Chương 4: Ngõ chợ Bắc Qua
Cái đèn ông sao năm cánh, khung bằng nan tre vót mỏng, dán giấy bóng kính đỏ, ở giữa có một cái đế bằng nắp hộp sữa để cắm nến. Kiệm làm nó trong một buổi chiều, ngồi ở bậc thềm, con dao nhíp của bố đặt bên cạnh.
Năm cánh sao phải bằng nhau. Bố anh dạy thế. Nan tre phải vót đến lúc uốn cong không gãy, rồi đo bằng một sợi chỉ, cánh nào dài hơn thì cắt bớt. Nếu năm cánh không bằng nhau, đèn treo lên sẽ nghiêng, nến chảy về một bên, cháy giấy. Anh đã quên mất bài học ấy suốt ba mươi năm, cho đến khi hai bàn tay anh cầm nan tre lên và nhớ lại trước cả cái đầu.
Gấm đứng ở cửa bếp nhìn anh làm từ lúc nào anh không biết.
– Anh làm đèn cho con à?
– Ừ.
– Năm ngoái anh có làm đâu.
– Năm ngoái con ba tháng. – Anh nói. – Nó biết gì mà làm.
Gấm không đáp. Cô ngồi xuống bậc thềm bên cạnh anh, cầm một cái nan lên xem, rồi lấy sợi chỉ đo hộ anh cái cánh thứ năm. Nó dài hơn cánh thứ tư chừng một đốt ngón tay. Cô chỉ vào đấy, không nói.
Anh cắt bớt. Gấm cầm cái đèn lên, xoay một vòng dưới ánh nắng chiều. Năm cánh đỏ in xuống nền gạch thành một ngôi sao đỏ hơn.
– Bố anh dạy anh à? – Cô hỏi.
– Ừ.
– Anh chưa bao giờ kể.
Kiệm nhìn ngôi sao đỏ trên nền gạch. Anh chưa bao giờ kể thật. Năm hai mươi lăm tuổi, anh xấu hổ vì bố mình chỉ là một ông thủ kho thật thà, cả đời không làm ra tiền. Năm năm mươi lăm tuổi, anh xấu hổ vì đã từng xấu hổ như thế.
– Bố anh làm cho anh đến năm mười hai tuổi. – Anh nói. – Năm nào cũng một cái. Năm nào cũng năm cánh bằng nhau.
Tối ấy là rằm tháng Tám. Trăng lên khỏi mái chợ to như cái mâm đồng. U bày ra hiên một mâm nhỏ: một quả bưởi, mấy quả hồng đỏ, một cái bánh nướng chia làm tư, một đĩa lạc rang. Kiệm thắp ngọn nến trong đèn ông sao, cầm cái cán tre dài cho cái Hến nắm. Con bé không biết cầm, cứ đưa đèn lên miệng định gặm, Gấm phải cầm hộ tay con. Ngôi sao đỏ lắc lư đi ra cổng, đi vào sân, đi quanh cây nhãn, theo tiếng cười của con bé.
Ngoài ngõ, bọn trẻ con nhà bên rước đèn đi qua, hát bài rước đèn tháng Tám, đánh trống bằng cái hộp sắt. Cái Hến nghe tiếng trống thì vỗ tay, đánh rơi cả đèn. Kiệm nhặt lên, nến vẫn cháy.
U ngồi trên bậc thềm, bóc lạc rang ăn, nhìn ba người, không nói gì. Đến lúc cái Hến ngủ gục trên vai mẹ, u mới bảo:
– Bố mày mà thấy thì bố mày bảo cái cánh thứ ba hơi vẹo.
– Gấm đo rồi u ạ.
– Thì nó vẫn vẹo. – U đứng dậy, phủi vỏ lạc khỏi vạt áo. – Đi ngủ sớm đi, mai mày đi Hà Nội.
Năm giờ rưỡi sáng thứ Bảy, bến xe Vạn Lăng đã đông như phiên chợ. Xe khách đi Hà Nội là một chiếc xe ca cũ sơn hai màu xanh trắng, đã bong từng mảng để lộ lớp sơn đỏ ở bên dưới. Mui xe có giá sắt chất đầy bao tải, lồng gà, xe đạp. Phụ xe đứng trên mui, chân dạng ra, kéo hàng lên bằng một sợi dây thừng, miệng thì gào tên các bến đỗ dọc đường như hát.
Kiệm đưa ba bao lạc nhân lên mui, mỗi bao gần năm mươi cân. Tiền hàng tính theo bao. Tiền người sáu nghìn đồng. Anh chen vào ngồi ở hàng ghế cuối, cạnh một bà ôm cái thúng trứng vịt và một ông bộ đội về phép, hai đầu gối bị ép vào lưng ghế trước.
Trước khi xe chạy, anh mua một gói xôi lạc ở cái quán cóc bên cổng bến. Người bán là Duyến, vợ thằng Khảm. Cô buộc tóc bằng cái chun đỏ, đôi mắt sưng như mất ngủ.
– Chú Kiệm đi đâu sớm thế?
– Đi Hà Nội. Thằng Khảm đâu?
Duyến gói xôi vào lá chuối, buộc lạt, tay hơi chậm.
– Anh ấy theo ông Tòng lên Lạng Sơn từ hôm thứ Hai. Xin hợp tác xã nghỉ ba ngày. Hẹn thứ Năm về. – Cô đưa gói xôi cho anh. – Hôm qua anh ấy gọi điện về bưu điện nhắn, bảo hàng đang bị giữ ở trạm, ông Tòng ở lại lo, chắc vài hôm nữa.
Kiệm cầm gói xôi, ấm tay.
– Bị giữ thế nào?
– Em không biết. Anh ấy bảo không sao. – Duyến cười, một cái cười mỏng. – Anh ấy lúc nào cũng bảo không sao.
Phụ xe gào lên đến bến cuối, xe nổ máy rung bần bật. Kiệm leo lên xe, ngồi xuống, bóc gói xôi mà không ăn được.
Đường lên Hà Nội năm 1992 dài ba tiếng. Đường nhựa vá chằng vá đụp, có đoạn ổ gà to như cái chậu. Xe qua một bến phà, mọi người phải xuống đi bộ lên phà, đứng nhìn chiếc xe ca từ từ bò lên sàn sắt. Kiệm đứng ở mép phà, sau lưng mọi người, cách lan can hai bước.
Xe về đến bến xe dưới chân cầu Long Biên lúc gần chín giờ. Anh thuê một ông xe thồ chở ba bao lạc, còn anh đi bộ bên cạnh. Ông xe thồ hỏi đi đâu. Anh bảo đi vào cái ngõ cạnh chợ Bắc Qua, chỗ có nhà buôn lạc. Ông xe thồ nhìn anh như nhìn thằng nhà quê.
– Ngõ cạnh chợ Bắc Qua thì có ba cái. Nhà buôn lạc thì có mười nhà. Anh tìm ai?
– Bà Duệ.
– Duệ nào?
Kiệm không biết họ của bà. Năm 2010, người ta chỉ gọi bà là cụ Duệ.
– Một bà khoảng năm mươi tuổi. – Anh nói. – Buôn lạc nhân, đỗ, đường mật. Chắc là có kho.
Ông xe thồ nhổ toẹt bãi nước bọt, đạp xe đi, không nói biết hay không biết.
Ngõ thứ nhất là ngõ bán đường phèn và mứt. Ngõ thứ hai có hai nhà buôn lạc, một ông và một bà. Bà kia ngoài sáu mươi, mắt kém, ngồi sau cái cân bàn mà đọc số phải cúi sát. Không phải. Kiệm đứng ở đầu ngõ thứ ba, mồ hôi ướt lưng áo. Nếu không phải ở đây, anh sẽ phải bán ba bao lạc cho một trong mười nhà kia, với cái giá người ta trả cho một thằng nhà quê không quen ai.
Ngõ thứ ba hẹp, chỉ vừa một cái xe thồ, hai bên là những dãy nhà ống thấp có cửa gỗ lùa. Nhà thứ năm bên trái mở toang cửa, bên trong chất bao tải lên đến tận trần. Ở cửa có một cái bàn gỗ, trên bàn một cái bàn tính, một cái ca nhôm đựng nước chè. Ngồi sau cái bàn là một người đàn bà gầy, tóc búi tó củ hành, áo cánh trắng cổ tròn, đang lần một chuỗi hạt gỗ trong tay trái, tay phải gẩy bàn tính lách cách.
Kiệm đứng yên.
Bà trẻ hơn trong trí nhớ của anh mười tám tuổi, nhưng cái cách bà lần tràng hạt thì không đổi một chút nào. Ngón cái đẩy một hạt, dừng, đẩy một hạt, dừng, đều như nhịp tim.
– Ông thồ hàng vào hay ông đứng chắn cửa nhà tôi? – Bà Duệ hỏi, không ngẩng lên.
Bà không hỏi giá trước. Bà bảo đổ một ít ra cái mẹt.
Kiệm cởi miệng bao, đổ ra một vốc. Bà Duệ đặt bàn tính xuống, nhưng tay trái vẫn giữ chuỗi hạt. Bà bốc một nắm lạc lên lòng bàn tay, đưa lại gần mắt, rồi dàn mỏng ra trên mặt mẹt bằng mấy ngón tay xương xẩu. Bà nhặt ra một hạt vỡ đôi, đặt sang một bên. Rồi một hạt nữa. Rồi một hạt nữa. Rồi bà ngừng.
– Lạc bãi. – Bà nói. – Bãi nào?
– Bồ Xuyên, bên kia sông Lăng ạ.
– Hạt đều. Khô. Không mốc. – Bà nói từng tiếng như đọc biên bản. – Nhưng bóc tay, người bóc ẩu, lẫn hạt vỡ. Ba phần trăm. Hạt vỡ thì tôi không bán được giá hạt nguyên.
– Có một người bóc không vỡ hạt nào. – Kiệm nói. – Lần sau cháu để người ấy bóc hết.
Bà Duệ ngẩng lên nhìn anh lần đầu tiên. Đôi mắt nhỏ, sắc, mi mắt sụp xuống một nửa như con mèo nằm phơi nắng.
– Ai mách cậu đến đây?
– Bác lái xe khách ạ. – Anh nói dối.
Bà Duệ hừ một tiếng ở mũi. Không biết là tin hay không tin. Bà quay vào trong gọi một cậu làm thuê mười bảy, mười tám tuổi ra khuân ba bao lạc lên cái cân bàn sắt đặt sát tường. Bà đọc số, không cần cúi. Bốn mươi sáu cân. Bốn mươi bảy cân rưỡi. Bốn mươi bảy cân. Trừ bì bao. Một trăm ba mươi chín cân.
– Cậu cân ở nhà bao nhiêu?
– Một trăm bốn mươi ạ.
– Hụt một cân là bao tải nó ăn. – Bà nói. – Được. Cậu cân đúng. Người dưới quê mang hàng lên đây ít ai cân đúng, toàn hơn ba bốn cân, bảo là lạc nó khô dọc đường.
Rồi bà báo giá. Bốn nghìn bảy.
– Năm nghìn ạ. – Kiệm nói.
– Bốn nghìn bảy là vì hạt vỡ.
– Năm nghìn, và lần sau không có hạt vỡ. Nếu có hạt vỡ thì bà trả cháu bốn nghìn rưỡi.
Bà Duệ nhìn anh lâu hơn lần trước. Ngón cái đẩy hai hạt tràng hạt liền một lúc.
– Lần sau? – Bà hỏi. – Cậu định mang lên đều à?
– Tuần một chuyến. Hết vụ lạc thu.
– Tôi nói trước. – Bà gẩy bàn tính, không nhìn anh nữa. – Tôi lấy đều. Tôi trả tiền ngay, không bao giờ nợ ai đến chiều. Nhưng hàng sai một lần là thôi. Ẩm một lần, mốc một lần, thiếu cân một lần, là cậu đừng vào cái ngõ này nữa. Tôi không có lần thứ hai cho ai.
– Vâng.
– Năm nghìn.
Bà đếm tiền ra mặt bàn, những tờ năm nghìn, tờ hai nghìn, tờ năm trăm nhàu nát, xếp thành từng xấp nhỏ theo từng loại. Sáu trăm chín mươi lăm nghìn đồng. Bà bảo anh đếm lại trước mặt bà. Anh đếm. Đủ.
Lúc anh nhét tiền vào túi áo trong, bà Duệ hỏi một câu, không đầu không cuối:
– Cậu có biết chữ không?
– Có ạ.
– Thế thì lần sau mang cái giấy ghi cân ở nhà lên đây. – Bà nói. – Tôi muốn xem người dưới quê cân bằng cái gì.
Anh ăn một bát phở ở một quán vỉa hè đầu phố, hai nghìn rưỡi một bát, nước dùng trong và ngọt. Năm 2010 anh cũng ăn phở ở đúng cái góc phố này, giá hai mươi lăm nghìn, ngồi trên cái ghế nhựa xanh y hệt, sau một đêm vác hàng. Hồi ấy anh nghĩ đời mình hết rồi. Bây giờ anh ngồi ăn bát phở hai nghìn rưỡi, trong túi có gần bảy trăm nghìn đồng, và anh không nuốt nổi mấy miếng cuối cùng vì cổ họng nghẹn lại.
Xe về đến bến Vạn Lăng lúc sáu giờ tối. Trời đã nhá nhem, đèn đường chưa bật vì đang đến giờ cắt điện. Quán xôi của Duyến đã dọn, chỉ còn cái chõng tre và cái thùng xốp. Duyến ngồi trên chõng, ôm cu Bờm hai tuổi trong lòng.
Đứng trước mặt cô là hai thằng thanh niên mặc áo ba lỗ, một thằng cầm cái cơ bi-a gõ gõ xuống đất.
– Chị bảo anh Khảm, – thằng cầm cơ nói, giọng không to, – ông Tạo hỏi bao giờ anh ấy về. Hôm thứ Năm hẹn trả lãi tuần, giờ là thứ Bảy rồi.
Duyến nhìn thấy Kiệm từ xa. Cô không gọi anh. Cô chỉ ôm con chặt hơn.
— Hết chương 4 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe