Chương 5: Tiền của Khảm
Mười một giờ đêm thứ Sáu, có người đập cổng sắt nhà u bằng cả hai nắm tay.
– Kiệm! Thằng Kiệm! Mày ra đây!
Cả dãy phố Chợ bật đèn. Con chó nhà bà Sáu sủa như bị chọc tiết. Cái Hến giật mình khóc thét trên giường. Kiệm xỏ dép chạy ra, chưa kịp cài cúc áo. Ngoài cổng, dưới cái bóng đèn tròn vàng khè treo ở cột điện, thằng Khảm đứng chống tay vào song sắt, người lắc lư như cái cây trước gió. Mùi rượu trắng xộc vào mũi anh trước cả khi anh mở then.
– Mày biết. – Khảm nói, nhè nhè, chỉ ngón tay vào ngực Kiệm. – Mày biết từ trước. Đúng không? Mày biết nên mày không góp.
– Mày vào đây đã.
– Tao không vào. – Khảm gạt tay anh ra. – Tao hỏi mày, mày biết không?
Kiệm nhìn bạn mình. Gần ba tuần ở Lạng Sơn, mặt nó đen sạm đi, râu ria lởm chởm, cái áo bộ đội bẩn đến mức không còn nhận ra màu xanh. Anh muốn nói một câu thật, một câu thôi. Nhưng không có câu thật nào nói ra mà không thành câu điên.
– Tao không biết. – Anh nói. – Tao chỉ sợ.
Khảm đứng nhìn anh một lúc lâu. Rồi nó cười, một cái cười rỗng như tiếng gõ vào thùng phuy, và nó ngồi phịch xuống bậc cổng, ôm đầu.
– Mất hết rồi mày ạ. – Nó nói vào hai đầu gối. – Mất hết. Bốn mươi cái xe nằm trong kho của người ta. Ông Tòng chạy gần ba tuần, chạy từ trạm này đến trạm kia, chạy cả đến nhà người quen của ông ấy. Giấy tờ của bên giữ hàng không đúng, người ta tịch thu. Hết.
Kiệm ngồi xuống bên cạnh nó. Bậc cổng xi măng lạnh dưới đít quần. Ngõ đã tắt dần đèn, chỉ còn con chó nhà bà Sáu thỉnh thoảng gừ gừ.
Kiếp trước, đây là chỗ của anh. Ngồi ở bậc cổng này, say, ôm đầu. Khác ở chỗ hồi ấy không có ai ngồi bên cạnh. Khảm hồi ấy đã đến, đứng ở cổng, chửi anh Tòng hộ anh, rồi rủ anh đi uống tiếp. Anh đã đi.
– Mày nợ ông Tạo bao nhiêu? – Kiệm hỏi.
– Sáu trăm. Ba tuần lãi.
– Mai mày trả.
– Trả bằng gì? – Khảm ngẩng lên. – Mày điếc à? Tao bảo mất hết rồi.
– Mai tao đi với mày sang nhà ông Tòng.
Nhà anh Tòng ở cuối phố Đê, một căn nhà cấp bốn mái ngói thấp, cái sân nhỏ có giàn mướp. Tám giờ sáng thứ Bảy, Kiệm đẩy cổng bước vào, Khảm lẽo đẽo sau lưng, mắt còn đỏ ngầu.
Kiệm đã chuẩn bị cả đêm những câu anh sẽ nói. Anh đã nói chúng một lần rồi, ở kiếp trước, giữa chợ, trước mặt hàng trăm người: Anh là đồ lừa đảo. Anh cầm tiền của người ta đi đánh bạc rồi về bịa chuyện. Anh trả tiền đây không thì tôi đi báo công an. Ba mươi năm, những câu ấy đã nằm trong miệng anh, chỉ chờ một cơ hội để nói lại.
Trong sân, anh Tòng đang đứng cạnh chiếc xe máy Liên Xô hai thì sơn đỏ, cái xe mà cả thị xã này không có mấy chiếc. Bên cạnh là một người đàn ông lạ, béo, đeo kính đen, đang ngồi xổm gõ gõ vào ống bô. Ở bậc thềm, vợ anh Tòng, một người đàn bà nhỏ thó, đang cúi xuống tháo cái vòng ở cổ tay. Hai đứa trẻ con, một trai một gái, đứng nép vào khung cửa nhìn ra.
– Tám trăm. – Người đàn ông béo đứng lên, phủi tay. – Hơn thì tôi không mua.
– Chín trăm. – Anh Tòng nói. – Xe tôi đi được ba năm, chưa phải bổ máy lần nào.
– Tám trăm rưỡi. Anh cần tiền thì anh bán, không cần thì thôi.
Anh Tòng nhìn chiếc xe một lúc. Rồi anh gật đầu.
Người đàn ông béo đếm tiền, đặt vào tay anh Tòng, rồi dắt xe ra cổng, đi ngang qua Kiệm và Khảm mà không nhìn ai. Tiếng xe hai thì nổ bành bạch xa dần ở đầu phố.
Vợ anh Tòng đứng dậy, đưa cái vòng cho chồng. Anh Tòng cầm lấy, nhìn nó, rồi bỏ vào túi áo. Rồi anh mới quay sang hai người đứng ở cổng.
– Chú em đến rồi à. – Anh nói với Kiệm, như đã chờ. – Vào đây. Cả thằng Khảm nữa.
Anh Tòng không mời ngồi. Anh lấy trong cái cặp giả da ra một tờ giấy kẻ ô, trên đó ghi tên bốn người góp vốn, mỗi người một dòng, viết bằng cái nét chữ nghiêng nghiêng của học trò lớp bảy. Khảm một triệu năm trăm. Hai người nữa Kiệm không quen. Và anh Tòng, sáu triệu.
– Hàng mất thì mất cả. – Anh Tòng nói. – Mỗi người mất phần của người ấy, đấy là luật đi buôn. Nhưng tôi là người rủ, tôi là người đi, giấy tờ bên giữ hàng không đúng thì là tôi không xem kỹ. Thế nên tôi trả lại mỗi người sáu phần mười. Hai người kia tôi trả hôm qua rồi, bằng tiền bán hết phụ tùng trong nhà. Còn phần của thằng Khảm thì tôi bán cái xe, bán cái vòng của vợ tôi.
Anh đếm tiền ra lòng bàn tay, những tờ tiền vừa nhận của người đàn ông béo. Tám trăm rưỡi. Còn thiếu năm mươi nghìn mới đủ sáu phần mười, anh lấy cái vòng trong túi áo ra đặt lên trên.
– Cái vòng này một chỉ. Thằng Khảm cầm, bán được bao nhiêu thì bán, thừa thì thôi.
Khảm đứng như trời trồng. Rồi nó lùi lại một bước.
– Anh không phải trả. – Nó nói, giọng khàn đặc. – Anh bảo rồi, mất thì mất cả.
– Mày vay lãi ông Tạo. – Anh Tòng nói, không lên giọng. – Tao biết. Người ta góp bằng tiền nhà thì mất tiền nhà. Mày góp bằng tiền vay lãi thì mày mất cả cái nhà. Phần ấy tao phải gánh hơn. Cầm lấy.
Kiệm đứng nhìn bàn tay anh Tòng chìa ra, những tờ tiền nhàu với cái vòng vàng mỏng dính nằm ở trên. Anh nhìn hai đứa trẻ đứng ở khung cửa. Anh nhớ mang máng có ai đó đã nói với anh, rất lâu về sau, rằng anh Tòng nuôi hai đứa con của người anh trai chết đuối. Anh đã không tin. Anh đã bảo: Thằng lừa đảo thì nuôi ai chả được.
Ba mươi năm. Ba mươi năm anh đã kể cho mọi người nghe rằng người đàn ông này cầm tiền của anh rồi bịa chuyện. Anh kể ở quán rượu, ở bàn đánh bài, ở chợ đầu mối. Anh kể cho cả con gái mình nghe, năm nó mười tuổi, để giải thích vì sao nhà mình nghèo. Và chưa một lần nào anh tự hỏi xem anh Tòng có mất gì không.
Có thể hồi ấy anh Tòng cũng đã chìa tay ra như thế này. Có thể anh đã gạt đi, vì anh đang chửi to quá, đang say quá, đang cần một kẻ để đổ cho đến mức không nhìn thấy tay người ta chìa ra. Anh không nhớ. Anh không biết. Trí nhớ của anh về những ngày ấy chỉ là một tiếng ù ù của rượu và một câu chuyện anh đã kể đi kể lại đến mức nó thay chỗ cho chuyện thật.
– Cầm lấy đi. – Kiệm nói với Khảm. Giọng anh lạ đến mức chính anh cũng nghe ra.
Khảm cầm.
Lúc hai người ra đến cổng, anh Tòng gọi với theo.
– Chú Kiệm.
Kiệm quay lại. Anh Tòng đứng dưới giàn mướp, hai tay đút túi quần, cái áo sơ mi trắng vẫn cài kín cúc cổ.
– Nghe nói chú đi buôn lạc bên Bồ Xuyên. Lên tận Hà Nội bán.
– Vâng.
– Trả hai nghìn sáu.
– Vâng.
Anh Tòng gật đầu, chậm, như người đang cân một cái gì trong đầu.
– Cẩn thận cái cân nhà chú. – Anh nói.
Rồi anh quay vào nhà.
Kiệm đứng ở cổng một lúc. Câu ấy rơi vào tai anh và đông lại thành một cục lạnh. Ba mươi năm trước, có một mùa thu cả bãi Bồ Xuyên gọi anh là thằng cân điêu. Anh không cân điêu. Anh thề với trời đất là anh không cân điêu, và anh đã tin rằng có người đứng sau chuyện ấy. Bây giờ người ấy vừa đứng dưới giàn mướp mà nói với anh một câu như thế.
Một người vừa bán xe trả nợ cho bạn mình. Và vừa nói một câu nghe như lời dọa.
Anh không biết phải tin cái nào.
Quán bi-a của ông Tạo nằm sau bến xe, trong một cái nhà kho cũ của hợp tác xã mua bán. Ba cái bàn bọc nỉ xanh đã sờn trắng ở mép, bóng đèn tuýp nhấp nháy, mùi khói thuốc lá và mùi nước tiểu từ cái rãnh sau nhà. Mười giờ sáng mà đã có bốn thằng thanh niên cởi trần chơi ở bàn trong cùng.
Ông Tạo ngồi ở cái bàn gỗ gần cửa, ba mươi bảy tuổi, cái bụng tròn, cái áo sơ mi hoa mở phanh hai cúc. Ông đang ăn một bát bún ốc, xì xụp.
– À, anh Khảm về rồi. – Ông nói, không đặt đũa xuống. – Còn đây là ai? Anh Kiệm con bà Tươi phải không? Lâu lắm không thấy anh sang đánh vài cơ.
Kiệm chưa bao giờ đánh bi-a ở đây trong kiếp này. Nhưng ông Tạo là người biết tên tất cả mọi người trong thị xã. Đó là cái nghề của ông.
Khảm đặt tiền lên bàn. Ông Tạo đếm bằng một tay, tay kia vẫn cầm đũa. Sáu trăm gốc. Sáu mươi lãi một tháng, ông tính tròn tháng dù mới ba tuần. Bốn mươi tiền phạt chậm lãi tuần.
– Bảy trăm. – Ông nói, đẩy hai tờ trả lại. – Anh Khảm sòng phẳng thế này thì lần sau cần cứ sang.
– Không có lần sau. – Kiệm nói. – Ông viết cho nó cái giấy là hết nợ.
Ông Tạo ngẩng lên khỏi bát bún. Ông nhìn Kiệm một lúc, cái nhìn của người quen đọc mặt người ta xem còn vắt được bao nhiêu.
– Giấy gì? Tôi với anh Khảm là chỗ anh em.
– Thì anh em viết cho nhau cái giấy. – Kiệm nói. – Cho Duyến nó yên tâm.
Ông Tạo cười, phun một miếng ớt ra cạnh bát. Nhưng ông vẫn xé một tờ giấy lịch, viết vào mặt sau: Khảm đã trả hết nợ ngày 26 tháng 9 năm 1992. Ký tên, một chữ Tạo nguệch ngoạc.
Ra đến ngoài, Khảm đứng dưới cái nắng tháng Chín, cầm tờ giấy lịch, một lúc lâu không nói.
– Tao còn trăm rưỡi với cái vòng. – Nó nói. – Cái vòng tao trả lại vợ ông Tòng.
– Ừ.
– Tháng này hợp tác xã trừ lương mấy ngày tao nghỉ. Duyến nó bán xôi được mấy đồng.
Kiệm rút trong túi áo ra hai tờ một trăm nghìn, gấp làm đôi, nhét vào túi áo ngực của Khảm, cái túi mà mới ba tuần trước còn cộm lên một xấp tiền buộc chun.
– Tao cho mày vay. – Anh nói. – Không lãi. Bao giờ có thì trả.
Khảm nhìn cái túi áo, rồi nhìn anh. Mặt nó đỏ lên, không biết vì nắng hay vì cái gì khác.
– Mày đi buôn lạc mấy tuần mà đã có tiền cho người ta vay. – Nó nói, cố cười. – Thằng Kiệm hôm nay lạ thật.
– Lạ gì.
– Mày nói như ông già. – Khảm nói. – Ông già nhà tao ngày trước cũng hay nhét tiền vào túi áo tao thế này. Rồi bảo không lãi.
Nó vỗ vai Kiệm, nhẹ hơn mọi lần, rồi đi về phía bến xe, chỗ Duyến đang dọn quán.
Ba hôm sau, thằng Lũng chèo thuyền nan sang bến Lăng tìm Kiệm, mồ hôi nhễ nhại, chưa kịp buộc thuyền đã gọi từ dưới nước lên.
– Chú ơi! Bên bãi có người mở chỗ mua lạc! Ngay đầu xóm Bãi Giữa, dựng cả cái lán!
– Ai?
– Ông Tòng phố Đê! – Thằng bé thở hổn hển. – Ông ấy trả hai nghìn bảy!
— Hết chương 5 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe