AI Truyện
Cân lại đời mình từ năm 1992

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Giá lạc hai nghìn bảy

Cân lại đời mình từ năm 1992 · Chương 6/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 6: Giá lạc hai nghìn bảy

Cái lán của anh Tòng dựng ở đầu xóm Bãi Giữa, ngay chỗ con đường đất ven đê rẽ xuống bến. Bốn cột tre, mái lợp tôn mượn, một cái bàn gỗ, một cái cân đòn treo trên xà, và một tấm bìa các-tông dựng ở cột: Mua lạc vỏ khô 2.700đ/kg. Chữ viết bằng than củi, nghiêng nghiêng như học trò lớp bảy.

Kiệm đứng nhìn tấm bìa từ bên này đường. Sáng thứ Năm đầu tháng Mười, đã có bốn năm người gánh lạc xếp hàng trước lán. Anh Tòng ngồi sau bàn, áo sơ mi trắng cài kín cúc cổ, cân từng bao, đọc số to lên cho người bán nghe, đếm tiền.

– Chú ơi, mình trả hai nghìn tám đi. – Lũng nói, giật giật tay áo anh. – Mình trả hơn ông ấy một trăm, người ta lại sang mình.

Kiệm không trả lời ngay. Trong người anh có một thằng hai mươi lăm tuổi đang sôi lên. Thằng ấy muốn đi thẳng đến cái lán, đập tay xuống bàn, hô to: Hai nghìn tám! Ai bán sang đây! Thằng ấy muốn thấy anh Tòng ngẩng lên, mặt tái đi. Kiếp trước, thằng ấy đã làm đúng như thế với mọi đối thủ, ở mọi chuyến hàng, và lần nào cũng thắng được ba hôm rồi thua ba năm.

Anh ngồi xổm xuống mép đường, lấy que vạch xuống đất. Lạc vỏ hai nghìn tám, mỗi cân lạc nhân tốn bốn nghìn, cộng tiền bóc, tiền đò, tiền xe. Bà Duệ trả năm nghìn. Còn lại chừng ba trăm đồng một cân nhân. Bỏ cả ngày đi bãi, cả đêm bóc lạc, một chuyến hai tạ, lãi được bốn chục nghìn. Không bằng đi làm thuê.

– Không trả hơn. – Anh nói, xóa mấy con số bằng gót dép. – Mình cứ hai nghìn sáu.

– Thế thì ai bán cho mình?

– Ai bán thì bán.

Lũng nhìn anh như nhìn một người vừa vứt tiền xuống sông.

Nhưng cũng có người bán.

Không nhiều. Tuần đầu, anh mua được hơn một tạ, bằng nửa tuần trước. Tuần thứ hai khá hơn. Không phải vì anh trả cao hơn mà vì những chuyện nhỏ, những chuyện anh học được ở chợ đầu mối: người buôn nhỏ không đánh nhau bằng giá, người buôn nhỏ đánh nhau bằng chỗ người ta thấy phiền.

Ở lán anh Tòng, người bán phải tự gánh lạc ra đầu xóm. Kiệm thì cùng thằng Lũng đi đến tận sân từng nhà, mang theo cái đòn gánh và cái cân. Một bà già có hai bao lạc mà con trai đi làm thuê trên tỉnh, không ai gánh, anh đến cân ngay ở hiên nhà bà. Ở lán anh Tòng, người bán phải có bao. Kiệm thì mang bao đến, đổ lạc của người ta vào bao của mình, lần sau trả lại bao nhà người ta không mất cái nào. Ở lán anh Tòng, có hôm hết tiền mặt phải ghi nợ đến chiều. Kiệm không bao giờ mang ra bãi nhiều hơn số tiền anh có. Hết tiền thì thôi, không mua nợ một cân nào.

Và tờ giấy. Cả xóm Bãi Giữa bây giờ đã quen với tờ giấy học trò có chữ ký. Có bà còn lấy cái hộp sắt đựng bánh cũ ra đựng các tờ giấy ấy, cất trên bàn thờ.

– Cái giấy thì ăn được à? – Một ông già ở xóm dưới hỏi, cười cười.

– Không ăn được. – Kiệm nói. – Nhưng có giấy thì nhà ông khỏi phải nhớ.

Ông già ngẫm nghĩ một lúc, rồi gánh hai bao lạc từ trong nhà ra.

Bà Hòe thì không đi đâu cả. Bà ngồi ở hiên nhà, nhìn người ta gánh lạc qua cổng ra lán anh Tòng, thỉnh thoảng hừ một tiếng ở mũi. Đến khi Kiệm vào sân, bà chỉ tay vào ba bao lạc đã buộc sẵn ở góc hiên.

– Của cậu đấy. – Bà nói. – Tôi để dành.

– Bên kia người ta trả hai nghìn bảy bác ạ.

– Tôi biết. Tôi không điếc. – Bà Hòe đứng lên, phủi quần. – Cậu tưởng tôi bán cho cậu vì thương cậu à? Tôi bán cho cậu vì cân của cậu tôi tin. Ông Tòng đọc số nhanh quá, tôi nghe không kịp. Cậu thì để tôi tự cúi xuống đọc.

Kiệm cân ba bao lạc. Bà Hòe cúi xuống đọc từng bao, mắt nheo lại. Anh viết giấy, bà ký, nét chữ vẫn to, run, tách rời như xếp gạch.

Lúc anh đếm tiền, bà hỏi:

– Thuyền nhà tôi thủng một lỗ ở đáy. Cậu có biết trám không?

Chiều hôm ấy anh với thằng Lũng lật ngửa cái thuyền nan của nhà bà Hòe trên bãi cát. Lỗ thủng to bằng đồng xu, ở chỗ con nan bị mục. Anh cắt một miếng vải bạt, nấu một ít nhựa đường xin của đội làm đường trên đê, trám từ trong ra, rồi lấy dầu rái quét lại một lượt. Kiếp trước, những năm làm phụ xe, anh đã trám không biết bao nhiêu cái thùng phuy thủng. Lũng ngồi xổm xem, hỏi luôn mồm. Anh trả lời từng câu.

Đến lúc trời nhá nhem, cái thuyền được đẩy xuống nước, không rỉ một giọt.

– Chú biết nhiều thứ thế. – Lũng nói, giọng như đứa trẻ vừa phát hiện ra trong túi người lớn có kẹo. – Chú học ở đâu?

– Đi làm thuê thì học.

– Chú đi làm thuê ở đâu?

Kiệm nhìn ra sông, mặt nước bắt đầu sẫm lại, phía bên kia đèn thị xã đã lác đác bật.

– Ở xa. – Anh nói.

Gấm là người nghĩ ra chuyện chia loại.

Một tối, bóc lạc xong, cô ngồi lại bên mấy cái nong, nhặt những hạt lạc nhân bé, những hạt hơi lép, những hạt có vỏ lụa không đều màu, bỏ riêng ra một cái rổ.

– Anh mang loại này lên cho bà Duệ, bà ấy cũng trả năm nghìn à?

– Thì cả bao bà ấy trả một giá.

– Thế thì thiệt. – Gấm nói. – Lạc hạt to bán cho bà ấy năm nghìn hai, năm nghìn ba cũng được. Còn loại hạt nhỏ này mình giữ lại. Mình bán cho người làm kẹo, làm bánh ở chợ. Hạt nhỏ người ta rang lên giã ra, có cần hạt to đâu.

Kiệm nhìn cái rổ lạc hạt nhỏ, rồi nhìn vợ. Gấm đang lau tay vào vạt áo, mắt không nhìn anh. Hai tháng trước cô không bao giờ nói với anh chuyện tiền. Nói thì anh gạt đi. Anh không nhớ hồi ấy mình đã gạt cô đi bao nhiêu lần, chỉ nhớ đến một lúc nào đó cô thôi không nói nữa.

– Em tính hay hơn anh. – Anh nói.

Gấm ngẩng lên, nhìn anh như nhìn một người vừa nói tiếng nước ngoài.

– Anh nói thật hay anh nói đùa?

– Nói thật.

Cô không nói gì nữa, cúi xuống nhặt tiếp. Nhưng anh thấy tai cô đỏ lên.

Tuần sau đó, anh mang hai thứ lạc lên chợ Bắc Qua, đựng hai bao riêng, buộc hai sợi dây khác màu. Bà Duệ mở bao hạt to ra, bốc một nắm, dàn mỏng trên mẹt, không nhặt ra được hạt vỡ nào. Rồi bà mở bao hạt nhỏ.

– Ai dạy cậu chia thế này?

– Vợ cháu ạ.

– Vợ cậu làm gì?

– Vẽ bát ở xí nghiệp sứ ạ.

Bà Duệ gật gù, ngón cái đẩy một hạt tràng hạt. Bà trả năm nghìn ba cho bao hạt to. Bao hạt nhỏ bà bảo không lấy, mang về mà bán cho người làm kẹo dưới quê. Bà nói đúng câu Gấm đã nói.

Rồi bà đòi xem tờ giấy ghi cân. Anh đưa cho bà cả tập, mỗi tờ là một lần mua, có ngày, có tên người bán, có số cân, có chữ ký. Bà lật từng tờ, chậm, đọc cả những dòng chữ nguệch ngoạc của mấy bà ở Bồ Xuyên.

– Cậu ghi như người làm kho. – Bà nói.

– Bố cháu làm thủ kho ạ.

Bà Duệ đưa trả tập giấy, nhìn anh lâu hơn mọi lần.

– Dưới bãi của cậu có hai người mua. – Bà nói. – Tôi nghe người ta nói rồi. Ông kia trả hơn cậu một trăm.

– Vâng.

– Cậu không đua.

– Không ạ.

– Thế là khôn. – Bà quay vào gẩy bàn tính. – Hai đứa đua nhau trên một cái bãi thì đứa nào cũng chết, chỉ có người bán là sướng được một mùa. Đến mùa sau thì người bán cũng chết, vì chẳng còn ai sang mua.

Cuối tháng Mười, mưa xuống.

Không phải mưa rào mùa hạ mà mưa dầm, rả rích ba ngày liền, trời trắng đục như cái chậu men cũ. Lạc phơi trên bãi không khô được. Người nào đã nhổ lạc thì phải gom vào nhà, rải lên nong, đốt bếp sưởi. Người nào chưa nhổ thì để dưới đất chờ tạnh.

Kiệm ngừng mua ba ngày. Anh không mua lạc khi trời mưa, kể cả lạc người ta bảo đã phơi khô từ tuần trước. Lạc ẩm bóc ra nhân bị mềm, để hai hôm là lên mốc. Hồi ở xưởng ông Cự, ông cụ dặn đi dặn lại: Lạc mốc ăn vào độc, độc lắm, không nhìn thấy đâu, nhưng nó tích dần trong gan người ta. Ông cụ có thói quen bốc một nắm lạc lên ngửi, chỉ cần thấy mùi hơi hăng là hất cả bao ra sân.

Cái lán của anh Tòng thì vẫn mở. Anh Tòng đã nhận nợ trước với một ông thương lái trên Hà Nội, cái ông áo xanh đi xe đạp khung cao, phải giao đủ hàng cho ông ta trước ngày mười lăm tháng Mười một. Mưa thì cũng phải mua. Kiệm đi ngang qua cái lán vào ngày thứ ba của trận mưa, thấy ba bốn chục bao lạc chất trong lán, phủ tấm ni lông, nước mưa rỉ xuống từ mép mái tôn mượn.

Anh Tòng ngồi sau bàn, rít thuốc lào. Anh gật đầu chào Kiệm, Kiệm gật đầu chào lại. Hai người không nói câu nào.

Một tuần sau, khi trời đã hửng, Kiệm nghe Lũng kể lại: anh Tòng chở lạc lên Hà Nội, ông thương lái áo xanh mở bao ra, ngửi, rồi trả một nửa giá. Một nửa số bao bị trả lại. Anh Tòng chở về, bán cho một trại lợn ở xã bên làm cám, giá bằng một phần ba.

Lán ở đầu xóm Bãi Giữa dỡ đi vào giữa tháng Mười một. Tấm bìa các-tông viết bằng than củi nằm úp mặt xuống bùn.

Kiệm đứng nhìn tấm bìa ấy một lúc. Anh không thấy vui. Anh chỉ thấy lạ. Kiếp trước, anh đã mong những ngày như thế này biết bao nhiêu. Bây giờ ngày ấy đến, mà không phải anh làm ra nó. Là cơn mưa. Là cái mũi của ông thương lái áo xanh. Là một người đàn ông gầy gò phải giao hàng đúng hẹn vì đã hứa với người ta.

Vụ lạc thu hết vào cuối tháng Mười một. Kiệm ngồi với Gấm bên cái bàn gỗ trong gian giữa, dưới bóng đèn tròn, cộng lại số tiền ba tháng. Tiền vốn ban đầu một triệu tám. Bây giờ trong cái hộp sắt đựng bánh mà Gấm cất dưới gầm giường là hai triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng, chưa tính hai tạ lạc hạt nhỏ còn chất ở góc nhà, chưa bán được cho ai.

Gấm cộng xong, nhẩm lại một lần nữa, rồi đặt bút xuống.

– Gần một triệu. – Cô nói. – Trong ba tháng.

– Ừ.

– Bằng lương em năm tháng. – Cô nói nhỏ. – Mà xí nghiệp nợ em ba tháng chưa trả.

Mâm cơm tối hôm ấy có thêm đĩa thịt rang. U gắp cho cái Hến một miếng mỡ, gắp cho Gấm một miếng nạc, rồi ngồi ăn rau muống luộc chấm tương, không nói gì. U vẫn thế từ ba tháng nay: không khen một câu, nhưng sáng nào cũng dậy sớm hơn để nấu cho anh nồi cơm mang sang bãi.

– Hết lạc rồi thì mày làm gì? – U hỏi, mắt không ngẩng lên. – Ngồi nhà đếm tiền à?

– Con nấu kẹo lạc bán Tết. – Kiệm nói.

Đôi đũa của u dừng lại giữa chừng. Gấm ngẩng lên. Cả cái Hến cũng ngẩng lên, chẳng hiểu gì, chỉ vì thấy cả nhà im.

Rồi u bật cười. Cái cười làm u phải đặt bát xuống, lấy mu bàn tay chùi khóe mắt.

– Mày nấu kẹo? – U nói. – Mày luộc quả trứng còn vỡ. Năm mười tuổi mày rang lạc cho bố mày, cháy đen cả chảo, bố mày phải mang ra giếng cọ ba ngày.

– Con biết nấu, u ạ.

– Biết bao giờ? Ai dạy?

Kiệm cúi xuống bát cơm. Ông Cự dạy. Một ông già sáu mươi tám tuổi ở một cái ngõ Hà Nội, vào năm 2010, khi u đã nằm dưới đất được hai năm.

– Con học thì con biết. – Anh nói.

U nhìn anh, cái nhìn như nhìn mớ hàng lạ của hôm anh vừa tỉnh dậy. Rồi u lại cầm bát lên.

– Thế thì nấu đi. – U nói. – Cháy chảo nhà tao thì mày đi mà mua chảo mới.

— Hết chương 6 —

Mục lục Cân lại đời mình từ năm 1992

  1. 1Bao lạc thứ bốn mươi mốt10 phút
  2. 2Chú em không tin anh11 phút đọc
  3. 3Bãi Bồ Xuyên9 phút đọc
  4. 4Ngõ chợ Bắc Qua10 phút đọc
  5. 5Tiền của Khảm11 phút đọc
  6. 6Giá lạc hai nghìn bảy11 phút đọc
  7. 7Mạch nha Thịnh Khê10 phút đọc
  8. 8Hai trăm cân trước giao thừa11 phút đọc
  9. 9Ba cân trong một tạ12 phút đọc
  10. 10Trả lại ba cân11 phút đọc
  11. 11Gian hàng khóa trái10 phút đọc
  12. 12Mùa nồm10 phút đọc
  13. 13Thằng bé có nốt ruồi ở vành tai10 phút đọc
  14. 14Cái kho của bố10 phút đọc
  15. 15Cái Tết không có pháo10 phút đọc
  16. 16Đêm hai mươi bảy tháng Giêng11 phút đọc
  17. 17Chín triệu của Tạo bi-a10 phút đọc
  18. 18Đêm mồng một tháng Chín10 phút đọc
  19. 19Lời khai12 phút đọc
  20. 20Phiên tòa tháng Tư12 phút đọc
  21. 21Nước lên ở bến Lăng10 phút đọc
  22. 22Ông chủ Kiệm10 phút đọc
  23. 23Kẹo bà Tươi giả10 phút đọc
  24. 24Cái cân ở cửa hàng10 phút đọc
  25. 25Mùa khủng hoảng10 phút đọc
  26. 26Quả cân thật9 phút đọc
  27. 27Hợp đồng chín mươi ngày10 phút đọc
  28. 28Họ vỡ10 phút đọc
  29. 29Thứ Bảy không có lương10 phút đọc
  30. 30Những bao lạc không lấy tiền11 phút đọc
  31. 31Khảm về10 phút đọc
  32. 32Nói với Gấm10 phút đọc
  33. 33Rằm tháng Sáu10 phút đọc
  34. 34Người lái đò10 phút đọc
  35. 35Bao lạc không cần cân10 phút đọc
  36. 36Mùng một tháng Chạp năm Nhâm Dần9 phút đọc

Về truyện này

Cân lại đời mình từ năm 1992 là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →