Chương 7: Mạch nha Thịnh Khê
Cụ Đoài nhúng ngón tay trỏ vào nồi mạch nha đang sôi lăn tăn, rút ra, đưa lên trước mắt Kiệm. Một sợi nha vàng óng kéo theo ngón tay, dài gần một gang, rồi đứt.
– Cái này nấu bằng gì? – Cụ hỏi.
Làng Thịnh Khê cách thị xã sáu cây số, nằm lọt thỏm giữa những cánh đồng đã gặt trơ gốc rạ. Cả làng có hơn chục nhà còn nấu mạch nha, mùi ngòn ngọt khen khét bay ra tận đầu đường. Nhà cụ Đoài ở xóm trong, cái bếp lò đắp bằng đất sét to như cái giường, hai cái chảo gang lớn, khói ám đen cả mái rạ. Cụ bảy mươi hai tuổi, lưng còng gần gập đôi, nhưng hai cánh tay vẫn ngoáy nồi nha được từ sáng đến chiều.
– Nếp cái. – Kiệm nói. – Nấu thành cơm, ủ với mầm thóc giã nhỏ. Mầm phải ủ ba đêm, mọc dài bằng đốt ngón tay. Để qua một đêm cho nó ra nước ngọt, vắt lấy nước, rồi cô lại.
Cụ Đoài nhìn anh, mắt mờ đục như hai hòn bi ve cũ.
– Thằng này nói như thợ. – Cụ nói. – Mày ở đâu?
– Phố Chợ ạ.
– Phố Chợ thì có ai nấu nha. – Cụ lại nhúng ngón tay vào nồi. – Mua của tao bao nhiêu?
– Hai chục cân ạ. Để nấu thử.
Cụ Đoài không hỏi nấu thử cái gì. Cụ múc nha vào cái vại sành, cân bằng cái cân đòn treo ở xà bếp, bốn nghìn rưỡi một cân. Ở chợ Vạn Lăng có bán nha ba nghìn, nhưng Kiệm đã nếm thử thứ nha ấy: ngọt gắt, đục, có mùi bột sắn. Người ta pha đường với bột cho ra sợi. Ông Cự hồi ấy có một câu, nói đến mức Kiệm thuộc làu: Kẹo lạc ngon hay dở là ở cái nha, không phải ở cái lạc. Lạc thì đâu chả có. Nha thật thì phải đi tìm.
Lúc anh buộc vại nha lên yên sau xe đạp, cụ Đoài đứng ở cửa bếp gọi với ra:
– Nấu bằng gì?
– Dạ?
– Mày nấu kẹo bằng bếp gì?
– Bếp than tổ ong ạ.
Cụ lắc đầu, quay vào, không nói thêm gì.
Mẻ đầu tiên hỏng.
Kiệm nấu ở sân sau nhà u, trên cái bếp than tổ ong ba hòn, cái chảo gang của u đặt lên trên. Nha với đường kính theo đúng tỉ lệ ông Cự dạy, thêm chút nước gừng giã. Anh đứng khuấy, chờ cho nha sủi những cái bong bóng to, chậm, rồi nhỏ một giọt vào bát nước lạnh. Giọt nha chìm xuống, đông lại thành một cục mềm, bóp vẫn lún.
Anh chờ. Nhỏ một giọt nữa. Vẫn lún. Anh chờ lâu hơn. Cái bếp than tổ ong cứ đỏ đều đều, không to lên được. Một tiếng rưỡi sau, giọt nha cuối cùng nhỏ vào nước mới hơi cứng, anh đổ lạc rang vào, trộn, đổ ra mâm, cán phẳng. Đến lúc nguội, cắt ra, bỏ vào miệng một miếng.
Nó dính răng như keo dán.
Mẻ thứ hai, anh chuyển sang bếp rơm, chụm thật to cho lửa bốc lên ôm cả đáy chảo. Nha sôi nhanh, sủi ầm ầm, và trong lúc anh quay đi lấy cái bát nước thì một mùi khét bốc lên. Nha cháy ở đáy chảo, đen như hắc ín. Cả cái sân sau thơm nồng mùi đường cháy, bà Sáu mắm bên kia tường thò cổ sang hỏi nhà ai rang cà phê.
Mẻ thứ ba thì nha được, nhưng lạc rang không đều, hạt sống hạt cháy lẫn lộn, cắn vào có hạt giòn có hạt bùi nhũn.
Kiệm ngồi trên bậc thềm, nhìn ba cái mâm kẹo hỏng. Anh biết từng bước. Hai bàn tay anh biết từng động tác. Nhưng cái anh không biết là xưởng ông Cự có cái lò gạch xây riêng, lửa than đá đều như máy, có cái chảo gang đáy dày gấp đôi chảo này. Cái mà hai bàn tay anh nhớ là ba mươi năm sau, trong một cái xưởng của người khác.
Cụ Đoài đã biết điều đó. Cụ nhìn anh một cái là biết.
Gấm từ trong nhà đi ra, ngồi xuống cạnh anh, bẻ một miếng kẹo dính ở mẻ đầu, nhai, rồi nhăn mặt.
– Ngọt. – Cô nói. – Nhưng dính.
– Lửa không đủ.
– Thế thì làm lửa cho đủ.
Kiệm nhìn vợ. Cô bẻ thêm một miếng nữa, cái miếng ở mẻ thứ ba, nhai, rồi nhổ một hạt lạc cháy ra lòng bàn tay.
– Hồi ở xí nghiệp, men vẽ xong phải cho vào lò. – Cô nói. – Lò nóng không đều thì cái bát đầu lò chảy men, cái bát cuối lò còn sống. Anh đốt lò bảy năm, anh biết hơn em.
Anh biết. Anh đã quên mất là mình biết.
Ngày hôm sau, anh đắp một cái lò đất ở góc sân sau, kiểu lò cụ Đoài, thấp, dài, có ống khói bằng ống bơ nối lại, đốt bằng củi đã chẻ nhỏ. Lò đất giữ nhiệt, lửa không bốc lên rồi tắt như lửa rơm. Để rang lạc, anh xuống bến Lăng xúc một bao cát sông, sàng ba lần cho sạch, rửa, phơi khô. Ông Cự rang lạc bằng cát: cát nóng ôm lấy từng hạt lạc, chín đều từ ngoài vào trong, không hạt nào cháy.
Mẻ thứ tư, nha nhỏ vào bát nước lạnh đông lại thành sợi, anh cầm sợi nha lên bẻ, nó gãy đánh tách, như bẻ một que kem.
Tơ giòn. Ông Cự gọi thế.
Anh đổ lạc rang vào, trộn nhanh tay, đổ ra cái mâm nhôm đã quét một lượt dầu lạc, lấy cái ống tre lăn phẳng. Kẹo còn ấm, vàng sẫm như mật ong, lạc nằm chen trong đó từng hạt nguyên vẹn.
– Cắt đi. – Anh nói, đưa con dao phay cho Gấm.
Gấm cầm dao. Cô nhìn mâm kẹo một lúc, cái nhìn mà anh nhớ đã thấy ở xí nghiệp, khi cô cầm cái bát trắng trên tay, xoay một vòng, tính xem bông hoa sẽ đặt ở đâu. Rồi cô cắt. Một nhát dọc, một nhát ngang, đều như kẻ chỉ. Mỗi miếng kẹo vuông bằng hai đốt ngón tay, không miếng nào to hơn miếng nào.
Anh bẻ một miếng, bỏ vào miệng. Giòn. Ngọt mà không gắt. Mùi gừng ấm ở cuống lưỡi, rồi đến vị bùi của lạc bãi. Anh nhai chậm, và có một lúc anh không ở cái sân sau nhà u nữa mà đứng trong cái xưởng chật chội của ông Cự, năm 2011. Ông cụ bẻ một miếng kẹo anh vừa cắt, nhai, rồi gật đầu một cái, không khen.
– Anh học ở đâu? – Gấm hỏi.
Kiệm nuốt miếng kẹo.
– Hồi đi lò, có ông thợ cả quê Thịnh Khê. – Anh nói. – Ông ấy hay kể.
– Ông thợ cả nào? Ông Lự à?
– Ừ.
– Ông Lự quê Thanh Hóa mà. – Gấm nói.
Anh không đáp. Gấm nhìn anh một lúc, rồi cúi xuống, nhặt những miếng kẹo vụn ở mép mâm bỏ vào cái bát, không hỏi nữa. Nhưng anh biết cô đã cất câu ấy đi đâu đó, như cô cất tờ giấy bạc vào cái hộp sắt dưới gầm giường.
U không nói gì khi ăn thử. U ăn một miếng, nhai rất lâu, rồi uống một ngụm nước chè, rồi ăn thêm một miếng nữa. Rồi u đi vào trong buồng.
Sáng hôm sau, u mang theo ra chợ một cái mẹt nhỏ, trên đó xếp chừng hai cân kẹo, phủ cái khăn mặt trắng. U đặt cái mẹt ở góc gian hàng, cạnh cái cân đĩa, không rao, không bày ra trước.
Chín giờ sáng, u về nhà lấy cái cân đĩa thứ hai. Mười giờ, u lại về, bảo Gấm gói thêm.
– Bà Sáu mua một cân cho các cháu. – U nói, không nhìn ai. – Bà ấy bảo kẹo của mày không dính răng giả.
Bà Sáu mắm năm mươi bảy tuổi, mất một nửa hàm răng, đeo hàm giả bằng nhựa hồng. Kiệm biết vì kiếp trước, năm 1995, bà đã cắn phải miếng kẹo lạc dỏm của ai đó và gãy đôi cái hàm, khóc ầm ĩ ở giữa chợ.
Cả tháng Chạp, cái lò đất ở góc sân sau đỏ lửa từ bốn giờ sáng.
Kiệm rang lạc, nấu nha. Gấm đi làm ở xí nghiệp đến trưa, chiều về thì cắt kẹo. Hai bà hàng xóm bóc lạc hồi tháng Chín giờ ngồi gói kẹo, mỗi miếng một mảnh giấy bóng kính, vặn hai đầu như cái kẹo trong hiệu bánh. Anh trả công gói theo cân, trả cuối mỗi buổi. Hai tạ lạc hạt nhỏ chất ở góc nhà từ tháng Mười một vơi dần, đến giữa tháng Chạp thì phải sang Bồ Xuyên mua thêm của những nhà còn để dành lạc giống.
Ngày chín tháng Một năm 1993, anh lên Hà Nội mua giấy bóng kính và đường kính ở phố Hàng Đường. Trên đường về, anh rẽ qua cái ngõ gần chợ Bắc Qua, để lại cho bà Duệ một gói kẹo nửa cân, gói trong giấy báo.
– Cái gì đây? – Bà Duệ hỏi, không mở.
– Kẹo lạc cháu nấu, bằng lạc bãi bà vẫn mua. Bà ăn thử.
Bà Duệ đặt gói kẹo lên cái bàn gỗ, cạnh cái bàn tính, ngón cái vẫn đẩy tràng hạt.
– Tôi không ăn kẹo. – Bà nói. – Răng tôi không ăn được.
Kiệm không nói gì. Anh để gói kẹo đấy rồi về.
Hai mươi tư tháng Chạp năm Nhâm Thân, thứ Bảy ngày mười sáu tháng Một năm 1993, chợ Vạn Lăng đông như chưa từng đông. Người ta đổ về từ khắp các xã quanh thị xã, gánh gà, gánh lá dong, gánh hoa đào. Lối đi giữa các dãy hàng chật đến mức không xoay được người. Tiếng rao, tiếng mặc cả, tiếng gà quác, tiếng trẻ con khóc vì lạc mẹ.
U bày kẹo ra một cái bàn kê ở trước gian hàng, bốn mươi cân, gói sẵn từng túi nửa cân, một cân. Mười hai nghìn một cân.
Đến mười một giờ trưa, cái bàn trống trơn. Một bà ở xã Đồng Khê đến muộn, đứng trước cái bàn trống mà kêu như mất của. Bà bảo con dâu bà mua ở đây hôm qua, cả nhà ăn hết trong một buổi tối.
U ngồi trên cái ghế đẩu cao, đếm tiền. U đếm hai lần. Rồi u đưa cả xấp cho Kiệm, không đếm lần thứ ba.
– Mai nấu thêm. – U nói. – Bà Đồng Khê đặt năm cân. Bà Sáu đặt thêm hai cân. Cô giáo trường cấp một đặt ba cân biếu Tết.
Kiệm cầm xấp tiền. Anh chưa kịp cất thì từ phía bến xe có một thằng thanh niên chạy vào, len qua đám người, cái áo đồng phục phụ xe khách bạc màu, trán đẫm mồ hôi.
– Anh Kiệm phải không? Anh Kiệm con bà Tươi?
– Phải.
Thằng phụ xe rút trong túi áo ra một mảnh giấy gập tư, chữ viết bằng bút chì, nét chữ cứng như chữ kế toán ngày xưa.
– Bà Duệ ở chợ Bắc Qua nhắn. Em đi chuyến sớm, bà ấy đứng chờ ở bến Long Biên đưa tận tay.
Kiệm mở tờ giấy. Có ba dòng:
Kẹo cậu nấu ăn được. Lấy hai tạ. Giao trước hai mươi tám Tết, tôi trả chín nghìn một cân.
Anh đọc lại một lần nữa. Hai tạ. Giao trước hai mươi tám Tết. Hôm nay là hai mươi tư.
Bốn ngày. Hai trăm cân kẹo. Cái lò đất ở góc sân sau, cả tháng Chạp đỏ lửa từ bốn giờ sáng, mới làm ra được hơn một tạ.
— Hết chương 7 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe