AI Truyện

🏙️ Đô thị & làm giàu

Ông có lên dây cho cái đồng hồ không?

Bốn mươi năm chờ người chuộc · Chương 1/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 13 phút đọc🎧 11 phút · giọng Bảo Đức

Đọc

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Cánh cửa cuốn mới kéo lên được nửa chừng…
  2. 1:43Bà muốn chuộc. Nhưng hôm nay bà chưa có…
  3. 3:26Chào Lãi. – Khuê nói.
  4. 5:04Cô mở sổ thu chi năm ngoái của ông.…
  5. 6:07Đếm được bao nhiêu?
  6. 7:27Mép xé răng cưa.
  7. 9:03Cô lật đến tháng Chín năm 1985. Tiền ghi…
  8. 10:22Ra có việc. Có người hỏi mua nhà rồi.…

Chương 1: Ông có lên dây cho cái đồng hồ không?

Cánh cửa cuốn mới kéo lên được nửa chừng thì có tiếng gõ vào tôn, ba tiếng, nhẹ như gõ cửa phòng người ốm.

– Cháu ơi, hôm nay ông có lên dây cho cái đồng hồ không?

Khuê đang khom người dưới mép cửa. Ngoài vỉa hè là một đôi dép nhựa nâu, một gấu quần lụa đen, và một cái làn nhựa đỏ đựng mớ rau muống. Cô đẩy nốt cánh cửa lên. Tiếng tôn rít một hồi dài, làm con mèo trong nhà nhảy xuống khỏi chỗ nào đó đánh bịch một cái.

Bà cụ đứng ngoài nhỏ người, tóc búi, áo len cài kín cổ dù trời mới chớm heo may. Bà nhìn Khuê, nhìn vào trong tiệm tối om, rồi lại nhìn Khuê.

– Ông cháu mất rồi bà ạ. – Khuê nói. – Hôm qua nhà cháu vừa làm bốn mươi chín ngày.

– Bà biết. Hôm đưa ông, bà có đi. – Bà cụ gật đầu, như thể chuyện ấy không liên quan đến câu bà vừa hỏi. – Bà hỏi cái đồng hồ.

– Cái đồng hồ nào ạ?

Bà cụ thò tay vào túi áo len, lấy ra một cái ví vải gấp làm tư, mở ví, rút ra một mẩu giấy mỏng tang đã ngả vàng. Bà đưa qua, cầm bằng cả hai tay.

Khuê nhận lấy. Giấy pơ-luya, loại giấy mỏng ngày xưa người ta dùng để lót bản đánh máy. Trên đó là nét chữ nghiêng của ông, mực tím: "Đồng hồ nam, mặt trắng, dây da nâu. Ông Phùng Khắc Viêm. Hai triệu. Hạn sáu tháng." Ngày ghi tháng Tư năm ngoái. Mép bên phải của mẩu giấy không thẳng mà lởm chởm, răng cưa, như một bờ biển vẽ trên bản đồ.

Khuê đứng nhìn cái mép giấy ấy lâu hơn cần thiết.

– Ông nhà bà sáng nào cũng hỏi. – Bà cụ nói. – Ông ấy lẫn rồi cháu ạ. Cái gì cũng quên, mỗi cái đồng hồ là không quên. Sáng ra mở mắt là hỏi: "Ông Quyến đã lên dây chưa?" Bà bảo lên rồi. Hôm nay ông ấy lại hỏi, bà bảo lên rồi, ông ấy bảo: "Bà nói dối. Ông Quyến chết rồi." Thế là bà đi.

Bà cụ nói câu cuối bình thản như nói giá rau.

– Bà muốn chuộc lại ạ?

– Bà muốn chuộc. Nhưng hôm nay bà chưa có đủ. – Bà vỗ vỗ vào cái làn. – Bà đi chợ đã, bà ra hỏi cháu xem cái đồng hồ còn không. Ông cháu bảo quá hạn ông cũng không bán. Nhưng ông cháu mất rồi.

– Còn bà ạ. – Khuê nói, dù cô chưa biết cái đồng hồ nằm ở đâu. – Cháu chưa bán gì cả. Mai bà quay lại nhé. Bà giữ cái giấy này.

Cô trả mẩu giấy. Bà cụ gấp nó lại đúng theo nếp cũ, cho vào ví, gấp ví làm tư, cho vào túi áo. Đi được mấy bước, bà quay lại.

– Bà tên Lụa. Hà Thị Lụa. Ông cháu biết bà.

– Vâng ạ. Cháu là Khuê.

– Bà biết. Cái con bé ngày xưa ngồi trên quầy ghép giấy. – Bà Lụa cười, lộ hàm răng giả hơi rộng. – Lớn thế này rồi.

Rồi bà đi về phía đầu phố, cái làn đỏ đung đưa.

Khuê đứng giữa cửa một lúc. Mùi hoa sữa từ cây đầu ngõ trôi xuống, nồng đến mức hơi ngợp. Ở góc phố, hàng chè của bà Mẫn đã dựng ghế nhựa, ấm nhôm sôi trên bếp than tổ ong.

Cô quay vào, bật đèn.

Tiệm cầm đồ của ông nội cô không to. Nhà ống, mặt tiền hơn ba mét, phần tiệm chỉ chiếm gian ngoài. Một cái quầy gỗ lim chạy ngang, mặt quầy lắp kính dày, phía trên là song sắt sơn xanh đã tróc, chừa một ô vuông nhỏ đủ để đưa đồ qua. Sau quầy là cái ghế mây ông ngồi bốn mươi năm, lưng ghế lõm thành hình lưng ông. Trên tường, tờ lịch bloc còn dừng ở ngày ông nhập viện.

Góc trái mặt kính có một vết nứt. Không lớn, chừng một bàn tay, toả ra từ một điểm như vết chân chim in trên đất ướt. Ai đó đã dán đè lên đấy mấy lớp băng dính trong, dán cẩn thận, mép thẳng tắp. Băng dính lâu năm đã ngả màu mật ong, sờ vào hơi dính tay.

Khuê nhớ vết nứt này. Hồi nhỏ cô từng hỏi ông vì sao không thay kính. Ông bảo: "Thay làm gì, nó có làm ai đứt tay đâu." Cô tám tuổi, thấy câu ấy hợp lý, không hỏi nữa.

Trên nóc cái két sắt sau quầy, con mèo mướp vàng đã leo lại chỗ cũ, nằm cuộn tròn, mở một mắt nhìn cô.

– Chào Lãi. – Khuê nói.

Con mèo nhắm mắt lại.

Ông đặt tên nó là Lãi. Cả nhà phản đối, cô Hương bảo nghe như chửi khách. Ông bảo: "Cả cái tiệm này có mỗi nó là lãi." Bây giờ, ngồi xuống cái ghế mây, mở cái máy tính xách tay của mình trên mặt kính, Khuê bắt đầu nghĩ ông nói thật.

Cô làm kiểm toán sáu năm. Thói quen nghề nghiệp là khi bước vào một chỗ lạ, việc đầu tiên là đếm.

Hôm qua, sau khi khách khứa về hết, mâm cỗ bốn mươi chín ngày đã dọn, cô Hương gọi cô lên tầng hai, đứng trước bàn thờ ông, đưa cho cô một chùm chìa khoá. Chìa két, chìa cửa cuốn, chìa ngăn kéo quầy. Và một cái chìa nhỏ bằng đồng, xỏ vào sợi dây đỏ đã bạc màu.

– Cái này ông đeo ở cổ đến hôm cuối. – Cô Hương nói. – Ông dặn đưa con. Không đưa bố con.

– Sao lại không đưa bố con ạ?

– Ông không nói. Cô cũng không hỏi. – Cô Hương nhìn lên di ảnh. – Con định thế nào?

– Con ở lại một thời gian. Con dọn cho xong cái tiệm.

Bây giờ Khuê mở két. Két hai lớp, lớp ngoài khoá bằng chìa, lớp trong khoá số. Cô thử ngày sinh của bà nội, đúng. Bên trong là những ngăn gỗ kéo ra được, mỗi ngăn một món, mỗi món một nửa tờ giấy pơ-luya ghim chặt. Nhẫn. Dây chuyền. Ba chiếc điện thoại. Một cái tẩu thuốc bằng gỗ. Một bộ ấm chén men lam, gói giấy báo.

Cô lấy từng món ra, đặt lên mặt kính, ghi vào bảng tính. Tên đồ. Tên người cầm. Số tiền. Ngày cầm. Ngày hết hạn.

Đến mười giờ, bảng tính có sáu mươi ba dòng. Bốn mươi mốt món còn hạn. Hai mươi hai món đã quá hạn, có món quá hạn đã hơn hai năm.

Tổng tiền ông đang cho vay ra là hơn bốn trăm triệu. Lãi ông ghi đều đặn một rưỡi phần trăm một tháng, tức mười tám phần trăm một năm, thấp hơn cái trần hai mươi phần trăm của luật. Thấp hơn nhiều so với những tiệm cô từng gặp trong hồ sơ kiểm toán, nơi người ta lách bằng đủ thứ "phí bảo quản", "phí thẩm định".

Cô mở sổ thu chi năm ngoái của ông. Cả năm, tiền lãi thực thu chưa tới bốn mươi triệu. Trừ tiền điện, tiền thuế khoán, trừ cả tiền cá khô cho con mèo, ông cũng ghi vào: "cá cho Lãi: 30.000".

Khuê bật cười một mình. Con mèo trên nóc két mở mắt.

– Mày ăn hết lãi của ông rồi. – Cô bảo nó.

– Thế cháu đã có chén chè nào vào bụng chưa?

Bà Mẫn đứng ở ô cửa, tay cầm cái khay nhôm có hai chén chè xanh bốc khói. Bà bảy mươi mốt tuổi, bán chè ở đầu phố này từ hồi còn con gái, người to, tiếng to, đeo cặp kính lão buộc dây chun sau gáy.

– Cháu chào bà.

– Chào gì. Uống đi. – Bà đẩy khay qua ô cửa. – Sáng nào ông cháu cũng hai chén. Một chén uống, một chén để nguội trên quầy đến trưa.

– Bao nhiêu tiền bà?

– Giời ạ. Ông cháu bốn mươi năm có trả tiền chè ngày nào đâu. Cuối năm đưa một cục, bảo "bà Mẫn cầm lấy, tôi không đếm". Bà cũng chả đếm.

Khuê cầm một chén lên. Chè Thái đặc, chát, rồi ngọt hậu ở cuống lưỡi. Đúng vị chè cô uống hồi bé, lén lấy chén nguội của ông trên quầy.

Bà Mẫn nhìn mặt kính bày đầy đồ, nhìn cái máy tính.

– Đếm à?

– Vâng.

– Đếm được bao nhiêu?

– Sáu mươi ba món ạ.

– Thế đếm được người chưa?

Khuê không hiểu. Bà Mẫn cũng không giải thích. Bà cầm cái khay không về, vừa đi vừa quát một thằng bé đá bóng vào chân ghế nhà bà.

Buổi trưa, Khuê ăn một gói xôi mua đầu ngõ rồi mới động đến cái tủ.

Cái tủ gỗ nhỏ nằm sát vách trong cùng của kho, cao ngang ngực, gỗ mít sẫm màu. Hồi nhỏ cô chưa bao giờ thấy nó mở. Hỏi trong đấy có gì, ông bảo: "Đồ của người ta."

Cô tháo sợi dây đỏ khỏi cổ, cắm chìa vào. Ổ khoá cũ kêu một tiếng khô khốc.

Bên trong tủ chỉ có một món.

Một cái bọc to cỡ hai bàn tay chụm lại, gói bằng vải dầu màu cứt ngựa, dây gai buộc chữ thập, nút thắt kiểu thợ. Bọc vải nằm trên một miếng nỉ xanh. Không một hạt bụi.

Ghim vào nút dây là một mẩu bìa cứng và nửa tờ giấy pơ-luya.

Mẩu bìa viết bằng bút bi, chữ của ông, nhưng không phải chữ của những năm gần đây, mà là chữ của một người trẻ hơn, tay vững hơn:

"Của người ta. Ai mang nửa kia của biên nhận 417 đến chuộc thì trả, không lấy lãi. Không ai đến thì đừng bán, đừng mở. — Quyến."

Nửa tờ pơ-luya thì mỏng tới mức gần như trong suốt, đã giòn. Khuê không dám gỡ nó khỏi ghim. Cô cúi xuống đọc. Mực tím đã phai thành màu nâu nhạt. "Số 417. Ngày 19 tháng 10 năm 1985." Dưới đó là một dòng bị mép xé cắt ngang, chỉ còn nửa trên của các con chữ, đọc không ra. Có lẽ là tên đồ. Có lẽ là tên người.

Mép xé răng cưa.

Khuê ngồi bệt xuống nền gạch hoa.

Năm sáu tuổi, cô bị gửi ra Hà Nội ở với ông. Bà nội vừa mất, bố mẹ cô trong Sài Gòn đang vỡ nợ lần thứ nhất. Cô khóc suốt một tuần. Sang tuần thứ hai, ông bế cô đặt lên mặt quầy, đưa cho cô hai xấp nửa tờ biên nhận cũ.

– Ghép lại. Cái nào khớp với cái nào.

Ông có một thói quen không giống tiệm nào: viết biên nhận lên giấy pơ-luya, gấp đôi, rồi xé tay chứ không dùng kéo. Mỗi mép xé một khác, không cái nào giống cái nào. Khách giữ một nửa, ông ghim một nửa vào đồ. Ngày chuộc, hai nửa phải khớp nhau.

– Như vân tay. – Ông bảo cô. – Chữ thì làm giả được. Mép xé thì không ai làm lại được.

Cô bảy tuổi ghép nhanh hơn ông. Cô tám tuổi nhìn một mép xé dưới đèn bàn là bảo được nó của ngăn nào trong két. Khách đến chuộc đồ hay đưa giấy cho cô trước, coi như trò vui. Bà Lụa nhớ cô vì thế.

Hai mươi hai năm sau trò chơi ấy, và bốn mươi năm sau cái ngày ghi trên giấy, nửa tờ biên nhận này vẫn đang chờ nửa kia của nó.

Khuê không mở cái bọc. Cô đóng tủ lại, khoá, đeo sợi dây đỏ trở lại cổ.

Nhưng cô mở cuốn sổ.

Cuốn sổ nằm ở ngăn dưới cùng của cái bàn gỗ trong kho, chung với những cuốn sổ thu chi từ năm 1993 trở đi. Nó khác hẳn những cuốn kia. Sổ kế toán bìa vải xanh, gáy khâu chỉ, giấy kẻ dòng đã vàng. Trang đầu ông viết: "Sổ cho mượn. 1984."

Không phải "cầm đồ". Là "cho mượn".

Hồi ấy cầm đồ tư nhân không được làm, cũng như mua gạo phải có tem phiếu. Nhưng hàng xóm vẫn cần tiền, và ông thì có cái quầy sửa đồng hồ ở gian ngoài. Ông ghi từng dòng: "Bà Tâm số 7 – cái nhẫn – 200 đồng." Không có cột lãi. Cột cuối chỉ có chữ "Trả", và ngày trả.

Cô lật đến tháng Chín năm 1985. Tiền ghi trong sổ đột ngột nhỏ đi, vì đổi tiền. Rồi đến một trang ghi ngày 13 tháng 9.

Trang kế tiếp là ngày 30 tháng 10.

Khuê lật đi lật lại. Cô nhìn vào gáy sổ. Giữa hai trang ấy có sáu cái cuống giấy nhô lên, mỗi cuống chừng nửa đốt ngón tay, sát vào đường chỉ khâu.

Cả nhà vẫn bảo cuốn sổ này "mất mấy trang". Cô nghe câu ấy từ hồi nhỏ, ở bữa cơm, như nghe người ta bảo cái quạt trần kêu to. Mất trang, như mất cái bút.

Cô bật đèn bàn, hạ chụp đèn xuống thật thấp, nghiêng cuốn sổ cho ánh sáng chạy ngang mặt giấy. Sáu cái cuống thẳng tăm tắp, mép phẳng như mặt nước, không một sợi giấy xơ. Không phải bị xé. Không phải bị chuột gặm. Ai đó đã đặt một cái thước sắt dọc gáy sổ, rồi kéo một lưỡi dao lam, sáu lần.

Cô sờ lên trang ngày 30 tháng 10. Trên đó chỉ có một dòng:

"Từ nay không cho mượn nữa."

Phần còn lại của cuốn sổ trắng trơn.

Con mèo Lãi nhảy xuống khỏi nóc két, đi một vòng quanh chân cô, rồi nằm đè lên đúng chỗ ánh đèn rọi xuống cuốn sổ.

Điện thoại cô rung. Màn hình hiện chữ "Bố".

Khuê nhìn nó rung ba hồi rồi mới nghe.

– Con đang ở tiệm à? – Giọng bố cô vang, lẫn tiếng còi xe ở đâu đó trong Thủ Dầu Một. Ba mươi năm sống trong Nam, giọng ông nửa Bắc nửa Nam, chữ "không" lúc nào cũng thành "hông". – Chủ nhật bố ra.

– Bố ra làm gì ạ? Hôm qua bố mới bay vào mà.

– Ra có việc. Có người hỏi mua nhà rồi. Bốn mươi sáu tỷ.

Khuê im lặng. Con mèo duỗi một chân trước lên trang sổ trắng.

– Con nghe bố nói không?

– Con nghe.

– Bên mua là bà chủ cái khách sạn cách nhà mình hai nhà. Người ta trả sòng phẳng. Có một điều thôi. – Bố cô ngừng một chút, như đang đọc lại một tin nhắn. – Người ta dặn: cái tủ gỗ nhỏ trong kho của ông, đừng ai đụng vào.

Khuê đưa tay lên cổ. Cái chìa khoá đồng còn ấm hơi người.

– Con nghe chưa? Đừng đụng.

– Con nghe rồi bố.

Bố cô cúp máy trước. Khuê ngồi yên trong vòng sáng của cái đèn bàn, nhìn sáu cái cuống giấy nhô lên ở gáy cuốn sổ. Lần đầu tiên cô tự hỏi người ở cách hai nhà kia làm sao biết trong kho nhà cô có một cái tủ.

— Hết chương 1 —

Mục lục Bốn mươi năm chờ người chuộc

  1. 1Ông có lên dây cho cái đồng hồ không?11 phút
  2. 2Chậm hai phút12 phút đọc
  3. 3Giấy phép mang tên người đã mất11 phút đọc
  4. 4Bộ ấm của mẹ10 phút đọc
  5. 5Cây đàn đi về mỗi tuần11 phút đọc
  6. 6Bà chủ Mái Ngói10 phút đọc
  7. 7Người chơi cờ ven hồ10 phút đọc
  8. 8Tro trong bếp than10 phút đọc
  9. 9Biên nhận số bốn trăm mười bảy10 phút đọc
  10. 10Nửa tờ giấy pơ-luya11 phút đọc
  11. 11Tấm huân chương không cầm10 phút đọc
  12. 12Ông Đoái đứng gác11 phút đọc
  13. 13Chiếc váy cưới hai lần10 phút đọc
  14. 14Tiền cọc10 phút đọc
  15. 15Sân thượng Mái Ngói10 phút đọc
  16. 16Ông Viêm nhớ một người11 phút đọc
  17. 17Đêm Noel phố Nhà Chung10 phút đọc
  18. 18Người ngồi xe lăn11 phút đọc
  19. 19Hai nửa tờ biên nhận12 phút đọc
  20. 20Chiếc khánh bạc10 phút đọc
  21. 21Năm 1985 của người khác12 phút đọc
  22. 22Video của thằng Tũn12 phút đọc
  23. 23Bộ ấm về nhà10 phút đọc
  24. 24Chữ học trò11 phút đọc
  25. 25Cái máy khâu ở Hàng Gai12 phút đọc
  26. 26Hai mươi ba tháng Chạp10 phút đọc
  27. 27Bà Mẫn nằm viện10 phút đọc
  28. 28Tết chuộc đồ11 phút đọc
  29. 29Đoàn viên mười bảy tuổi11 phút đọc
  30. 30Lời thề với bà Mẫn10 phút đọc
  31. 31Bố đi hồ Tây11 phút đọc
  32. 32Những người được che11 phút đọc
  33. 33Hai nửa khớp nhau12 phút đọc
  34. 34Hai mươi mốt kiểu ảnh12 phút đọc
  35. 35Rằm tháng Giêng11 phút đọc
  36. 36Bảy giờ sáng10 phút đọc

Về truyện này

Bốn mươi năm chờ người chuộc là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →