Chương 10: Trả lại ba cân
Gấm cộng đến hai giờ sáng.
Cô trải cả tập giấy học trò ra trên cái bàn gỗ gian giữa, xếp theo ngày. Từ tờ đầu tiên đề ngày sáu tháng Chín năm 1992 với chữ ký to, run của bà Hòe, đến tờ cuối cùng đề ngày hai mươi lăm tháng Chín năm 1993. Ba trăm mười một tờ. Có tờ đã nhòe vì nước, có tờ dính vết dầu lạc. Cô đọc từng tờ, cộng số cân bằng cách nhẩm, cứ hai mươi tờ thì ghi một con số ra lề tờ báo cũ.
Kiệm ngồi đối diện, không giúp được gì. Anh đã kể cho cô nghe hết, từ cái kim cân bàn run run ở vạch năm mươi ba rưỡi đến cái khăn mùi xoa thêu chữ C ở đáy rương. Cô nghe không ngắt lời câu nào. Nghe xong, cô chỉ hỏi một câu: Anh định trả bao nhiêu. Rồi cô ngồi xuống cộng.
– Mười tấn năm trăm hai mươi cân. – Cô nói, đặt bút xuống. – Ba phần trăm là ba trăm mười lăm cân. Giá lạc bây giờ hai nghìn bảy. Tám trăm năm mươi nghìn đồng.
Kiệm nhìn con số trên lề tờ báo. Trong cái hộp sắt dưới gầm giường có sáu triệu. Tám trăm năm mươi nghìn không làm anh nghèo đi. Anh biết điều đó, và chính điều đó làm anh thấy tệ hơn.
– Tiền thì trả được. – Gấm nói, như đọc được ý anh. – Cái khó không phải tiền.
– Ừ.
– U thì sao?
Anh không trả lời. Trong buồng, u nằm quay mặt vào tường từ lúc rời mâm cỗ, không ăn, không nói. Cái Hến ngủ bên cạnh bà, một tay vắt lên lưng bà.
– Anh không nói tên u. – Kiệm nói. – Anh nói cân nhà mình sai.
– Người ta sẽ biết. – Gấm nói. – Cân ấy ai chả biết là cân của u.
– Thì người ta biết. – Anh nói. – Nhưng không phải anh nói.
Gấm nhìn anh một lúc lâu. Rồi cô thu gọn tập giấy, buộc lại bằng sợi chun, đặt ngay ngắn giữa bàn.
– Em đi với anh. – Cô nói.
Sáng hôm sau, u không ra chợ.
U dậy từ bốn giờ như mọi ngày, nấu nồi cơm, quét sân, rồi ngồi ở bậc thềm sân sau, không đi đâu. Lúc Kiệm buộc cái cân bàn lên yên sau xe đạp, cái cân đòn khoác trên vai, u nói một câu, không ngẩng lên.
– Mày muốn làm gì thì làm. – U nói. – Đừng nói tên tao.
– Con không nói.
– Mày không nói thì người ta cũng nói. – U nhặt một cái lá nhãn rụng trên bậc thềm, xé đôi, xé tư. – Bốn mươi năm tao ngồi cái chợ ấy.
Kiệm đứng ở cổng. Anh muốn nói một câu gì đó, một câu cho u, nhưng không câu nào ra. Năm mươi lăm tuổi, anh vẫn không biết nói gì với u. Kiếp trước, anh đã có ba mươi năm để học, và anh đã không học.
Đò ông Khuể đưa hai vợ chồng sang bãi lúc bảy giờ. Bà Hòe nghe Kiệm nói xong, không hỏi một câu, gọi người ra sân nhà bà bằng cách đứng ở đầu ngõ hét lên ba tiếng. Đến chín giờ sáng, cái sân đất nện của bà đã có hơn hai chục người, đàn ông đàn bà, có người bế con, có người còn cầm cái cào lạc. Có những khuôn mặt Kiệm đã gặp hàng chục lần trong năm qua, có những khuôn mặt anh chưa thấy bao giờ.
Anh đặt cái cân bàn giữa sân. Treo cái cân đòn lên đòn gánh, một đầu vai anh, một đầu vai thằng Lũng. Gấm đứng bên cạnh, ôm tập giấy học trò trong lòng như ôm một đứa trẻ.
Anh không nói gì trước. Anh lấy một bao lạc của nhà bà Hòe, móc vào cân đòn, kéo quả cân đồng cho đến lúc đòn nằm ngang. Bà Hòe cúi xuống đọc vạch. Năm mươi cân.
Rồi anh đặt cái bao ấy lên cân bàn. Kim quay một vòng, dừng ở năm mươi mốt rưỡi.
Cả sân im. Có người cúi xuống nhìn cái kim, rồi ngẩng lên nhìn cái cân đòn. Rồi lại cúi xuống nhìn cái kim.
– Cân nhà tôi sai. – Kiệm nói.
Anh nói to, đủ để người đứng ở cổng cũng nghe thấy. Anh đã định nói nhiều hơn. Anh đã nghĩ suốt đêm qua những câu sẽ nói. Nhưng bây giờ đứng giữa sân, trước hơn hai chục khuôn mặt, anh chỉ còn lại mấy câu.
– Một tạ thiếu ba cân. Từ tháng Chín năm ngoái đến bây giờ, tôi mua của các bác các chú bao nhiêu, giấy còn đây. Tôi trả lại phần thiếu, tính theo giá hôm nay.
Không ai nói gì. Một con gà mái từ trong bếp chạy ra, cục tác, rồi chạy vào.
– Cân nhà bà Tươi à? – Ông Thục xóm dưới hỏi, giọng khàn.
– Cân nhà tôi. – Kiệm nói.
Ông Thục nhìn anh. Ông không hỏi thêm. Ông không cần hỏi.
Gấm mở tập giấy. Cô đọc tên từng nhà, số cân, số tiền phải trả, giọng rõ và đều, như đọc danh sách lĩnh lương ở xí nghiệp. Kiệm đếm tiền. Người ta lên nhận, từng người một. Có người cầm tiền, đếm lại, gật đầu, đi về không nói gì. Có người cầm tiền rồi đứng yên tại chỗ, nhìn anh lâu, như nhìn một con vật lạ. Một bà còn trẻ cầm tiền xong thì bật cười, cái cười ngượng nghịu, rồi bảo: Thế mà nhà em cứ tưởng lạc nhà em nó nhẹ.
Đến lượt một bà già lưng còng, tóc bạc trắng, mặc áo nâu vá vai. Gấm đọc tên. Bà Nhỡ, xóm Cuối Bãi. Một bao, ba mươi tám cân. Thiếu một cân một lạng. Ba nghìn đồng.
Bà Nhỡ cầm món tiền, một tờ hai nghìn với một tờ một nghìn, nhìn nó. Rồi bà nhìn Kiệm.
– Cái cân này, – bà nói, chậm, giọng run, – tôi bán đỗ cho nó từ năm tám bảy. Năm nào cũng bán. Đỗ xanh, đỗ đen, lạc, vừng. Bảy năm. Bảy năm ấy thì ai trả?
Kiệm đứng im. Cả sân im theo.
– Phần ấy cháu không có giấy. – Anh nói. – Cháu không trả được hết. Bà nhớ được bao nhiêu, cháu xin trả bấy nhiêu.
– Tôi nhớ được bao nhiêu? – Bà Nhỡ cười, một cái cười không có răng. – Tôi bảy mươi tuổi rồi, cậu ạ. Tôi nhớ năm nào mất mùa, năm nào được mùa. Tôi không nhớ được tôi bán bao nhiêu cân đỗ cho mẹ cậu.
Bà đặt hai tờ bạc lên mặt cái cân bàn, ngay chỗ người ta đặt bao lạc.
– Tiền này tôi không cầm. – Bà nói. – Từ nay tôi không bán cho nhà cậu nữa.
Bà quay đi, chậm, cái lưng còng lắc lư ra đến cổng. Hai ba người nữa đi theo bà. Một người trong số đó cầm tiền, nhưng ra đến cổng thì quay lại nói: Tiền thì tôi cầm, vì tiền ấy của tôi. Nhưng đừng sang xóm tôi nữa.
Kiệm nhặt hai tờ bạc trên mặt cân bàn lên, gấp chung làm tư, đưa cho Gấm. Gấm cất nó vào một túi riêng.
Bà Hòe là người cuối cùng.
Gấm đọc: Bà Phạm Thị Hòe, thôn Bãi Giữa. Hai mươi chín lần bán. Hai tấn một trăm bốn mươi cân. Thiếu sáu mươi bốn cân. Một trăm bảy mươi hai nghìn tám trăm đồng.
Bà Hòe đứng ở bậc hiên từ đầu đến giờ, khoanh tay, không nói câu nào. Bây giờ bà bước xuống, đứng trước mặt Kiệm, chìa tay ra. Anh đếm tiền vào lòng bàn tay bà. Bà đếm lại, chậm, hai lần.
Rồi bà rút ra một nửa, đặt trả vào tay anh.
– Phần này cậu cầm lại. – Bà nói.
– Bác ơi…
– Tôi chưa nói xong. – Bà Hòe gắt. – Tôi không cho cậu. Tôi góp với cậu. Cậu làm kẹo, cậu cần vốn, coi như nhà tôi góp tám mươi sáu nghìn. Cuối năm cậu chia lãi cho tôi, bao nhiêu thì tùy cậu.
Bà quay sang cái cân bàn ở giữa sân, gõ gõ ngón tay vào cái đồng hồ kim.
– Còn cái này thì để lại đây. Từ nay cậu cân bằng cái này. Để giữa sân nhà tôi. Ai bán thì tự đứng xem kim. Cậu không phải đọc hộ ai cả.
Kiệm nhìn bà. Bà Hòe năm mươi mốt tuổi, mặt đen sạm, cái áo bà ba nâu đã bạc vai, hai bàn tay to như hai cái mo cau. Bà đứng giữa sân nhà mình, trước mặt cả xóm, như một người vừa phân xử xong một vụ tranh chấp ruộng.
– Bác biết từ bao giờ? – Anh hỏi khẽ.
Bà Hòe không trả lời ngay. Bà nhìn ra ngoài cổng, phía con đê bối, nơi bà Nhỡ vừa đi khuất.
– Năm tám tám. – Bà nói. – Năm tám tám đói giáp hạt, cả cái bãi này không ai có gạo. Tôi gánh hai thúng đỗ sang chợ, đi từ hàng này sang hàng khác, không ai mua, người ta bảo chờ sau vụ. Mẹ cậu mua. Mẹ cậu trả tiền ngay, không khất một ngày. Hôm ấy tôi về, tôi lấy cái cân treo của nhà tôi ra cân lại hai cái thúng không. Tôi biết. – Bà nhìn Kiệm. – Tôi biết mà tôi vẫn bán. Năm ấy không có tiền của mẹ cậu thì thằng Lũng chết đói.
Kiệm không nói được gì. Thằng Lũng đứng ở góc sân, mặt cúi gằm, hai tay vặn vặn vạt áo.
– Thôi, cậu về đi. – Bà Hòe nói, quay vào nhà. – Về mà bảo mẹ cậu, tôi không giận bà ấy. Nhưng tôi cũng không quên.
Ở bến, đò ông Khuể đang chờ khách. Trên đò đã có một người ngồi ở mạn, áo sơ mi trắng cài kín cúc cổ, cái cặp giả da trên đầu gối. Anh Tòng sang bãi thăm nhà người chị gái lấy chồng bên này, đang về.
Kiệm bước xuống đò, ngồi đối diện anh Tòng. Gấm ngồi ở đuôi, cạnh ông Khuể. Đò rời bãi. Nước sông đầu thu đã trong hơn, xanh xám, chảy chậm.
Anh Tòng nhìn cái cân đòn trên vai Kiệm, rồi nhìn mặt anh. Anh không hỏi gì. Cả bãi đã biết rồi. Ở cái bãi ấy, chuyện từ sân nhà này sang sân nhà kia nhanh hơn đò.
– Anh Tòng. – Kiệm nói.
– Ừ.
– Em xin lỗi anh.
Anh Tòng nhíu mày.
– Chú xin lỗi chuyện gì?
Kiệm mở miệng, rồi ngậm lại. Chuyện gì? Chuyện ba mươi năm anh gọi người đàn ông này là đồ lừa đảo trong một kiếp chưa xảy ra? Chuyện anh đã kể với con gái mình, năm nó mười tuổi, rằng anh Tòng là lý do nhà mình nghèo? Chuyện anh đã chỉ tay vào cái lán ở đầu xóm mà gào lên là có người hại anh?
– Chuyện em nghĩ xấu về anh. – Anh nói.
Anh Tòng nhìn anh một lúc. Rồi anh cười, lần đầu tiên Kiệm thấy anh cười, một cái cười ngắn, khô, như người ho.
– Chú nghĩ gì trong đầu thì tôi biết làm sao được. – Anh nói. – Mà chú có nghĩ xấu thì cũng đúng thôi. Đi buôn với nhau, không nghĩ xấu về nhau mới là lạ.
Anh lấy cái điếu cày bằng trúc ra, vê một điếu thuốc lào, nhưng không châm lửa, chỉ cầm.
– Hôm nay chú làm thế là được. – Anh nói, mắt nhìn ra sông. – Người bãi họ nhớ lâu lắm. Cái gì họ cũng nhớ. Nhớ người lừa họ, mà cũng nhớ người trả lại họ.
Kiệm và Gấm về đến chợ Vạn Lăng lúc gần trưa.
Chợ vẫn đông, tiếng rao, tiếng mặc cả, mùi cá, mùi mắm. Nhưng ở dãy B, gian thứ tư, cánh cửa gỗ lùa đã đóng kín. Một cái khóa sắt to bằng nắm tay khóa trái bên ngoài. Những thúng lạc, thúng đỗ, những bao miến, lọ hạt tiêu, không còn gì bày ra. Cái móc sắt trên xà ngang trống trơn.
Bà Sáu mắm ngồi ở gian bên cạnh, nhìn anh đi tới. Bà không cười như mọi khi.
– Bà Tươi trả gian rồi. – Bà Sáu nói. – Sáng nay mẹ mày lên Ban quản lý chợ, trả lại cái gian. Bốn mươi năm.
Kiệm đứng trước cánh cửa gỗ đã khóa. Gấm đứng sau lưng anh, tay vẫn ôm tập giấy học trò.
– U đi đâu ạ?
– Tao không biết. – Bà Sáu nói. – Mẹ mày trả gian xong thì đi về phía bến xe.
— Hết chương 10 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe