Chương 11: Gian hàng khóa trái
Nghĩa trang thị xã nằm trên cái gò đất sau bến xe, cỏ gà mọc lút mắt cá chân, những ngôi mộ xây bằng gạch quét vôi xếp thành hàng không thẳng lối. Kiệm tìm thấy u ở hàng thứ năm, ngồi bệt xuống cỏ trước mộ bố, cái nón lá đặt bên cạnh.
U không thắp hương. U chỉ ngồi đấy, hai tay để trên đầu gối, nhìn tấm bia xi măng có tên bố khắc bằng đinh, nét chữ đã bị mưa làm mòn. Trên mặt mộ, ngay dưới chân tấm bia, có một vật nhỏ màu vàng sẫm nằm trên cái khăn mùi xoa trắng.
Quả cân của bố.
Kiệm đứng sau lưng u một lúc lâu. U biết anh đến. U không quay lại.
– Tao trả gian rồi, ông ạ. – U nói. Không phải nói với anh. – Bốn mươi năm. Từ năm mười ba tuổi tôi ngồi chợ với bu tôi. Ông thì chưa ngồi với tôi ngày nào, ông chỉ treo cái cân lên cho tôi.
Gió từ phía sông thổi lên, làm mấy ngọn cỏ gà rạp xuống.
– Thằng Kiệm nó mang cân của ông sang bãi trả tiền cho người ta. – U nói tiếp. – Nó không nói tên tôi. Nhưng cả bãi biết rồi. Cả chợ biết rồi. Bà Sáu nhìn tôi như nhìn người sắp chết.
Kiệm ngồi xuống cạnh u. Đất trên gò ấm, cỏ khô kêu sột soạt.
– U về đi. – Anh nói.
U lắc đầu, rất chậm.
– Ông ấy, – u nói, hất cằm về phía tấm bia, – ông ấy cả đời không lấy của ai một đồng. Đi làm thủ kho mười tám năm, người ta đưa phong bì không cầm, người ta biếu gạo không lấy. Đến lúc ốm, không có tiền mua thuốc. Tao đi vay. Tao đi cân thiếu. Ông ấy chết rồi, ông ấy không biết.
– U ơi.
– Tao không hối hận. – U nói, giọng cứng lại. – Mày nghe đây. Tao không hối hận. Không có quả cân ấy thì mày không có cơm mà ăn, không có cái nhà mà ở. Tao chỉ không biết từ mai tao ngồi đâu.
Kiệm nhìn quả cân của bố trên mặt mộ. Nó nằm đấy, nhỏ, sáng lên dưới nắng chiều. Ba vết khía mòn nhẵn.
Anh nhặt nó lên, gói lại trong cái khăn mùi xoa, đặt vào lòng bàn tay u.
– U giữ. – Anh nói. – Quả kia con vứt xuống sông rồi.
Đó là điều anh đã làm, lúc đò ông Khuể đi ra giữa dòng, trước mặt anh Tòng và Gấm. Anh đã tháo quả cân nặng khỏi sợi dây gai, ném nó xuống sông Lăng. Nó chìm không một tiếng động.
U nắm lấy cái gói khăn. Bàn tay u run.
– Thế từ mai mày cân bằng gì?
– Bằng cân bàn. – Anh nói. – Cân bàn có kim, ai cũng đọc được.
U không ra khỏi nhà suốt ba tuần.
U dậy sớm, nấu cơm, quét sân, giặt quần áo, tắm cho cái Hến. Rồi u ngồi ở bậc thềm sân sau, nhìn mấy chị trong xưởng rang lạc, nấu nha, cắt kẹo. U không nói với ai câu nào. Chị Lài thỉnh thoảng hỏi bác ăn kẹo không, u lắc đầu. Bà Sáu sang chơi, mang theo một bát riêu cua, u ngồi tiếp bà như tiếp khách lạ, nói được ba câu thì im.
Ngoài chợ, người ta nói. Kiệm nghe được những câu ấy từ những người không biết anh đứng sau lưng. Ở hàng thịt: Bà Tươi cân điêu bảy năm, giờ thằng con nó phải đi trả hộ. Ở hàng nước đầu chợ: Thằng ấy khôn, trả mấy đồng thì người ta lại tin, buôn tiếp. Ở hàng vải: Thế mà ai cũng bảo nhà bà Tươi tử tế, bố nó làm thủ kho thật thà nhất cái thị xã.
Có người thôi mua kẹo. Cái mẹt kẹo bày ở góc gian hàng bà Sáu, bà Sáu cho đặt nhờ từ khi u trả gian, mỗi ngày bán được một nửa so với trước. Có hôm một bà đi qua, nhìn cái mẹt, nói to với người đi cùng: Kẹo nhà ấy cũng cân thiếu đấy, mua làm gì.
Bà Sáu đứng phắt dậy, chống nạnh.
– Cân thiếu thì bà mang cân nhà bà ra đây mà cân! Tao đứng đây tao xem! Thiếu một lạng tao đền bà một cân!
Người đàn bà kia bỏ đi, không mua. Bà Sáu ngồi xuống, lầu bầu một lúc lâu, rồi quay sang bảo Kiệm:
– Mày đứng đấy làm gì? Về mà bảo mẹ mày, tao đã chửi cho rồi.
– Bà Sáu ơi, – Kiệm hỏi, – bà biết từ trước à?
Bà Sáu nhìn anh, cái hàm răng giả nhựa hồng khép lại.
– Tao ngồi cạnh mẹ mày hai mươi năm. – Bà nói. – Tao biết mẹ mày cầm quả cân thế nào lúc mua, cầm thế nào lúc bán. Tao không nói. Ở chợ này ai chả có một cái gì không nói.
Ở Hà Nội thì không ai biết gì. Bà Duệ vẫn lấy kẹo đều mỗi tháng. Các hiệu bánh mứt ở phố Hàng Đường vẫn bày kẹo của anh trong những cái lọ thủy tinh to. Xưởng vẫn đỏ lửa từ bốn giờ sáng. Nhưng mỗi lần đi qua cái gian hàng khóa trái ở dãy B, Kiệm thấy như có ai lấy cái que chọc vào một chỗ đau dưới xương sườn.
Đầu tháng Mười một, một tối, Gấm ngồi xuống cạnh anh ở bậc thềm, lúc cả xưởng đã về.
– Em có rồi. – Cô nói.
Kiệm không hiểu ngay. Anh quay sang nhìn vợ. Gấm đang nhìn xuống hai bàn tay mình đặt trên đùi, mấy ngón tay còn dính dầu lạc.
– Ba tháng rưỡi. – Cô nói. – Em đi trạm xá rồi. Bà y tá bảo khoảng tháng Tư thì sinh.
Tháng Tư.
Kiệm ngồi im. Trong đầu anh có một cái gì đó vừa sáng lên vừa sụp xuống cùng một lúc, như cái đèn ông sao bén lửa. Tháng Tư năm 1994. Ngày hai mươi tháng Tư, mười tháng Ba âm lịch, ở bệnh viện thị xã, một thằng bé ba cân hai, khóc rất to, có một nốt ruồi nhỏ ở vành tai bên trái. Kiếp trước anh đã đặt tên nó là Bảo, ở nhà gọi là cu Thóc, vì u bảo thằng bé tròn như hạt thóc.
Anh đã không biết. Anh đã để mọi thứ đi khác đi, đã không đưa tiền cho anh Tòng, đã không say rượu đập phá, đã không cãi nhau với Gấm suốt mùa thu năm ngoái. Anh đã không chắc, cho đến giây phút này, rằng đứa con ấy có còn đến không.
Nó vẫn đến. Đúng tháng ấy.
Và nếu nó vẫn đến đúng tháng ấy, thì nó cũng sẽ đi đúng ngày ấy chăng. Rằm tháng Sáu năm Canh Thìn. Bến Lăng. Sáu tuổi.
– Anh không vui à? – Gấm hỏi.
Kiệm quay sang. Anh nhận ra mình đang nắm chặt cái mép bậc thềm đến mức đầu ngón tay trắng bệch.
– Vui. – Anh nói. – Anh vui.
Anh vòng tay ôm vợ. Gấm tựa đầu vào vai anh. Anh ngửi thấy mùi dầu lạc trên tóc cô, mùi gừng, mùi khói lò. Anh ôm cô rất lâu, lâu đến mức cô phải cựa người.
Đêm ấy, lúc cả nhà đã ngủ, anh mặc áo ra ngoài, đi bộ ra bến Lăng. Trăng hạ tuần, mờ mờ sau một lớp mây mỏng. Sông chảy đen thẫm, không thấy bờ bên kia. Anh đứng ở bậc đá cuối cùng chưa bị nước liếm tới, như cái chiều tháng Chín năm ngoái.
Còn sáu năm tám tháng. Anh đếm như người ta đếm nợ.
Gấm là người đưa u trở lại.
Không phải bằng lời. Gấm không bao giờ nói những câu như u ra làm với con đi, hay u đừng buồn nữa. Một sáng cuối tháng Mười một, chị Lài rang một mẻ lạc to, đổ ra sàng. Gấm đi ngang qua, bốc một nắm, nhìn, rồi bưng cả cái sàng ra đặt trước mặt u ở bậc thềm.
– U xem hộ con mẻ này. – Cô nói. – Con không biết nó chín chưa.
U nhìn cái sàng. U không động tay. Gấm cứ để cái sàng đấy, đi vào bếp.
Năm phút. Mười phút. Chị Lài đứng bên lò, nhìn sang, định gọi Gấm ra lấy cái sàng. Rồi u cúi xuống, bốc một hạt lạc, bóc, cắn.
– Non. – U nói, giọng khàn vì ba tuần không nói. – Đổ vào rang lại. Năm phút.
Chị Lài cười phá lên, chạy đến bê cái sàng đi. Từ hôm ấy, u lại đứng ở chỗ rang lạc. Mỗi mẻ cắn một hạt. Mỗi mẻ nói một chữ. Non. Được. Đổ ra. Cuối tuần, u dạy mấy chị trong xưởng cách chọn lạc: lạc nào hạt chắc, lạc nào vỏ lụa đẹp, lạc nào đã ngấm ẩm chỉ cần ngửi là biết. U dạy bằng cách cầm tay người ta, đặt hạt lạc vào lòng bàn tay họ, bảo bóp, bảo ngửi.
U vẫn không ra chợ. Nhưng u đã nói lại.
Gấm còn làm một việc nữa.
Một tối tháng Mười hai, cô ngồi bên cái bàn gỗ gian giữa với hộp màu nước và mấy tờ giấy trắng mua ở hiệu sách thị xã. Cô vẽ bằng cái bút lông nhỏ mà cô mang về từ xí nghiệp, cái bút cô dùng vẽ hoa lam lên bát. Kiệm ngồi đối diện, xem cô vẽ.
Một cái cân đòn nhỏ, nằm ngang, ở đầu móc là một túm lạc còn nguyên vỏ. Bên dưới là mấy chữ viết nghiêng, nét mảnh, mềm như nét vẽ trên men: Kẹo lạc bà Tươi. Bên dưới nữa, nhỏ hơn: Vạn Lăng.
Gấm vẽ ba tờ, chọn tờ đẹp nhất, để lên bàn cho khô.
Sáng hôm sau, u nhìn thấy nó. U đứng bên cái bàn rất lâu, tay cầm cái chổi quét nhà. Rồi u đặt cái chổi xuống.
– Đứa nào vẽ cái này?
– Con. – Gấm nói từ trong bếp.
– Bỏ đi.
Gấm đi ra, lau tay vào tạp dề.
– Sao lại bỏ hả u?
– Tên tao không sạch. – U nói. – Cả cái thị xã này biết rồi. Mày đem tên tao in lên giấy gói kẹo thì người ta cười vào mặt.
Gấm nhìn mẹ chồng. Cô không cãi. Cô cầm tờ giấy lên, nhìn cái cân đòn mình vẽ, rồi đặt nó trở lại bàn.
– Thế thì từ nay mình làm cho nó sạch. – Cô nói. – U ạ.
U không đáp. U cầm cái chổi lên, quét tiếp. Tờ giấy vẽ vẫn nằm trên bàn. U không vứt nó đi.
Ngày mười một tháng Mười hai, có một người đàn ông lạ đến tìm Kiệm.
Bốn mươi tuổi, mặc áo đại cán màu xám, đội mũ cát két, đi cái xe đạp khung cao có giỏ mây, cặp tài liệu kẹp ở giá sau. Anh ta đứng ở cổng sắt nhà u, nhìn vào cái sân sau đỏ lửa lò, rồi hỏi anh Kiệm làm kẹo lạc có phải ở đây không.
Tên anh ta là Nghĩa, cán bộ phòng thu mua của công ty thực phẩm tỉnh bên. Anh ta đã ăn kẹo lạc của Kiệm ở một hiệu bánh phố Hàng Đường, đã hỏi bà chủ hiệu. Bà chủ hiệu chỉ sang bà Duệ, bà Duệ không nói gì, nhưng cậu làm thuê của bà Duệ thì nói.
– Công ty tôi cần kẹo lạc cho đợt Tết. – Anh Nghĩa nói, ngồi trên cái ghế đẩu ở hiên, cặp tài liệu đặt trên đầu gối. – Bán cho các cửa hàng mậu dịch ở ba thị xã. Hai tấn. Giao trước hai mươi ba tháng Chạp. Giá mười nghìn một cân. Công ty ứng trước ba mươi phần trăm.
Hai tấn.
Kiệm nghe hai chữ ấy rơi xuống giữa cái hiên như hai bao lạc. Trong xưởng, chị Lài ngừng tay khuấy chảo. Gấm, đang cắt kẹo, đặt con dao phay xuống mâm.
Hai tấn. Mười nghìn một cân. Hai mươi triệu đồng. Gấp ba số tiền trong cái hộp sắt dưới gầm giường.
Kiếp trước, anh đã gặp những người như anh Nghĩa. Áo đại cán, cặp tài liệu, những con số tròn. Anh đã gật đầu với họ ngay, không cần hỏi lại, vì những con số tròn bao giờ cũng làm anh say hơn rượu.
— Hết chương 11 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe