AI Truyện
Cân lại đời mình từ năm 1992

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Chú em không tin anh

Cân lại đời mình từ năm 1992 · Chương 2/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 2: Chú em không tin anh

Anh Tòng không ngồi ghế. Anh ngồi xổm trên bậc thềm, đặt cái cặp giả da lên đầu gối, rút trong túi ra cái điếu cày bằng trúc dài chưa đến gang tay rồi hỏi nhà có thuốc lào không.

Kiệm đi lấy cái lọ thuốc của u. Lúc anh quay ra, Khảm đã kéo cái ghế đẩu ra giữa sân ngồi dạng chân. Anh Tòng đã vê xong một điếu bằng hạt ngô, châm lửa, rít một hơi dài đến mức nước trong ống điếu reo lên như suối. Khói thuốc lào bay lên tán nhãn.

– Chú em ngồi xuống đây. – Anh Tòng nói, giọng chậm, mỗi câu như được cân trước khi nói ra. – Anh nói lại cho chú nghe một lần nữa, rồi chú quyết.

Kiệm ngồi. Anh biết từng câu anh Tòng sắp nói. Ba mươi năm anh đã nhai đi nhai lại từng câu ấy, mỗi lần say lại kể cho người khác nghe. Thêm một ít, bớt một ít, cho đến khi câu chuyện thành một thứ mòn nhẵn như hòn đá dưới suối. Thế mà bây giờ nghe anh Tòng nói bằng giọng thật, anh vẫn thấy lạ.

Bốn mươi chiếc xe đạp khung Trung Quốc, mua ở Lạng Sơn ba trăm năm mươi nghìn một chiếc, về đến Vạn Lăng bán ra năm trăm rưỡi, có khi sáu trăm. Một người quen của anh Tòng ở cửa khẩu đã giữ hàng. Xe tải thuê của một chỗ quen. Đi một chuyến ba ngày, về bán hết trong một tháng. Mỗi người góp vốn lãi gần gấp rưỡi.

– Gấp rưỡi. – Khảm nhắc lại, gõ ngón tay xuống đầu gối mình. – Gấp rưỡi đấy mày ạ. Đi lò bảy năm, mày có bao giờ thấy chữ gấp rưỡi chưa?

– Bây giờ người ta đổ lên Lạng Sơn như đi hội. – Anh Tòng nói. – Chú ra bến xe mà xem, sáng nào cũng có người mang bao tải lên, chiều mang hàng về. Ai nhanh chân thì ăn. Ai chậm thì đứng nhìn.

Kiệm gật đầu. Anh Tòng nói đúng, những năm ấy người ta đổ lên biên giới thật. Có người giàu lên thật. Cái anh không biết là vì sao chuyến hàng của anh Tòng lại không về. Ba mươi năm anh tin rằng nó chưa bao giờ đi, rằng anh Tòng cầm tiền của anh tiêu vào việc khác rồi bịa ra chuyện bị giữ. Anh đã tin điều đó chắc chắn như tin mặt trời mọc ở phía bến đò.

Nhưng bây giờ, ngồi trước người đàn ông gầy gò ba mươi ba tuổi đang rít thuốc lào, anh nhận ra mình chưa bao giờ biết anh Tòng nghĩ gì. Anh chỉ biết mình mất tiền.

– Em không góp nữa, anh Tòng ạ. – Kiệm nói.

Anh Tòng gõ cái điếu cày vào thành bậc thềm cho rơi tàn thuốc. Một lúc lâu anh không nói gì.

– Chú em không tin anh. – Anh Tòng nói. Không phải hỏi.

– Em không tin con đường. – Kiệm đáp. – Đường từ Lạng Sơn về đây dài lắm.

– Đường thì dài, nhưng anh đi rồi. Anh đi ba chuyến rồi.

– Em biết.

– Chú biết gì?

Kiệm không trả lời được. Anh không thể nói: Em biết chuyến này anh sẽ không về. Anh không thể nói: Em đã sống qua cái tháng Chín này một lần rồi. Một người nói những câu như thế, người ta sẽ dắt đi cúng, hoặc dắt lên bệnh viện tỉnh.

– Em không biết gì cả. – Anh nói. – Em chỉ không muốn góp. Tiền ấy là tiền thôi việc. Mất là hết.

Khảm đập đánh bộp vào đùi mình.

– Khỉ gió, mày nói như bà già. Đi buôn mà sợ mất thì đi làm gì? Hôm qua mày còn bảo tao: đời có mấy lần được ăn to.

– Hôm qua tao nói ngu.

Khảm há miệng, rồi phá ra cười. Nó cười to đến mức trong bếp có tiếng bát va vào nhau. Gấm đang đứng sau cánh cửa bếp. Kiệm biết vì anh thấy vạt áo màu cốm.

– Thằng này ốm rồi. – Khảm quay sang anh Tòng. – Anh ơi, nó ốm thật rồi. Thôi, kệ nó. Phần của nó em góp thay.

Nó móc trong túi áo ngực ra xấp tiền buộc chun, đặt lên cái cặp giả da trên đầu gối anh Tòng.

– Một triệu rưỡi. Anh đếm đi.

Anh Tòng không đếm ngay. Anh nhìn Kiệm.

– Chú có muốn nói gì với nó không?

Đó là câu Kiệm không ngờ tới. Ba mươi năm trước, hay ba mươi năm sau, tùy cách người ta đếm, anh Tòng đã không hỏi câu ấy, vì chẳng có ai cần hỏi. Hôm ấy Kiệm đưa tiền, anh Tòng cầm tiền, Khảm ngồi xem và vỗ tay. Khảm không góp đồng nào. Nó bảo nó còn đang nợ, để chuyến sau.

Còn bây giờ nó đã bán xe đạp và cái đài. Tiền nợ của nó đi đâu?

– Mày lấy đâu ra một triệu rưỡi? – Kiệm hỏi.

– Thì tao bảo rồi, bán xe với cái đài.

– Xe với đài của mày bán được bốn trăm là cùng.

Khảm nhún vai. Cái nhún vai của nó lúc nào cũng thế, hai vai nhô lên tận mang tai rồi rơi xuống, như người vừa vứt một bao gì đó.

– Thì vay thêm.

– Vay ai?

– Mày hỏi như công an hỏi cung ấy. Vay ông Tạo. Mười phần trăm một tháng, ba tuần là hàng về, bán xong tao trả gốc trả lãi, còn dư.

Kiệm nhắm mắt lại một lúc. Tạo bi-a. Quán bi-a sau bến xe, ba cái bàn bọc nỉ xanh đã sờn, bóng đèn tuýp lúc nào cũng nhấp nháy. Năm 1992, ông Tạo cho người ta vay mười phần trăm một tháng. Đến năm 1995, ông ta đã có cả một đường dây. Kiệm biết vì chính anh, kiếp trước, đã từng phải ngồi trong cái quán ấy cúi đầu xin khất nợ.

– Mày đừng góp. – Anh nói, chậm và rõ từng tiếng. – Mày đem tiền trả lại ông Tạo đi. Chịu mất mấy ngày lãi thôi.

– Sao tao phải trả?

– Vì tao bảo mày.

Khảm nhìn anh. Có một chút gì đó thoáng qua mặt nó, không phải giận, mà là ngạc nhiên, như người bước hụt một bậc thang trong bóng tối. Rồi nó cười, vỗ vai anh lần thứ hai trong buổi trưa ấy, mạnh hơn.

– Mày sợ thì mày ở nhà. Tao không sợ.

Anh Tòng đếm tiền. Anh đếm bằng ngón cái liếm nước bọt, từng tờ, đếm hai lần, rồi viết một tờ giấy biên nhận trên mặt cặp giả da, chữ nghiêng nghiêng như học trò lớp bảy. Một triệu năm trăm nghìn đồng. Góp vốn chuyến xe đạp Lạng Sơn. Ngày 5 tháng 9 năm 1992. Anh ký, đưa cho Khảm. Khảm gấp tờ giấy làm tư nhét vào túi ngực, chỗ vừa nãy là tiền.

Anh Tòng đứng dậy, phủi đít quần.

– Chú em, – anh nói với Kiệm, – anh không giận. Chú đổi ý thì chú cứ đổi. Đời buôn, người không tin mình thì mình cũng không nên cầm tiền của người ta.

Câu ấy ở lại trong đầu Kiệm rất lâu sau khi tiếng xe máy hai thì đã khuất ngoài đầu ngõ.

Gấm không hỏi gì. Cô cho cái Hến ăn nốt bát bột, rửa bát, rồi ngồi khâu lại cái cúc áo cho anh, cái cúc mà tối qua anh giật đứt khi cãi nhau. Đến lúc cắn chỉ, cô mới nói, mắt vẫn nhìn vào đường kim.

– Anh can thằng Khảm là đúng.

– Nó không nghe.

– Nó có bao giờ nghe ai đâu. – Cô vuốt phẳng vạt áo trên đùi. – Mà anh cũng có nghe ai đâu. Hôm nay anh lạ lắm.

– Lạ thế nào?

Gấm ngẩng lên. Cô nhìn anh như nhìn một bức tranh treo lệch mà không biết lệch về bên nào.

– Anh không cãi. – Cô nói. – Từ sáng đến giờ anh chưa cãi ai câu nào.

Chiều, Kiệm đi ra bến đò.

Từ phố Chợ ra bến Lăng chỉ mười phút đi bộ, theo con đường đất chạy giữa hai hàng tre. Mùa này nước sông Lăng còn đỏ, nặng phù sa, chảy chậm và dày như nước cháo. Bên kia sông là bãi Bồ Xuyên, một dải đất bồi dài hút mắt, chỗ xanh rì là ngô và dâu, chỗ nâu là lạc vừa nhổ đang phơi thành từng luống. Có khói rơm lên ở mấy chỗ. Có tiếng gà gáy trưa muộn vọng sang qua mặt nước.

Kiệm đứng ở đầu bến, trên bậc đá cuối cùng chưa bị nước liếm tới. Anh không xuống thêm bậc nào nữa.

Anh đã không đứng ở bến này hai mươi hai năm. Kể từ một buổi chiều rằm tháng Sáu năm Canh Thìn, khi anh từ Hà Nội về, xe khách dừng ở bến xe lúc tám giờ tối. Người ta chờ anh ở đó, không ai nói gì, chỉ dắt anh đi. Đi qua chợ. Đi qua hai hàng tre. Ra đến đây.

Anh nhìn mặt sông đỏ quạch đang trôi, và anh bắt mình nghĩ sang chuyện khác. Chuyện mà anh làm được.

Một triệu tám trăm nghìn đồng. Anh không biết trước con số nào. Anh không biết đất chỗ nào sẽ lên giá, vì cả đời anh chưa bao giờ có một mảnh đất của riêng mình. Anh không biết người ta sẽ mua bán gì ở sở giao dịch nào, vì những năm người ta nói chuyện ấy ở quán nước, anh đang vác bao ở chợ. Cái anh biết là con người. Anh biết ai sẽ lừa ai, ai sẽ trả nợ ai, ai sẽ chết năm nào. Anh biết những người buôn lạc ở Hà Nội lấy hàng thế nào, trả tiền thế nào, vì anh đã vác hàng cho họ mười năm. Anh biết nấu một mẻ kẹo lạc từ đầu đến cuối mà không cần nhìn.

Và anh biết một điều nữa, điều mà một thằng hai mươi lăm tuổi không bao giờ tin. Tiền làm ra bằng những đồng lãi mỏng, đều đặn, không ai thèm làm, thì lâu mất hơn tiền làm ra một lần gấp rưỡi.

– Anh Kiệm đấy à? Có sang sông không?

Ông Khuể từ dưới đò ngóc đầu lên. Sáu mươi tư tuổi, da đen như gỗ mun, cái quần đùi xanh bộ đội đã phai thành màu cỏ úa, ngồi trên mũi đò rót nước chè xanh từ cái ấm nhôm méo vào cái bát sành. Hồi bé Kiệm vẫn trốn tiền đò của ông, nhảy lên đò lúc ông quay lưng. Ông biết mà không bao giờ nói.

– Cháu không sang. – Kiệm nói. – Cháu ra xem nước.

– Nước thì có gì mà xem. – Ông Khuể nhổ một bãi nước chè xuống sông. – Xem lạc thì có. Bên bãi năm nay lạc được lắm. Hạt to, chắc, không phải lạc lép như năm ngoái.

– Thế thì người ta vui.

– Vui cái gì. – Ông lại nhổ. – Được mùa thì mất giá. Thương lái trên Hà Nội về, thấy nhà nào cũng phơi lạc đầy sân, thế là ép. Sáng nay tôi chở bà Hòe sang chợ, bà ấy bảo người ta trả có hai nghìn hai một cân lạc vỏ. Hai nghìn hai, anh nghĩ xem. Năm ngoái còn ba nghìn. Mà không bán thì để đến tháng Mười mưa xuống, lạc ẩm nảy mầm thì vứt cho lợn.

Kiệm đứng im.

Hai nghìn hai. Lạc vỏ khô bóc ra được bảy phần nhân. Lạc nhân ở Hà Nội, trong cái ngõ gần chợ Bắc Qua mà anh nhớ, người ta mua năm nghìn một cân, có khi hơn. Trừ tiền bóc, tiền xe, tiền đò, vẫn còn lại một ít. Một ít thôi. Không gấp rưỡi. Không gấp đôi. Chỉ một ít, đều đều, từng bao một.

Anh nhớ bà Duệ. Bà cụ bảy mươi hai tuổi ngồi trên cái ghế nhựa ở cửa xưởng ông Cự năm 2010, tay lần tràng hạt, mắt thì nhìn đống lạc nhân người ta đổ xuống mà chỉ ra từng hạt mốc. Bà bảo: Tôi buôn lạc từ thời tem phiếu, trong cái ngõ cạnh chợ Bắc Qua, ba mươi năm không ai lừa được tôi một cân. Rồi bà nhìn Kiệm vác bao mà bảo: Anh này vác khéo, không làm vỡ hạt.

Năm 1992 thì bà năm mươi tư tuổi. Nếu bà nói thật, thì bây giờ bà đang ở đó. Trong cái ngõ ấy.

Nếu bà nói thật. Người già nói về thời trẻ của mình, có mấy ai nói thật.

– Bác Khuể ơi. – Kiệm nói. – Sáng mai bác sang bãi chuyến đầu là mấy giờ?

– Năm giờ. Sao, anh định sang mua lạc à? – Ông Khuể cười, hở cái răng cửa sứt. – Anh lấy cái gì mà mua? Cân thì mượn của bà Tươi chắc?

– Vâng. Mượn của u cháu.

Ông Khuể ngừng cười. Ông nhìn Kiệm một lúc, rồi đặt cái bát sành xuống mạn đò.

– Thế thì sang sớm. – Ông nói. – Bà Hòe bên ấy đanh lắm, nhưng bà ấy bán cho người đến trước.

— Hết chương 2 —

Mục lục Cân lại đời mình từ năm 1992

  1. 1Bao lạc thứ bốn mươi mốt10 phút
  2. 2Chú em không tin anh11 phút đọc
  3. 3Bãi Bồ Xuyên9 phút đọc
  4. 4Ngõ chợ Bắc Qua10 phút đọc
  5. 5Tiền của Khảm11 phút đọc
  6. 6Giá lạc hai nghìn bảy11 phút đọc
  7. 7Mạch nha Thịnh Khê10 phút đọc
  8. 8Hai trăm cân trước giao thừa11 phút đọc
  9. 9Ba cân trong một tạ12 phút đọc
  10. 10Trả lại ba cân11 phút đọc
  11. 11Gian hàng khóa trái10 phút đọc
  12. 12Mùa nồm10 phút đọc
  13. 13Thằng bé có nốt ruồi ở vành tai10 phút đọc
  14. 14Cái kho của bố10 phút đọc
  15. 15Cái Tết không có pháo10 phút đọc
  16. 16Đêm hai mươi bảy tháng Giêng11 phút đọc
  17. 17Chín triệu của Tạo bi-a10 phút đọc
  18. 18Đêm mồng một tháng Chín10 phút đọc
  19. 19Lời khai12 phút đọc
  20. 20Phiên tòa tháng Tư12 phút đọc
  21. 21Nước lên ở bến Lăng10 phút đọc
  22. 22Ông chủ Kiệm10 phút đọc
  23. 23Kẹo bà Tươi giả10 phút đọc
  24. 24Cái cân ở cửa hàng10 phút đọc
  25. 25Mùa khủng hoảng10 phút đọc
  26. 26Quả cân thật9 phút đọc
  27. 27Hợp đồng chín mươi ngày10 phút đọc
  28. 28Họ vỡ10 phút đọc
  29. 29Thứ Bảy không có lương10 phút đọc
  30. 30Những bao lạc không lấy tiền11 phút đọc
  31. 31Khảm về10 phút đọc
  32. 32Nói với Gấm10 phút đọc
  33. 33Rằm tháng Sáu10 phút đọc
  34. 34Người lái đò10 phút đọc
  35. 35Bao lạc không cần cân10 phút đọc
  36. 36Mùng một tháng Chạp năm Nhâm Dần9 phút đọc

Về truyện này

Cân lại đời mình từ năm 1992 là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →