số không cần cúi. Hai trăm linh ba cân. Rồi bà bảo cậu làm thuê rạch ngẫu nhiên ba túi kẹo, ở ba thùng khác nhau. Bà không ăn. Bà cầm từng miếng lên bẻ đôi, đưa sát tai nghe tiếng gãy, rồi ngửi chỗ vừa bẻ. Rồi bà gọi vào trong nhà. Một con bé mười tuổi chạy ra, cháu nội bà. Bà bảo nó ăn thử. Con bé nhai rau ráu, gật đầu lia lịa.

– Chín nghìn. – Bà Duệ nói. – Hai trăm linh ba cân.

Bà đếm tiền ra bàn. Một triệu tám trăm hai mươi bảy nghìn đồng. Bà bảo anh đếm lại trước mặt bà. Anh đếm.

– Cậu nghe đây. – Bà nói, tay vẫn lần tràng hạt. – Sang năm tôi lấy kẹo của cậu quanh năm. Không phải chỉ Tết. Nhưng có một điều. Tháng Hai, tháng Ba nồm ẩm, kẹo lạc nhà nào cũng chảy. Chảy ra dính vào giấy, khách mở ra như mở cục nhựa đường. Kẹo của cậu mà giữ được giòn qua nồm, thì tôi lấy. Không giữ được thì thôi, coi như hôm nay là lần cuối.

– Vâng.

– Đừng có vâng. – Bà Duệ gắt. – Cậu có biết giữ kẹo qua nồm thế nào không?

Kiệm nghĩ đến những cái chum sành trong xưởng ông Cự, đáy lót một lớp vôi sống bọc trong vải màn, kẹo xếp bên trên, nắp đậy kín bằng cái mo cau. Ông Cự bảo: Vôi nó uống nước thay cho kẹo.

– Cháu biết. – Anh nói.

Bà Duệ nhìn anh một lúc lâu.

– Cậu biết nhiều thứ quá so với tuổi. – Bà nói, rồi quay vào trong, không chờ anh đáp.

Trên đường về, Khảm hát suốt. Nó hát những bài nó nghe trên đài, sai lời, sai nhạc, hát to đến mức người đi xe đạp bên đường quay lại nhìn. Kiệm ngồi ở ghế phụ, hai tay ôm cái túi vải đựng tiền, nhìn ra cánh đồng đã gặt, những đống rơm vàng, những đứa trẻ thả diều giữa ruộng khô.

Đến gần bến phà, Khảm thôi hát. Nó móc trong túi áo ngực ra một tờ một trăm nghìn, đặt lên đùi Kiệm.

– Trả mày một nửa. – Nó nói. – Ra Giêng trả nốt.

– Mày cứ cầm, Tết nhất.

– Tao bảo cầm thì cầm. – Khảm nói, mắt nhìn đường. – Mày đừng có lúc nào cũng làm như tao là thằng em mày.

Kiệm cầm tờ tiền. Anh gấp nó lại, cho vào túi vải, cạnh xấp tiền của bà Duệ.

Chiều ba mươi Tết, Gấm đặt gói vải đỏ lên bàn, trước mặt anh.

– Ra Tết anh mua thêm chảo, mua thêm nha. – Cô nói. – Anh cần vốn thì lấy cái này.

Kiệm nhìn gói vải đỏ. Bốn tháng trước, chính anh đã cầm nó định đưa cho người khác. Kiếp trước, chính anh đã đưa nó đi, và Gấm không bao giờ đeo lại khuyên tai nữa.

Anh không mở gói vải. Anh cầm nó lên, đứng dậy, đi đến bàn thờ, đặt nó vào cái đĩa nhỏ cạnh bát hương, bên dưới tấm ảnh bố.

– Để đây. – Anh nói. – Để bố giữ hộ em.

Gấm đứng nhìn gói vải đỏ trên bàn thờ. Cô không nói gì. Nhưng tối hôm ấy, lúc cả nhà ngồi gói bánh chưng muộn, cô ngồi sát cạnh anh, đầu gối chạm đầu gối.

Gần giao thừa, u tháo cái cân đòn ở chợ mang về.

Đó là lệ của u từ ngày bố mất: chiều ba mươi Tết, mang cân về nhà, lau đòn cân bằng dầu lạc, đánh quả cân bằng tro bếp cho sáng, rồi treo lên cột nhà cạnh bàn thờ. Qua ba ngày Tết mới mang ra chợ. Năm nào cũng thế. Kiệm nhớ từ hồi bé.

U đặt cái cân lên chiếu, rồi đi vào bếp lấy bát tro. Kiệm ngồi xuống cạnh chiếu, cầm quả cân lên. Năm nay để anh đánh hộ u.

Dưới ánh đèn, trên bụng quả cân, ba vết khía song song hiện ra rõ mồn một. Anh miết ngón tay cái lên đó.

Sắc.

Anh miết lại lần nữa. Mép khía sắc như vừa đục, cạnh ngón tay anh có cảm giác hơi cứa. Trong trí nhớ của anh, ba vết khía ấy mòn nhẵn. Bố anh có thói quen, mỗi lần cân xong, ngón cái miết lên quả cân như người ta vuốt đầu một con chó. Miết hai chục năm, đến mức ba vết khía chỉ còn là ba đường lõm mờ mờ, sờ vào trơn như sờ hòn cuội.

Hay là anh nhớ nhầm. Bốn mươi lăm năm rồi. Trí nhớ của một thằng bé mười tuổi.

– Bỏ xuống.

U đứng ở cửa bếp, tay cầm bát tro. Giọng u không to, nhưng nó làm anh giật mình như hồi bé bị bắt quả tang ăn vụng.

U bước lại, giật quả cân khỏi tay anh, nhanh đến mức sợi dây gai quất vào cổ tay anh một cái rát.

– Để đấy. – U nói. – Cân của bố mày. Mày không lau.

Rồi u ngồi xuống chiếu, quay lưng về phía anh, đánh quả cân bằng tro bếp, chậm, kỹ, lâu đến mức ngoài phố pháo đã bắt đầu nổ lẹt đẹt đón giao thừa.

— Hết chương 8 —

Mục lục Cân lại đời mình từ năm 1992

  1. 1Bao lạc thứ bốn mươi mốt10 phút
  2. 2Chú em không tin anh11 phút đọc
  3. 3Bãi Bồ Xuyên9 phút đọc
  4. 4Ngõ chợ Bắc Qua10 phút đọc
  5. 5Tiền của Khảm11 phút đọc
  6. 6Giá lạc hai nghìn bảy11 phút đọc
  7. 7Mạch nha Thịnh Khê10 phút đọc
  8. 8Hai trăm cân trước giao thừa11 phút đọc
  9. 9Ba cân trong một tạ12 phút đọc
  10. 10Trả lại ba cân11 phút đọc
  11. 11Gian hàng khóa trái10 phút đọc
  12. 12Mùa nồm10 phút đọc
  13. 13Thằng bé có nốt ruồi ở vành tai10 phút đọc
  14. 14Cái kho của bố10 phút đọc
  15. 15Cái Tết không có pháo10 phút đọc
  16. 16Đêm hai mươi bảy tháng Giêng11 phút đọc
  17. 17Chín triệu của Tạo bi-a10 phút đọc
  18. 18Đêm mồng một tháng Chín10 phút đọc
  19. 19Lời khai12 phút đọc
  20. 20Phiên tòa tháng Tư12 phút đọc
  21. 21Nước lên ở bến Lăng10 phút đọc
  22. 22Ông chủ Kiệm10 phút đọc
  23. 23Kẹo bà Tươi giả10 phút đọc
  24. 24Cái cân ở cửa hàng10 phút đọc
  25. 25Mùa khủng hoảng10 phút đọc
  26. 26Quả cân thật9 phút đọc
  27. 27Hợp đồng chín mươi ngày10 phút đọc
  28. 28Họ vỡ10 phút đọc
  29. 29Thứ Bảy không có lương10 phút đọc
  30. 30Những bao lạc không lấy tiền11 phút đọc
  31. 31Khảm về10 phút đọc
  32. 32Nói với Gấm10 phút đọc
  33. 33Rằm tháng Sáu10 phút đọc
  34. 34Người lái đò10 phút đọc
  35. 35Bao lạc không cần cân10 phút đọc
  36. 36Mùng một tháng Chạp năm Nhâm Dần9 phút đọc

Về truyện này

Cân lại đời mình từ năm 1992 là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →