Chương 19: Lời khai
– Vì tôi ngờ. – Kiệm nói.
Đại úy Vinh không ghi ngay. Anh ta để cây bút nằm ngang trên tờ biên bản, chờ.
– Lần thứ nhất, tháng Chín, tôi bê cái thùng ấy xuống cân, thấy nặng. – Kiệm nói. – Trong túi áo tôi có con dao rọc giấy. Tôi đã cầm nó ra. Rồi tôi cất vào.
– Vì sao anh cất vào?
– Tháng Giêng năm nay tôi đi theo xe nó lên Lạng Sơn. – Anh nói. – Đêm về, nó suýt đâm vào một cái xe đá chết máy giữa dốc. Năm bước chân nữa thì nó chết. Từ hôm ấy nó mất việc, nó nợ tôi, nó lái xe cho tôi, nó nộp tiền cho vợ tôi đếm. Tôi mà rạch cái thùng ấy ra trước mặt thợ, là tôi bảo nó: tao không tin mày. Tôi không muốn bảo nó câu ấy.
– Thế là anh chọn tin.
– Tôi chọn tin. – Kiệm nói. – Rồi tôi ghi lại, vì tôi không tin hẳn.
Đại úy Vinh cầm bút lên, viết. Cái quạt trần có một cánh hơi vênh, mỗi vòng lại kêu tạch một tiếng nhỏ.
– Anh biết tôi viết gì không? – Anh ta hỏi, không ngẩng lên.
– Không ạ.
– Tôi viết đúng câu anh vừa nói. – Đại úy Vinh nói. – Tôi không viết hộ anh câu nào cho nó đẹp. Lát nữa anh đọc lại.
– Anh Vinh. – Kiệm nói. – Tám cái thùng có thuốc lá ấy, tổ kiểm soát có cân không?
Đại úy Vinh lật mấy tờ giấy trong cặp, dừng ở một tờ.
– Có. Thùng nhẹ nhất hai mươi cân tám, thùng nặng nhất hai mươi mốt cân ba.
– Chiều qua tôi cân cả hai mươi thùng ở xưởng. – Kiệm nói. – Thủ kho của tôi ghi. Thùng nào cũng hai mươi mốt cân. Mỗi thùng nhét ba chục cây thuốc mà vẫn nặng đúng như thùng kẹo, thì phải rút bớt kẹo ra. Rút ra ở đâu?
– Có thể rút ra trước khi cân. – Đại úy Vinh nói, giọng không đổi. – Anh xếp sẵn tám thùng ấy trong kho, cân cho đủ hai mươi mốt, rồi cho lên xe.
– Có thể. – Kiệm nói. – Thế thì anh cho tôi xin một việc. Anh cân hộ tôi mấy túi kẹo ở lớp trên trong tám thùng ấy.
Lần đầu tiên, Đại úy Vinh nhíu mày.
– Để làm gì?
– Túi kẹo nhà tôi in chữ cân đủ năm trăm gam. – Kiệm nói. – Vợ tôi cân từng túi, hai lần, ở hai cái cân đĩa khác nhau. Từ ngày in nhãn đến giờ chưa có túi nào ra khỏi xưởng mà dưới bốn trăm chín mươi tám gam. Anh lấy túi ở mấy cửa hàng phố Hàng Bông bán kẹo của tôi mà cân, anh sẽ thấy. Nếu túi trong tám thùng kia cũng đủ năm trăm, thì anh cứ coi như tôi xếp. Nếu không đủ, thì kẹo ấy không phải nhà tôi gói.
Đại úy Vinh nhìn anh rất lâu, rồi viết thêm một dòng vào cái sổ tay bìa nhựa đen để riêng bên cạnh biên bản.
– Còn một chuyện nữa. – Kiệm nói. – Xe tôi chạy Hòn Gai chuyến nào cũng đến bến phà vào quãng mười giờ đêm. Phiếu tháng Chín, tháng Mười có ghi giờ xe chạy, giờ xe về. Chỗ tổ kiểm soát dừng xe còn chưa tới phà. Một giờ mười lăm sáng.
– Tức là xe của anh chậm ba tiếng.
– Ít nhất là ba tiếng. – Kiệm nói. – Tôi không biết ba tiếng ấy nó ở đâu.
Đại úy Vinh xoay tờ biên bản lại cho Kiệm đọc. Đúng những gì anh nói, kể cả câu tôi chọn tin. Anh ký.
Về đến nhà thì trời đã tối. Gấm ngồi ở cái bàn gỗ gian giữa, không có sổ sách gì trước mặt, chỉ có hai bàn tay đặt trên mặt bàn. U ngồi ở đầu giường, nhai trầu. Cái Hến đang dỗ thằng Thóc ăn cháo, mỗi thìa cháo lại nói một câu như người lớn: Ăn đi, ăn cho bố đỡ lo.
Kiệm kể. Gấm nghe không ngắt câu nào. Nghe đến đoạn tôi chọn tin, cô cụp mắt xuống mặt bàn.
– Em biết anh không mở. – Cô nói. – Hôm tháng Chín em có thấy phiếu. Em đã định hỏi anh. Rồi em cũng không hỏi.
– Sao em không hỏi?
– Vì em cũng muốn tin. – Gấm nói. – Duyến mua cái ti vi, em đã muốn tin là tiền thưởng.
U nhổ bã trầu, lau miệng bằng mu bàn tay.
– Hai vợ chồng mày cùng muốn tin. – U nói. – Thế thì cùng đi mà chịu.
Mười giờ đêm có tiếng gõ cổng. Không đập. Gõ, ba tiếng, rất khẽ, như người sợ đánh thức cả dãy phố.
Duyến đứng ngoài cổng sắt, tay dắt cu Bờm, tay kia vẫn xách cái túi vải căng phồng lúc chiều. Họ không cho cô gửi đồ vào. Thằng bé đã ngủ gật, đứng mà gà gật như con gà con.
– Chú Kiệm. – Duyến nói. – Cho mẹ con em ngủ nhờ một đêm.
Gấm ra bế cu Bờm vào, đặt nó nằm cạnh cái Hến trên giường. Hai đứa trẻ quay lưng vào nhau, ngủ ngay. Duyến ngồi ở bậc thềm gian giữa, không chịu lên ghế, hai tay ôm cái túi vải trong lòng.
– Lúc tối hai thằng bên ông Tạo đến tận nhà em. – Cô nói. Giọng cô không run nữa, đều đều như đã nói câu này trong đầu cả chục lần trên đường sang đây. – Chúng nó không quát. Chúng nó còn cho thằng Bờm cái kẹo. Rồi một thằng bảo: Chị vào thăm anh Khảm thì nhắn anh ấy giữ mồm. Thằng Bờm sáng nào cũng đi mẫu giáo qua cửa bến xe một mình.
Gấm đặt tay lên vai Duyến.
– Em không biết gì đâu chị ạ. – Duyến nói, quay sang Gấm. – Cái ti vi, anh ấy bảo tiền bà đại lý Hòn Gai thưởng. Em tin. Em muốn tin. Từ hồi hè anh ấy đêm nào cũng không ngủ được, ra sân ngồi hút thuốc. Có một đêm say, anh ấy bảo: Tao làm gì cũng vì thằng Bờm. Em tưởng anh ấy nói lúc say.
Cô mở cái túi vải ra, lục dưới mấy cái áo của chồng, lôi ra một cái phong bì giấy xi măng.
– Cái này em thấy trong hộp các-tông đựng ti vi. – Cô nói. – Anh ấy nhét dưới lớp xốp. Hai triệu. Em không dám tiêu, không dám nói với ai.
Kiệm nhìn cái phong bì. Hai triệu đồng. Tháng nào Gấm cũng trừ nợ, đưa thằng Khảm cầm về có hai trăm nghìn.
– Sáng mai chị đi với anh lên tỉnh. – Anh nói. – Mang cả cái này. Nói đúng như chị vừa nói với Gấm.
– Anh ấy sẽ ghét em. – Cô nói.
– Có thể. – Kiệm nói. – Nhưng thằng Bờm thì đi học được.
Hai hôm sau, sáng thứ Sáu, Đại úy Vinh nhắn người đến xưởng tìm Kiệm, hẹn chiều lên tỉnh, mang theo người thủ kho.
Lần này trên bàn có một cái cân đĩa bằng đồng của phòng đo lường, một hộp quả cân nhỏ lót nhung đỏ, sáu túi kẹo in nhãn đỏ dán mẩu giấy ghi số thùng. Thêm ba túi khác không dán gì.
– Sáu túi này lấy ở lớp trên tám thùng tang vật. – Đại úy Vinh nói. – Ba túi này người của tôi mua sáng nay ở một cửa hàng phố Hàng Bông. Tôi cân rồi. Anh muốn thì anh cân lại.
Kiệm không cân lại. Anh nhìn những con số Đại úy Vinh đã viết bằng bút chì lên từng mẩu giấy. Bốn trăm bảy mươi hai gam. Bốn trăm năm mươi lăm. Bốn trăm tám mươi. Bốn trăm sáu mươi tám. Ba túi mua ở Hàng Bông: năm trăm linh hai, năm trăm, năm trăm linh năm.
Anh cầm một túi tang vật lên, nhìn qua lớp nilon. Những miếng kẹo bên trong không vuông. Có miếng to bằng ba đốt ngón tay, có miếng bằng một đốt, mép cắt xiên, lạc lòi ra ở rìa. Gấm mà thấy thì sẽ đặt túi kẹo xuống như đặt một cái bát men chảy.
– Cái nhãn thì đúng. – Đại úy Vinh nói. – Mực, chữ, cái quả cân to. Không khác gì nhãn của anh.
– Nhãn đúng. – Kiệm nói. – Kẹo không phải của tôi.
Ông Phấn đứng sau lưng anh từ nãy. Ông không nhìn túi kẹo. Ông nhìn mấy tấm ảnh đen trắng ở góc bàn, ảnh chụp tám cái thùng ở chốt kiểm soát, nắp thùng có số viết bằng bút dạ đen. Ông tháo kính ra lau, đeo vào, cúi sát xuống.
– Số này không phải chữ tôi. – Ông nói.
– Ông chắc không?
– Tôi làm kế toán mười lăm năm, làm kho tám năm. – Ông Phấn nói, giọng run nhưng chữ nào ra chữ ấy. – Tôi viết số bảy có gạch ngang ở giữa, kiểu ngày xưa người ta dạy. Số bốn của tôi không khép đầu. Anh xem phiếu của tôi thì biết. Thùng số bảy trong ảnh này không có gạch. Người viết đã cố bắt chước, nhưng người ta không biết bắt chước cái gì mình không để ý.
Đại úy Vinh lật hộp phiếu, rút ra phiếu ngày hai mươi tư tháng Mười, đặt cạnh tấm ảnh. Anh ta nhìn rất lâu. Rồi anh ta tháo kính ra lau, như ông Phấn vừa làm, và hai người đàn ông đeo kính nhìn nhau một cái, không ai cười.
– Tôi chưa nói được gì với anh. – Đại úy Vinh bảo Kiệm, lúc tiễn ra cửa. – Anh về chờ.
Kiệm chờ năm ngày.
Sáng thứ Tư, ngày mồng một tháng Mười một, Đại úy Vinh tự đến cổng xưởng. Anh ta đứng trước hai tờ niêm phong một lúc, đọc dòng chữ sơn trắng đã bong của ông Chất, rồi mới quay ra chỗ Kiệm.
– Lê Văn Khảm khai lại rồi. – Anh ta nói. – Tôi được phép nói với anh một phần, vì anh là chủ xe và chủ hàng.
– Hôm qua tôi đọc cho anh ấy nghe lời khai của vợ. – Đại úy Vinh nói. – Có một câu chị ấy dặn tôi đọc đúng nguyên văn. Bờm ở với chị Gấm rồi. Anh nói thật đi. Anh ấy ngồi im gần một tiếng. Rồi anh ấy nói.
Chiều hai mươi tư tháng Mười, xe ra khỏi xưởng thì không rẽ lên quốc lộ ngay. Nó đi theo đường đê xuống phía hạ lưu, hai mươi cây số, đến một cái lò gạch bỏ hoang ở bãi sông xã Hạ Lăng. Ở đó có người của ông Tạo chờ sẵn, với tám cái thùng các-tông đã đóng xong, nắp đã viết số. Họ bê tám thùng của xưởng xuống, bê tám thùng của họ lên. Đổi thùng mất mười lăm phút. Nhưng xe máy chở thuốc từ trên kia xuống bị chậm, Khảm phải ngồi trong lò gạch chờ hơn ba tiếng, hút hết nửa bao thuốc.
– Hai lần trước thì anh ấy nhét ngay trong kho của anh, buổi tối trước hôm xe chạy. Ít một, mỗi lần hai thùng. – Đại úy Vinh nói. – Lần này anh cân cả ba thùng ở chuyến tháng Mười, anh ấy về nói lại với Tạo. Tạo bảo: thằng ấy bắt đầu cân rồi, đừng đụng vào kho nó nữa, đổi thùng ở ngoài.
Kiệm đứng im. Chính cái cân của anh đã đẩy người ta ra ngoài cổng xưởng, ra một cái lò gạch bỏ hoang, ra một con đường đêm có tổ kiểm soát. Nếu anh không cân, có khi còn mười chuyến nữa trót lọt.
– Thùng các-tông của họ ở đâu ra? – Anh hỏi.
– Anh ấy lấy ở đống thùng rỗng góc xưởng anh, mỗi lần vài cái, gấp phẳng mang về. – Đại úy Vinh nói. – Còn túi in nhãn thì người của Tạo có sẵn một bao tải, túi mới tinh. Anh ấy không biết họ lấy ở đâu. Tám thùng kẹo thật của anh, chúng tôi tìm thấy hôm qua, vứt dưới đống rơm trong lò gạch. Chuột gặm mất hai thùng.
Anh ta lấy trong cặp ra một tờ giấy chép tay, đọc lên một câu.
– Hỏi: Lời khai lúc ba giờ sáng ngày hai mươi lăm tháng Mười, rằng chủ cơ sở biết thùng nặng, có đúng không. Trả lời: Không đúng. Anh Kiệm không biết. Hai lần ấy tôi nói dối anh ấy. Anh ấy tin tôi.
– Tôi đọc cho anh nghe câu ấy không phải vì anh ấy nhờ. – Anh ta nói. – Anh ấy không nhờ gì cả.
Ngày mười lăm tháng Mười một, hai tờ giấy niêm phong được bóc khỏi cửa kho số ba, có biên bản, có ông Toàn cán bộ phường ký làm chứng. Kiệm không bị truy cứu gì. Chiếc xe tải đầu vuông xanh nước biển thì vẫn nằm trong bãi của công an tỉnh, chờ đến ngày tòa xử.
Mười tám người làm, sáng hôm ấy có mười một người quay lại. Bảy người kia nhắn qua chị Lài là đã tìm được việc khác. Không ai nói vì sao.
Anh Nghĩa ở công ty thực phẩm tỉnh bên gửi một lá thư đánh máy, lời lẽ lịch sự, báo công ty tạm dừng nhận hàng đến khi có kết luận cuối cùng của cơ quan chức năng. Ở Hà Nội, bà Duệ không nhắn gì. Một tuần, hai tuần. Cái ngõ cạnh chợ Bắc Qua im như chưa từng có ai trong đó gẩy bàn tính.
Chiều thứ Bảy, sau khi Gấm trả lương cho mười một người, có một chiếc xe máy đỗ ở cổng xưởng. Tấn bước xuống, áo sơ mi kẻ cắm thùng, cái máy nhắn tin ở thắt lưng. Anh ta đứng ở cửa kho, nhìn những cái chum sành, nhìn dòng chữ sơn trắng trên tường như người ta nhìn một cái nhà sắp bán.
– Anh Kiệm. – Tấn nói. – Mẹ tôi chưa muốn nhắc đến anh. Nhưng tôi thì làm ăn, tôi không giận ai. Sáu cửa hàng của tôi vẫn bán kẹo của anh được. Nhưng bây giờ người ta mua kẹo nhà anh là mua kèm cả cái chuyện thuốc lá lậu. Tôi phải bán rẻ đi mới có người mua. Muốn tôi lấy lại thì anh giảm cho tôi mười lăm phần trăm.
— Hết chương 19 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe