Chương 32: Nói với Gấm
– Ai làm giám đốc? – Gấm hỏi.
Tờ giấy đăng ký thành lập công ty nằm trên cái bàn gỗ gian giữa, mấy ô trống chưa điền. Kiệm đã lên Ủy ban thị xã lấy mẫu từ đầu tháng Mười hai. Luật mới, có hiệu lực từ ngày mồng một tháng Một năm 2000. Ông cán bộ ở phòng một cửa bảo hộ kinh doanh lên công ty bây giờ dễ hơn trước nhiều, không phải xin phép chỗ này chỗ kia, cứ đủ giấy là đăng ký. Ông bảo năm nay người ta lên hỏi nhiều lắm, ai cũng muốn có cái tên công ty in trên danh thiếp.
– Em. – Kiệm nói.
Gấm ngẩng lên.
– Anh nói thật hay anh nói để em thôi giận?
– Nói thật.
Gấm nhìn anh một lúc. Rồi cô cầm bút, gạch một đường dưới ô giám đốc, không điền gì vào.
– Em không làm giám đốc. – Cô nói. – Em giữ sổ. Anh đứng tên giám đốc, anh đi gặp người ta, anh uống rượu với người ta, cái ấy em không làm được. Nhưng công ty hai người góp vốn, mỗi người một nửa. Tiền ra khỏi két từ năm triệu trở lên thì phải có hai chữ ký. Anh ký một, em ký một.
– Ừ.
– Không phải ừ. – Gấm nói. – Anh đọc to lên. Để em biết là anh nghe.
Kiệm cầm tờ giấy nháp cô vừa viết, đọc to từng dòng. Hai người góp vốn. Mỗi người năm mươi phần trăm. Chi từ năm triệu trở lên phải có hai chữ ký. Đọc xong, anh đặt tờ giấy xuống. Gấm gật đầu, chép sang tờ đăng ký.
Tên công ty thì không ai phải bàn. Công ty trách nhiệm hữu hạn Kẹo lạc bà Tươi.
Ngày hai mươi chín tháng Mười hai năm 1999, hai vợ chồng lên Ủy ban thị xã nộp hồ sơ. Ông cán bộ đọc tên công ty, cười, bảo sang năm mới được nhận, ngày mồng một là ngày nghỉ, ngày mồng bốn tháng Một anh chị quay lại lấy giấy. Ngoài cửa sổ phòng một cửa, ai đó đã treo một cái băng rôn đỏ, chữ vàng, chào năm hai nghìn. Người ta nói chuyện máy tính sẽ hỏng hết lúc giao thừa, chuyện ngày tận thế. Kiệm nghe, không cười. Anh biết năm hai nghìn chẳng có gì hỏng. Anh chỉ biết một ngày trong năm ấy.
Con búp bê của Khảm nằm trên gối cái Hến từ tháng Tám.
Hôm ấy con bé tự ra bến, một mình, không xin phép bố, không đi đường hàng tre mà đi vòng qua đường đê như bố dặn, mất thêm mười phút. Nó đứng trên bậc đá trên cùng gọi chú Khảm ơi. Khảm buộc đò, lội lên, đưa cho nó cái hộp các-tông đã ố vàng ở góc. Con búp bê tóc vàng, mặc váy hồng, nhắm mắt mở mắt được. Cái Hến ôm cái hộp chạy một mạch về nhà, mặt đỏ gay, không nói với ai câu nào, rồi đặt con búp bê lên gối mình. Con búp bê bố mua năm chín bảy vẫn nằm trên gác xép, cạnh cái bát sen, váy đã bám bụi.
Kiệm nhìn hai con búp bê, một trên gối, một trên giá. Anh không nói gì. Anh biết mình không có quyền nói gì.
Một tối tháng Mười hai, lúc Kiệm đang ngồi đọc lại tờ đăng ký công ty, cái Hến đặt quyển vở tập viết xuống bàn, ngồi sát cạnh bố.
– Bố ơi, hè sang năm bố cho con học bơi với chú Khảm nhé.
– Ừ.
– Bố hứa đi.
Kiệm nhìn con gái. Tám tuổi rưỡi, cái trán dô của mẹ, đôi mắt một mí của bà nội. Nó nhìn anh bằng cái nhìn chờ đợi của một đứa trẻ đã từng đứng trên sân khấu tìm bố.
– Bố hứa. – Anh nói. – Hè sang năm, tháng Sáu, con học với chú Khảm. Bố ra ao ngồi xem.
Cái Hến gật đầu, cầm quyển vở đi. Đến cửa buồng, nó quay lại.
– Bố nhớ nhé. Bố hay quên.
Năm Kỷ Mão không có ngày ba mươi Tết. Tháng Chạp thiếu, hai mươi chín là giao thừa. Gấm nói thế lúc lật tờ lịch, bảo cả nhà phải gói bánh chưng sớm một hôm.
Chiều hai mươi chín Tết, thứ Sáu, mồng bốn tháng Hai năm 2000, xưởng nghỉ từ trưa. Kiệm trả lương Tết từ hôm trước. Ba mươi hai người làm, mỗi người thêm một tháng lương. Lần này Gấm ký vào sổ chi bên cạnh chữ ký của anh.
Nồi bánh chưng sôi ở sân sau từ năm giờ chiều. U ngồi trên cái ghế con cạnh bếp, chống gậy, canh lửa, thỉnh thoảng sai cái Hến thêm củi. Thằng Thóc gần sáu tuổi chạy quanh sân với một cái đèn kéo quân Gấm mua ở chợ. Cái rào tre bên chân tường sân sau, mưa nắng ba năm rưỡi, đã mục mấy cây, ngả nghiêng.
Tám giờ tối, Kiệm bảo Gấm đi với anh ra bến.
Gấm không hỏi ra làm gì. Cô khoác cái áo len, quàng khăn, đi theo anh qua con ngõ dốc, qua hai hàng tre. Gió bấc thổi lạnh. Đêm cuối năm không trăng, chỉ có ánh đèn từ mấy nhà ven sông hắt xuống mặt nước thành những vệt vàng run run.
Kiệm xuống đến bậc đá thứ ba. Rồi bậc thứ tư. Rồi bậc thứ năm, bậc cuối cùng nước chưa liếm tới. Bảy năm nay anh vẫn đứng ở bậc này. Lần này anh ngồi xuống, hai chân cách mặt nước một gang tay. Gấm ngồi cạnh anh.
– Hôm chở chuyến lạc chịu cuối cùng, em hỏi anh sợ cái gì ở con sông này. – Anh nói. – Anh bảo có một ngày anh kể.
– Em nhớ.
– Anh kể bây giờ. Em nghe hết rồi em hẵng nói.
Anh kể.
Anh kể từ cái bao lạc thứ bốn mươi mốt. Bốn giờ sáng mùng một tháng Chạp năm Nhâm Dần, năm hai nghìn không trăm hai mươi hai, ở chợ đầu mối Hà Nội. Năm mươi lăm tuổi. Cái ngực thắt lại ở bước thứ bảy. Điện thoại không ai nghe. Rồi cái gác xép gỗ lim, tờ lịch, cái phong bì giấy xi măng trên nóc tủ.
Anh kể những gì anh nhớ. Anh Tòng, chuyến xe đạp Lạng Sơn, ba mươi năm anh gọi người ta là đồ lừa đảo. Mùa thu năm chín ba, cả bãi Bồ Xuyên gọi anh là thằng cân điêu, và anh đã tin là có người hại anh. Con dốc có cây gạo, cái xe tải lật nghiêng, Khảm. Năm chín chín anh cầm cố nhà u, giả chữ ký u. Năm hai nghìn không trăm linh một, em đem con Hến về Hải Phòng. Năm hai nghìn không trăm linh tám, u mất, bán nhà trả nợ. Sáu năm làm thuê ở xưởng kẹo ông Cự. Đám cưới con Hến năm hai nghìn mười chín, anh ngồi hàng ghế cuối, nó đi qua, gật đầu với anh như với khách.
Rồi anh kể cái ngày ấy.
Rằm tháng Sáu năm Canh Thìn. Chủ nhật. Anh ở Hà Nội, ngồi nhậu với khách từ trưa. Tám giờ tối xe khách về đến bến xe. Người ta đứng chờ anh ở đấy, không ai nói câu nào, dắt anh đi. Qua chợ. Qua hai hàng tre. Ra đến đây.
– Thằng Thóc. – Anh nói. – Sáu tuổi.
Anh dừng lại. Anh không kể được tiếp. Gấm không giục.
Rất lâu, không ai nói gì. Bên kia sông, có nhà nào đó ở bãi Bồ Xuyên đang đốt rơm, ánh lửa đỏ hắt lên một đám khói. Trên đầu, tre kẽo kẹt trong gió.
– Năm nay là năm Canh Thìn. – Gấm nói cuối cùng. Giọng cô rất nhỏ.
– Ừ.
– Còn năm tháng.
– Ừ.
Gấm ngồi im. Kiệm không nhìn cô. Anh nhìn mặt sông đen. Anh đã nghĩ đến cái đêm này nhiều năm. Anh đã nghĩ cô sẽ bảo anh điên. Sẽ bảo anh đi lên chùa. Sẽ đứng dậy đi về. Hoặc sẽ tin hết, khóc, ôm anh, và cái tin ấy anh sẽ phải mang thêm.
Cô không làm cái nào trong số ấy.
– Trong giấc mơ ấy, – Gấm hỏi, – cái bát sen của em thế nào?
Kiệm quay sang nhìn vợ.
– Bát sen nào?
– Cái bát mộc em vẽ hôm xí nghiệp đóng cửa. – Gấm nói. – Cái bát em định cho con Hến. Nó vẫn ở trên gác, cạnh cái đèn ông sao. Trong giấc mơ của anh, nó thế nào? Vỡ à? Hay em mang về Hải Phòng?
Kiệm im. Anh lục trong trí nhớ, cái trí nhớ ba mươi năm mà anh vẫn coi là cái vốn duy nhất của mình. Không có cái bát nào. Không có bông sen nào. Anh không biết vợ mình đã vẽ một cái bát vào ngày xí nghiệp đóng cửa. Ở kiếp trước, có lẽ cô cũng đã vẽ. Có lẽ nó vẫn nằm ở đâu đó trên gác, suốt bảy năm, rồi đi theo cô về Hải Phòng, hoặc vỡ, hoặc bị vứt đi khi người ta bán nhà. Anh không biết. Anh chưa bao giờ hỏi.
– Anh không biết. – Anh nói. – Anh không biết em vẽ một cái bát.
Gấm gật đầu, chậm, như người vừa cân xong một bao hàng.
– Thế thì có bao nhiêu thứ anh không biết. – Cô nói. – Anh không biết cái bát. Anh không biết ông Tòng bán xe trả nợ. Anh không biết cái quả cân của u. Anh không biết thằng Khảm giấu thuốc lá. Anh không biết em vào họ bà Đào.
– Ừ.
– Em không tin hẳn. – Gấm nói. – Em nói thật với anh. Em nghe như nghe người ta kể một giấc mơ. Nhưng em tin là anh tin. Bảy năm nay em nhìn anh, em biết anh tin.
Cô đứng dậy, phủi quần.
– Thế thì năm nay anh ở nhà. – Cô nói. – Rằm tháng Sáu, ai mời đi đâu anh cũng không đi. Anh ở nhà với cả ba mẹ con. Không phải chỉ thằng Thóc.
Kiệm ngẩng lên nhìn vợ.
– Cả ba mẹ con. – Gấm nhắc lại. – Anh nhớ chưa? Anh hay quên.
– Anh nhớ.
– Đọc to lên.
– Rằm tháng Sáu anh ở nhà. – Kiệm nói. – Với cả ba mẹ con.
Gấm gật đầu. Rồi cô chìa tay xuống cho anh. Anh nắm lấy, đứng dậy, bước lên bậc thứ tư, bậc thứ ba. Tay cô ấm.
Về đến nhà thì nồi bánh chưng đã vớt. U ngồi ở bậc thềm, cái Hến ngủ gục trên đùi bà, thằng Thóc ngủ trên chõng tre, tay còn ôm cái đèn kéo quân. U nhìn hai vợ chồng đi vào, nhìn tay hai người, rồi nhìn đi chỗ khác.
– Đi đâu mà lâu thế? – U hỏi. – Sắp giao thừa rồi.
– Ra bến, u ạ. – Gấm nói.
U không hỏi thêm.
Gần giao thừa, Gấm leo thang lên gác xép. Kiệm nghe tiếng cô đi trên tấm ván gỗ, tiếng lục lọi. Rồi cô leo xuống, hai tay đỡ một cái gì bọc trong tờ báo cũ.
Cô mở tờ báo ra trên bàn gỗ gian giữa, dưới bóng đèn. Cái bát mộc màu xám. Vành chân mẻ một miếng nhỏ từ mùa lũ năm chín sáu. Trong lòng bát, bông sen năm cánh, cánh hoa mềm, cuống cong như một nét chữ, vẫn màu xám của men chưa nung.
– Anh đốt lò bảy năm. – Gấm nói. – Tháng Sáu này con Hến chín tuổi. Anh nung nó cho con.
— Hết chương 32 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe