Chương 34: Người lái đò
Khảm nhìn thấy đám mây từ lúc hai giờ năm mươi.
Nó nằm ở phía thượng nguồn, sau rặng tre bờ bãi, thấp, đen, chân mây phẳng như người ta lấy dao cắt. Ông Khuể dạy anh: mây thượng nguồn mà chân phẳng thì nửa tiếng nữa mới đến, chân mây tua rua như cái chổi thì mười phút. Chân đám mây này phẳng. Mặt sông còn lặng như tờ, nắng còn chang chang trên mấy bậc đá.
Một chuyến sang bãi mất mười hai phút. Anh tính thế.
Trên bến có năm người chờ. Hai bà ở xóm Bãi Giữa đi chợ phiên thị xã về, quang gánh lỉnh kỉnh. Một ông cụ dắt cái xe đạp có buộc bao cám. Một thằng bé chừng mười tuổi ôm con gà mái. Và con Hến.
Con bé đứng ở bậc đá thứ hai, hai tay ôm một cái gì bọc trong cái khăn mặt trắng, mặc cái áo hoa vàng, tóc tết hai bím. Nó thấy anh thì cười.
– Chú Khảm ơi, cháu sang bà Hòe.
– Bố mẹ cháu biết không?
– Bố cho cháu từ hai tuần trước. – Con bé nói. – Cháu đi đường đê, không đi đường hàng tre.
Khảm nhìn con bé. Rồi nhìn đám mây. Chân mây vẫn phẳng.
– Lên đi. – Anh nói. – Ngồi giữa, cạnh bà kia. Ôm chặt cái gì của cháu vào.
Anh đẩy sào. Đò rời bến lúc hai giờ năm mươi lăm.
Ba năm ba tháng trong trại, đêm nào Khảm cũng nghĩ đến một con dốc có cây gạo ở đầu. Không phải nghĩ về cái xe đá chết máy, cái ấy thì anh không nghĩ. Anh nghĩ về một bàn tay nắm cổ tay anh trên vô lăng, không giật, chỉ nắm, rất chặt. Tao xin mày. Anh nghĩ về câu ấy, rồi nghĩ về câu anh hỏi thằng Kiệm dưới cột đèn phố Ga. Thế thì mày là cái thằng gì.
Thằng Kiệm không trả lời. Ba năm ba tháng, anh tự trả lời hộ nó đủ kiểu. Thằng gặp may. Thằng xem bói. Thằng điên. Thằng có ma theo. Không câu nào vừa.
Đò ra đến giữa sông thì gió đến.
Không phải gió thổi. Gió đập. Một luồng gió lạnh buốt từ phía thượng nguồn ập xuống mặt sông, mặt nước đang lặng như tờ bỗng dựng lên thành những con sóng nhọn đầu, trắng bọt, chạy ngang qua lòng sông như đàn trâu chạy. Khảm ngẩng lên. Đám mây đã không còn ở sau rặng tre. Nó ở ngay trên đầu. Chân mây không còn phẳng nữa. Nó tua rua, quét xuống mặt nước như một cái chổi khổng lồ.
Ông Khuể nói đúng. Chỉ có điều ông không nói gió có thể đổi ý nhanh thế nào.
– Ngồi thấp xuống! – Khảm gào. – Ngồi xuống sàn đò! Bám vào mạn!
Hai bà đi chợ ngồi thụp xuống, ôm lấy quang gánh. Ông cụ buông cái xe đạp, nó đổ đánh rầm vào mạn đò. Con gà mái vùng khỏi tay thằng bé, bay vụt ra mặt sông, rơi xuống nước, kêu quang quác rồi im. Mưa trút xuống, những hạt to như hạt lạc, quất vào mặt rát như ai ném sỏi.
Khảm quay mũi đò. Không sang bãi nữa. Về bến. Bến gần hơn bãi một trăm mét, và bến có bậc đá.
Một con sóng đập vào mạn trái. Đò nghiêng. Nước sông tràn qua mạn, đổ vào khoang, ngập đến mắt cá chân. Hai bà đi chợ hét lên. Ông cụ nằm rạp xuống sàn, ôm lấy cái xe đạp.
Con Hến không nằm xuống.
Con bé ngồi giữa đò, cạnh bà đi chợ, hai tay vẫn ôm cái bọc khăn mặt vào ngực. Khi đò nghiêng, cái khăn trượt ra, và Khảm thấy cái gì ở bên trong. Một cái bát. Trắng, có bông hoa màu xanh. Kẹo lạc trong bát văng ra sàn đò. Con bé chồm người theo cái bát, vươn tay ra chụp lấy nó.
Một con sóng nữa.
Đò nghiêng sang phải. Con bé đang chồm người ra, mất thăng bằng. Nó không kêu. Khảm không nghe thấy nó kêu. Anh chỉ thấy cái áo hoa vàng lộn qua mạn đò, rồi mặt nước màu chì khép lại.
Anh không nghĩ gì.
Anh nhét mái chèo vào tay ông cụ, gào lên một câu mà sau này anh không nhớ là câu gì, rồi lao xuống.
Nước sông tháng Sáu ấm hơn nước ao. Đục. Đặc phù sa. Mở mắt ra không thấy gì, chỉ thấy một màu nâu vàng mờ mịt. Dòng chảy kéo anh về phía hạ lưu như có ai túm chân. Anh ngoi lên. Mưa quất vào mặt. Sóng trùm qua đầu. Anh đảo mắt nhìn quanh.
Mười mét phía dưới, một cái chấm vàng nổi lên, chìm xuống, rồi nổi lên.
Con bé không giãy. Con bé nằm ngửa trên mặt nước, đầu ngóc lên, hai chân đạp, đạp, đạp, đúng như anh dạy ở cái ao sau xí nghiệp sứ. Bơi chưa được thì phải biết nổi. Biết nổi thì không chết.
Khảm bơi. Ba năm ba tháng trong trại anh không bơi một sải nào. Hai cánh tay anh nặng như hai bao lạc. Anh bơi xuôi theo dòng, để nước đẩy anh đi, sải tay chéo về phía cái chấm vàng. Một sóng trùm qua. Anh mất nó. Anh ngoi lên, thấy lại.
Rồi tay anh chạm vào tóc con bé. Một bím tóc tết. Anh nắm lấy, kéo nó vào người, vòng một tay qua dưới nách nó, lật ngửa nó lên trên ngực mình.
– Chú đây. – Anh nói, nước sông tràn vào miệng. – Chú đây. Đạp chân đi. Đạp đi.
Con bé đạp. Nó ho sặc sụa, nước sông phun ra từ mũi, từ miệng. Nhưng nó đạp.
Khảm quay đầu tìm bờ. Bến Lăng ở phía trên, chếch về tay phải, những bậc đá lờ mờ trong mưa. Anh không bơi ngược dòng được. Anh bơi chéo, để dòng nước đẩy hai người trôi xuống dưới bến một quãng, nơi bờ đất thoai thoải có mấy cây tre đổ chìm một nửa dưới nước.
Và anh thấy trên bến có một người.
Một người đàn ông chạy xuống những bậc đá, ngã, đứng dậy, chạy tiếp. Không dừng ở bậc cuối cùng. Lội xuống. Nước đến đầu gối. Đến thắt lưng. Đến ngực. Lội dọc bờ, ngược lại với dòng nước, về phía hai người, hai cánh tay giơ ra phía trước như người mù.
Thằng Kiệm.
Cái thằng bám chặt hai tay vào mạn đò mỗi lần qua sông. Cái thằng ngồi trên bờ ao suốt hai mùa hè không dám xuống nước. Nó đang lội ở chỗ nước đến ngực, giữa mưa, giữa sóng, mặt trắng bệch, miệng há ra gọi một cái tên mà gió cuốn đi mất.
Khảm đạp chân thêm mấy cái. Dòng nước đẩy hai người vào đúng chỗ thằng Kiệm đang đứng. Thằng Kiệm chụp lấy con bé. Chụp bằng cả hai tay, kéo nó vào ngực, ôm chặt, rồi lùi dần vào bờ, chân trượt trên đất bùn, không buông.
Khảm bám vào một thân tre đổ, thở. Rồi anh lội vào sau.
Trên bờ đất, dưới gốc tre, thằng Kiệm quỳ xuống, đặt con bé nằm nghiêng trên đùi mình. Con bé ho. Ho dữ dội, nôn ra một ngụm nước sông vàng đục. Rồi nó khóc. Khóc to, khóc thét lên, như đứa trẻ con vừa ngủ dậy không thấy mẹ.
Thằng Kiệm không khóc ra tiếng. Nước mắt chảy xuống mặt nó, lẫn với nước mưa, nhỏ xuống tóc con bé. Nó cúi gập người xuống ôm lấy con, cả cái lưng run lên bần bật.
Khảm đứng nhìn. Anh mới thấy thằng Kiệm khóc một lần trong đời, năm nó lên tám, bị bố đánh vì tội trốn học đi tắm sông với anh. Còn cái đêm thứ Sáu tháng Chín năm chín hai, khi anh say đập cổng nhà nó, nó ngồi cạnh anh ở bậc cổng, không khóc, chỉ mắt đỏ hoe.
Lần này khác. Lần này nó khóc như người đã từng ngồi ở đúng chỗ này, khóc một lần rồi. Như người khóc nốt một lần khóc từ lâu lắm.
Mưa ngớt dần. Gió đã thổi qua, kéo đám mây về phía hạ lưu. Trên sông, cái đò của ông Khuể dập dềnh trôi vào bờ cách đấy vài chục mét, ông cụ dắt xe đạp vẫn nắm mái chèo, hai bà đi chợ thì đang tát nước ra khỏi khoang bằng cái nón. Không ai mất gì, trừ con gà mái.
Người ta bắt đầu kéo đến bến. Hàng xóm. Bà Sáu. Thằng bé ôm gà khóc mếu vì mất gà. Rồi Gấm, chạy từ phía hàng tre, tóc ướt sũng, dép tuột mất một chiếc. Cô quỳ xuống cạnh chồng, cạnh con. Cô không nói gì. Cô chỉ đặt bàn tay lên lưng con gái, rồi bàn tay kia lên lưng chồng.
Con Hến ngẩng lên, mặt nhòe nhoẹt nước mắt nước sông.
– Mẹ ơi. – Nó nói qua tiếng nấc. – Cái bát sen. Con đánh rơi cái bát rồi.
Khảm quay lại. Anh lội ra chỗ cái đò đã cập bờ, bước lên khoang, cúi xuống sàn đò ngập nước. Kẹo lạc vương vãi, nhũn ra. Dưới cái ghế ngang ở giữa đò, kẹt vào khe ván, có một cái gì trắng.
Cái bát. Nó không rơi xuống sông. Nó rơi xuống sàn đò, lăn vào gầm ghế, kẹt ở đấy. Miệng bát mẻ một miếng nhỏ bằng móng tay, chỗ va vào thanh gỗ. Bông sen màu xanh trong lòng bát thì vẫn nguyên.
Anh mang cái bát lên bờ, đặt vào tay con bé. Con Hến ôm nó vào ngực, khóc to hơn.
Thằng Kiệm ngẩng lên nhìn anh. Hai thằng nhìn nhau rất lâu, giữa bờ đất bùn, giữa đám người đứng xem, mưa còn lất phất.
– Tao nợ mày. – Thằng Kiệm nói. Giọng khàn đặc.
Khảm lắc đầu. Anh nhớ một con dốc có cây gạo ở đầu, một bàn tay nắm cổ tay anh trên vô lăng.
– Không. – Anh nói. – Tao trả mày.
Anh không hỏi nó câu ấy nữa. Thế thì mày là cái thằng gì. Anh nhìn thằng Kiệm quỳ trong bùn, ôm con, ướt như chuột lột, cái thằng sợ nước suốt tám năm vừa lội ra đến chỗ nước ngang ngực. Anh nghĩ: Thằng gì cũng được. Nó là bạn tao.
Tối hôm ấy, Khảm ra bến buộc lại cái đò. Trời đã tạnh hẳn, trăng rằm lên khỏi rặng tre bên bãi, tròn và vàng, mặt sông lấp loáng như vừa được ai lau.
Anh đang thắt nút dây thì nghe tiếng chân trên bậc đá. Thằng Kiệm đi xuống, áo khô, tóc còn ẩm. Nó không đứng ở bậc trên cùng. Nó đi xuống đến bậc cuối, ngồi xuống, hai chân thả gần chạm mặt nước.
– Con Hến ngủ rồi. – Nó nói. – Ôm cái bát mà ngủ.
– Ừ.
Hai thằng ngồi im. Ở phía bến xe vọng lại tiếng còi xe khách, hai tiếng ngắn một tiếng dài.
– Xe Hà Nội về đấy. – Thằng Kiệm nói. – Tám giờ.
Khảm không hiểu sao nó lại nói thế, giọng như người đọc một con số đã chờ rất lâu. Anh không hỏi.
– Mai mày dạy con Hến tiếp. – Thằng Kiệm nói. – Ở ao. Tao ra ngồi xem.
– Mày xuống nước mà dạy. – Khảm nói. – Chiều nay mày lội đến ngực rồi đấy thôi.
Thằng Kiệm nhìn mặt sông một lúc lâu. Rồi nó cười, lần đầu tiên trong ngày, một cái cười rất mệt.
– Ừ. – Nó nói. – Mai tao xuống.
— Hết chương 34 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe