Chương 33: Rằm tháng Sáu
Lửa trong lò phải trắng thì men mới chín.
Không phải trắng như vôi. Trắng như lòng một con cá vừa mổ, hơi ngả vàng ở mép, nhìn lâu thì nhức mắt. Bảy năm đốt lò tuynen ở xí nghiệp sứ, Kiệm đã học cách đọc màu lửa qua cái lỗ nhìn bằng một miếng kính xanh. Đỏ sẫm là mới bén. Đỏ tươi là đất mộc bắt đầu co. Cam là nước trong đất đã đi hết. Vàng chanh là men bắt đầu chảy. Trắng là xong.
Hai mươi năm sau, ở chợ đầu mối, anh đã quên hết những màu ấy. Bây giờ ngồi trước cái lò nhỏ ở góc sân xưởng, đêm mười ba tháng Sáu năm 2000, anh nhớ lại từng màu như nhớ lại tên người quen.
Cái lò anh đắp trong ba buổi chiều, bằng gạch chịu lửa nhặt ở đống gạch vỡ của lò tuynen cũ, trát đất sét trộn rơm, cao chưa đến thắt lưng. Cửa lò bằng một viên gạch tháo ra lắp vào được. Bên trong chỉ đủ chỗ cho một cái bát. Đốt bằng than đá trộn củi, quạt bằng cái quạt nan, thổi bằng một ống bễ mượn của lò rèn đầu phố.
Gấm ngồi cạnh anh từ chín giờ tối. Cô không nói gì. Cô quạt khi anh bảo quạt, đưa than khi anh bảo đưa. Cái Hến thì ngủ gục trên đống bao tải ở hiên xưởng từ mười giờ, nó đòi thức xem cho bằng được, và đã thua giấc ngủ.
Ba giờ sáng, lửa trong lò trắng.
Kiệm giữ nó trắng thêm một tiếng. Rồi anh thôi thêm than, bịt lỗ thông gió, để lò nguội dần. Lò nung không được mở vội. Mở vội thì gió lạnh lùa vào, cái bát nứt ngang như vỏ trứng. Phải chờ.
Mười giờ sáng ngày mười bốn tháng Sáu, thứ Tư, sinh nhật chín tuổi của cái Hến, Kiệm tháo viên gạch cửa lò.
Hơi nóng phả ra mặt anh. Bên trong, trên tấm gạch kê, cái bát nằm im.
Anh lấy hai cái que tre gắp nó ra, đặt lên cái mâm nhôm. Cái bát không còn màu xám nữa. Đất mộc đã thành sứ, trắng ngà, gõ vào kêu boong boong như tiếng chuông nhỏ. Và trong lòng bát, bông sen năm cánh Gấm vẽ ngày xí nghiệp đóng cửa đã hiện lên màu xanh. Không phải xanh trời. Xanh coban sẫm, cái màu hoa lam của xí nghiệp sứ Vạn Lăng mà bây giờ không còn lò nào nung nữa. Cánh hoa mềm. Cuống cong như một nét chữ. Chỗ vành chân mẻ một miếng từ mùa lũ năm chín sáu vẫn mẻ, mép mẻ đã chín cứng lại, nhẵn.
Gấm cúi xuống nhìn cái bát rất lâu. Cô không chạm vào nó.
– Sáu năm. – Cô nói.
Cái Hến chạy đến, đứng nhón chân nhìn qua vai bố.
– Của con à?
– Của con. – Gấm nói. – Mẹ vẽ cho con từ năm con ba tuổi. Bố nung cho con hôm nay.
Con bé đưa hai tay ra. Kiệm đặt cái bát vào lòng hai bàn tay nhỏ, chờ cho nó nguội hẳn rồi mới buông. Cái Hến ôm cái bát vào ngực, như ôm một con chim.
Từ hôm ấy, cái bát sen theo cái Hến đi khắp nơi. Nó đựng cơm trong bát sen, đựng kẹo trong bát sen, rửa nó bằng tay, lau khô bằng vạt áo, đặt nó cạnh con búp bê tóc vàng của chú Khảm trên đầu giường.
Hè năm ấy, cái Hến học bơi.
Chiều thứ Bảy nào cũng thế, sau giờ trả lương, Kiệm dắt cả hai đứa ra cái ao sau xí nghiệp sứ cũ. Khảm ngồi chờ trên bờ. Thằng Thóc sáu tuổi bơi được một quãng đã dài, nhào xuống nước như con rái cá, lặn ngụp, hét toáng lên. Cái Hến thì sợ. Nó không khóc, nhưng lần đầu Khảm bế nó xuống ao, nó bám chặt lấy cổ chú, mười ngón tay cắm vào vai chú đến hằn đỏ.
– Thả tay ra. – Khảm nói. – Chú đỡ bụng. Cháu nằm xuống, đạp chân. Nước đỡ cháu, không phải chú đỡ.
Đến buổi thứ ba, con bé đã nằm sấp được trên mặt nước, đạp chân, ngóc đầu, bơi được ba bốn sải chó bơi rồi mới chìm. Khảm bảo thế là được. Bơi chưa được thì phải biết nổi. Biết nổi thì không chết.
Kiệm ngồi trên bờ, như năm ngoái. Anh không xuống.
Chủ nhật đầu tiên của tháng Bảy, mồng một tháng Sáu âm lịch, cái Hến đến bên bàn gỗ gian giữa, lúc Kiệm đang đọc một tờ fax anh Quang gửi về bưu điện thị xã. Tờ fax nói về một chuỗi cửa hàng lớn ở Hà Nội và Hải Phòng muốn đặt kẹo lạc bà Tươi cho cả năm, hai mươi tấn, hẹn gặp ký hợp đồng.
– Bố ơi. – Cái Hến nói. – Rằm này con mang kẹo sang biếu bà Hòe nhé. Đựng trong bát sen, cho bà xem cái bát.
– Ừ.
– Bà Hòe cho con một gói lạc rang hôm Tết. Con chưa cảm ơn bà.
– Ừ, ừ.
– Con đi đò chú Khảm. Con đi đường đê ra bến, không đi đường hàng tre.
– Ừ.
Cái Hến đứng chờ thêm một lúc. Bố vẫn cúi xuống tờ giấy. Con bé đi ra.
Thứ Bảy, mười lăm tháng Bảy, mười bốn tháng Sáu âm, anh Quang gọi điện về bưu điện thị xã, nhắn Kiệm lên nghe máy lúc bốn giờ chiều.
– Anh Kiệm. Ông giám đốc chuỗi cửa hàng ấy mai mới có mặt ở Hà Nội, chiều thứ Hai ông ấy bay vào Sài Gòn. – Giọng anh Quang trong ống nghe rè rè, gấp gáp. – Mười một giờ trưa mai, ăn trưa rồi ký. Hai mươi tấn một năm, anh Kiệm ạ. Anh không lên thì họ ký với người khác. Ông ấy không chờ.
Kiệm đứng trong cái buồng gọi điện của bưu điện thị xã, cái buồng gỗ có ô kính, ống nghe áp vào tai.
Mười một giờ trưa mai. Ăn trưa rồi ký. Ăn trưa ở Hà Nội thì đến bốn giờ chiều mới xong. Xe khách về đến bến xe Vạn Lăng lúc tám giờ tối.
– Em không lên được, anh Quang ạ. – Anh nói.
– Anh Kiệm…
– Mai là ngày giỗ trong nhà em. – Anh nói dối, rồi sửa lại. – Không phải giỗ. Là ngày em đã hứa với vợ con. Em không đi đâu.
Đầu dây bên kia im một lúc lâu.
– Anh dại. – Anh Quang nói. Rồi anh ta cúp máy.
Kiệm đặt ống nghe xuống. Anh nghĩ đến anh Nghĩa sáu năm trước, ở cái hiên nhà u: Anh dại. Nhưng anh dại đúng cách. Anh không biết lần này mình dại đúng cách hay không. Anh chỉ biết mình không đi.
Chủ nhật, mười sáu tháng Bảy năm 2000. Rằm tháng Sáu năm Canh Thìn.
Kiệm dậy từ bốn giờ sáng. Anh không ra xưởng. Xưởng nghỉ Chủ nhật. Anh ngồi ở bậc thềm sân sau, nhìn trời. Trời trong. Nắng lên sớm, gắt, oi, không một gợn gió. Lá nhãn đứng im. Con chó nhà bà Sáu nằm thè lưỡi dưới gầm chõng từ sáu giờ sáng.
Anh không để thằng Thóc ra khỏi nhà.
Anh chơi với nó suốt buổi sáng. Anh dạy nó làm cái đèn ông sao năm cánh, dù chưa đến Trung thu, vót nan tre bằng con dao nhíp của bố, đo bằng sợi chỉ. Anh đánh cờ gánh với nó trên nền gạch, cho nó thắng ba ván. Anh dắt nó đi tắm ở giếng sân sau, dội từng gáo nước mát lên đầu nó. Thằng bé sáu tuổi thấy bố lạ, nhưng vui, cứ bám lấy bố không rời.
Gấm ở nhà. Cô không đi đâu. Cô nấu cơm trưa, rửa bát, ngồi khâu áo ở hiên. Thỉnh thoảng cô ngẩng lên nhìn anh, nhìn thằng Thóc, rồi cúi xuống. Hai vợ chồng không nói với nhau về ngày hôm nay một lời nào. Không cần nói.
Cái Hến thì ngồi trong buồng với bà, đọc truyện cho bà nghe. U bây giờ mắt kém, thích nghe con bé đọc. Kiệm nghe giọng con gái vọng ra, đọc to, rõ từng chữ, ngắc ngứ ở những chữ khó.
Mười hai giờ trưa, cả nhà ăn cơm. Một giờ, thằng Thóc ngủ trưa trên chõng tre ở gian giữa. Kiệm nằm cạnh con, quạt cho nó. Anh không ngủ. Anh nghe tiếng thở của con, nghe tiếng ve kêu ngoài cây nhãn, nghe tiếng đồng hồ treo tường gõ từng giây.
Gấm sang nhà chị Lài lúc hai giờ. Con trai chị Lài sốt từ đêm qua, chị nhắn sang hỏi mượn ít tiền đưa nó lên trạm y tế. Gấm bảo anh: Em đi nửa tiếng. Anh gật đầu, mắt vẫn nhìn thằng Thóc.
Hai giờ rưỡi, cái Hến đi ra từ buồng bà, đi qua gian giữa. Kiệm nghe tiếng chân con bé, tiếng nó mở cái chạn, tiếng giấy bóng kính sột soạt. Anh không quay lại. Anh đang nhìn thằng Thóc trở mình trong giấc ngủ.
Ba giờ, trời tối sầm lại.
Không phải từ từ. Như có ai kéo một tấm chăn đen qua mặt trời. Kiệm ngẩng lên. Qua khe cửa, anh thấy phía tây, phía thượng nguồn sông Lăng, một khối mây đen đặc như mực đang ụp xuống, chân mây kéo lê trên ngọn tre. Lá nhãn bắt đầu rung. Rồi gió đến, một luồng gió lạnh ngắt từ phía sông thổi tạt vào sân, cuốn tung mấy cái nong phơi lạc.
Kiệm bế thằng Thóc lên. Thằng bé tỉnh dậy, dụi mắt, ôm cổ bố.
Anh đếm. Thằng Thóc ở đây, trong tay anh. U ở trong buồng. Gấm ở nhà chị Lài, dốc Gạch, xa sông.
– U ơi. – Anh gọi. – Con Hến đâu?
U chống gậy đi ra cửa buồng. Gió thổi tung tà áo nâu của u.
– Nó sang bà Hòe. – U nói. – Nó mang kẹo đựng trong cái bát sen. Nó bảo bố cho rồi. Từ hai tuần trước.
Kiệm đứng sững giữa gian nhà. Cái gì đó trong đầu anh rơi xuống, như bao lạc trượt khỏi vai.
Ừ. Ừ, ừ.
Anh đã nói thế. Hai tuần trước. Ở cái bàn gỗ này. Với một tờ fax hai mươi tấn trong tay.
– Nó đi lúc nào?
– Lúc nãy. Hai rưỡi. – U nhìn mặt anh, và giọng u đổi. – Nó bảo nó đi đường đê, đi đò thằng Khảm…
Kiệm đặt thằng Thóc vào tay u. Anh không nhớ mình đã nói gì với u. Anh chỉ nhớ cái cổng sắt, cái then đặt cao anh đóng từ năm chín sáu, bàn tay anh giật nó ra.
Rồi anh chạy.
Chạy qua con ngõ dốc. Chạy qua hai hàng tre đang quằn quại trong gió. Mưa bắt đầu rơi, những hạt to như hạt lạc, quất vào mặt anh rát buốt. Bụi đất, lá tre, rơm rác bay tung. Trước mặt anh, ở cuối con đường đất, mặt sông Lăng đã chuyển sang màu chì, dựng lên từng con sóng trắng đầu.
Ở một kiếp khác, vào đúng buổi chiều này, người ta đã dắt anh đi trên con đường này, lúc trời đã tối và mọi thứ đã xong. Qua chợ. Qua hai hàng tre. Ra đến đây.
Lần này không ai dắt.
— Hết chương 33 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe