Chương 4: Bộ ấm của mẹ
– Đồ của mẹ tôi thì tôi lấy, việc gì phải có cái giấy!
Người đàn ông đập tay xuống mặt quầy, đúng cạnh vết nứt chân chim. Lớp băng dính màu mật ong rung lên. Con mèo Lãi trên nóc két dựng đuôi.
Khuê không lùi. Cô đặt tay lên cuốn sổ, nhìn anh ta qua song sắt.
Anh ta chừng ba mươi, gầy, mặc áo nỉ có mũ trùm dù trời không lạnh, mắt thâm như mấy đêm không ngủ. Cái điện thoại trong túi áo anh ta cứ vài giây lại rung, rung đến mức Khuê nghe được tiếng nó cọ vào khoá kéo. Trên mặt quầy, anh ta vừa ném xuống một nắm tiền nhàu nát.
– Sáu triệu. Cộng lãi. Đủ chưa? Đưa đây.
– Anh tên gì ạ?
– Duy. Trương Khắc Duy. Con bà Kiều Thị Nụ. Cô muốn xem căn cước à? Đây.
Anh ta chìa ra cái thẻ. Khuê nhìn. Tên đúng. Nhưng trong bảng tính của cô, bộ ấm chén men lam ở ngăn số mười bảy đứng tên bà Kiều Thị Nụ, cầm hồi tháng Bảy, sáu triệu, hạn ba tháng, vừa quá hạn mấy hôm.
– Bộ ấm do bác Nụ mang đến cầm. – Khuê nói. – Bác Nụ giữ nửa tờ biên nhận. Ai chuộc thì phải mang nửa tờ ấy đến, là bác Nụ, hoặc người bác Nụ nhờ, có giấy bác viết.
– Tôi là con bà ấy.
– Em biết. Nhưng anh không phải người cầm. Bộ ấm là tài sản bác Nụ mang đi cầm, tiệm chỉ trả lại cho người cầm.
– Con bà ấy mà không phải người nhà à?
– Người nhà vẫn là người khác, anh ạ.
Anh ta nhìn cô như nhìn một cái máy bán nước nuốt mất tiền. Cái điện thoại lại rung. Anh ta rút ra, nhìn màn hình, mặt tái đi một chút, rồi nhét vào túi.
– Cô có biết tôi đang cần gấp không?
– Em không biết. – Khuê nói. – Anh cần bộ ấm gấp làm gì? Bộ ấm thì đâu có cần gấp.
Câu ấy làm anh ta im. Anh ta nhìn nắm tiền trên quầy, như đang tính lại một phép tính mà kết quả không ra như ý.
Cô biết anh ta định làm gì. Trong sáu năm kiểm toán, cô đã đọc đủ hồ sơ những công ty cho vay "cầm đồ không cần giữ đồ" để hiểu. Chuộc bộ ấm ở đây giá sáu triệu, mang sang chỗ khác, người ta định giá lên mười lăm, cầm lấy mười, trả cho một khoản nợ đang đến hạn từng giờ.
– Thằng Duy con bà Nụ đấy à?
Tiếng bà Mẫn từ đầu phố vang tới, to như loa phường. Bà đang đứng chống nạnh bên cái ấm nhôm, cặp kính trễ xuống mũi.
– Mày lại làm gì ở đấy? Mẹ mày biết chưa?
Anh Duy quay lại, nhìn bà Mẫn, rồi nhìn Khuê. Anh ta vơ nắm tiền trên quầy, nhét vội vào túi, đi thẳng về phía ngược lại, đầu cúi thấp như người đi trong mưa.
Bà Mẫn đứng nhìn theo đến khi anh ta khuất ở góc phố, rồi mới ngồi xuống, lắc đầu.
– Giời ạ. Cái thằng ngày xưa ngoan nhất phố.
Bà Nụ đến lúc gần trưa.
Bà sáu mươi tuổi, nhưng trông già hơn, tóc bạc từng mảng không nhuộm, áo sơ mi kẻ ô cài đến tận cúc trên cùng. Bà đứng ở ô cửa, chưa nói gì đã cúi đầu.
– Cô cho tôi xin lỗi. Thằng Duy nhà tôi sáng nay sang đây.
– Không sao đâu bác. Bác vào trong ngồi đã.
Khuê mở cửa bên, kéo cái ghế nhựa cho bà. Bà ngồi, hai tay đặt lên đầu gối, lưng thẳng như học sinh. Khuê rót cho bà một chén chè nguội trong ấm của ông.
– Nó có lấy được cái gì không cô?
– Không ạ. Cháu không trả.
Bà Nụ thở ra, vai chùng xuống hẳn.
– Ông Quyến ngày trước cũng không bao giờ trả cho nó. Có lần nó sang lấy cái nhẫn của tôi, ông bảo "Anh về bảo mẹ anh sang", nó về, nó không bảo. Tôi đến chuộc, ông đưa nhẫn cho tôi, ông chỉ bảo đúng một câu: "Chị cất cho kỹ."
Bà cầm chén chè, không uống.
– Ông chả bao giờ hỏi tôi vay làm gì.
Khuê ngồi xuống đối diện bà. Cô đã định không hỏi. Cô đã nghe câu ấy từ hồi bé: ông không bao giờ hỏi. Nhưng ông là ông. Cô không có bốn mươi năm ngồi sau cái quầy này để biết ai đang nói thật mà không cần hỏi.
– Bác cầm bộ ấm để trả nợ cho anh Duy ạ?
Bà Nụ nhìn cô. Một lúc lâu. Rồi bà mở cái túi xách giả da đã bong tróc ở quai, lấy ra một tập giấy gấp làm ba, đưa cho cô.
Đó là một bản hợp đồng in sẵn, bốn trang, chữ nhỏ li ti. Bên cho vay là một công ty có cái tên rất đẹp, "Tài chính Phát Đạt". Bên vay là Trương Khắc Duy. Số tiền vay mười triệu. Lãi suất ghi rõ ràng, đàng hoàng: mười tám phần trăm một năm. Khuê lật sang trang ba. Ở đó có một bảng "phí dịch vụ": phí thẩm định, phí quản lý khoản vay, phí lưu hồ sơ, tính theo ngày.
Cô lấy cái máy tính trên quầy ra bấm. Bấm hai lần cho chắc. Cộng lãi với các loại phí, mười triệu sau một tháng thành mười ba triệu tám. Sau ba tháng, nếu không trả, theo cách người ta cộng dồn ghi ở trang bốn, là ba mươi tư triệu.
– Họ nhắn tin cho tôi suốt. – Bà Nụ nói. – Họ có danh bạ điện thoại của thằng Duy. Họ nhắn cho cả cô giáo cũ của nó, cho cả ông tổ trưởng dân phố. Họ bảo nếu không trả thì họ đăng ảnh tôi lên mạng, ghi "mẹ con lừa đảo". Tôi cầm bộ ấm của ông nhà tôi được sáu triệu, đưa cho họ. Họ bảo mới trả được tiền phí.
Khuê để tập hợp đồng xuống mặt quầy.
– Bác ơi, lãi họ ghi thì đúng luật. Nhưng cộng hết các khoản phí vào thì một năm lên mấy trăm phần trăm. Luật cho thoả thuận lãi không quá hai mươi phần trăm một năm. Phần vượt quá thì không có hiệu lực. Cho vay gấp nhiều lần mức ấy có thể bị xử lý cả hình sự.
– Thế thì sao hả cô?
– Thì bác không phải sợ họ. Người phải sợ là họ.
Bà Nụ nhìn cô, rồi nhìn xuống tập giấy, như không tin nổi một tập giấy lại có lúc đứng về phía mình.
Khuê lấy điện thoại, tìm tấm danh thiếp người công an để lại. Thứ Bảy. Anh ta dặn gọi trong giờ hành chính. Cô gọi.
Chuông đổ hai hồi.
– Thuận nghe.
– Anh Thuận, tôi là Khuê, tiệm cầm đồ số mười một Hàng Phèn. Hôm nay thứ Bảy, tôi biết. Tôi có một việc.
– Hôm nay tôi trực. Chị nói đi.
Khuê kể. Ngắn, rõ, có số liệu, như trình bày một phát hiện kiểm toán. Đầu dây bên kia im lặng nghe, không ngắt lời một lần nào.
– Bác ấy có muốn trình báo không? – Anh Thuận hỏi khi cô kể xong.
Khuê nhìn bà Nụ. Bà Nụ nghe được hết, vì cô bật loa ngoài. Bà ngồi im, hai bàn tay nắm lấy nhau.
– Tôi sợ nó bị bắt. – Bà nói, giọng rất nhỏ.
– Bác ơi. – Giọng anh Thuận vang qua cái loa điện thoại, rõ và chậm. – Con bác là người đi vay. Người có dấu hiệu vi phạm là bên cho vay. Bác cứ đến phường, mang theo hợp đồng, những tin nhắn đe doạ thì bác giữ nguyên, đừng xoá. Từ giờ, bác đừng đưa tiền mặt cho ai mà không có giấy biên nhận. Họ đến nhà làm phiền thì bác gọi ngay cho công an. Thứ Hai bác đến, cháu tiếp bác.
Bà Nụ gật đầu với cái điện thoại, như anh ta đang đứng trước mặt.
– Cảm ơn anh. – Khuê nói.
– Không có gì. – Anh Thuận ngừng một chút. – Con mèo nhà chị vẫn khoẻ chứ?
– Anh hỏi thăm để tránh hay để gặp?
Đầu dây bên kia im lặng một giây. Rồi cúp máy. Khuê nhìn cái điện thoại, không hiểu sao lại muốn cười.
Bà Nụ về rồi, bộ ấm vẫn nằm trong ngăn số mười bảy. Bà bảo chưa chuộc được, bà xin thêm một tháng. Khuê bảo bác cứ thong thả. Cô nói câu ấy xong mới nhận ra mình đã nói nó mười mấy lần trong một tuần, và lần nào cũng thấy dễ hơn lần trước.
Buổi chiều, cô ra hàng chè của bà Mẫn.
Hàng chè có ba cái ghế nhựa xanh, một cái bàn gỗ thấp, cái ấm nhôm méo trên bếp than tổ ong, một cái điếu cày dựa vào gốc cây. Chè ở đây pha bằng ấm đất, rót ra những cái chén hạt mít to cỡ hai đốt ngón tay. Khách là xe ôm, là người bán hàng, là mấy ông già trong phố ra ngồi nói chuyện thời sự như họp tổ.
Bà Mẫn rót cho cô một chén, rồi đặt một đĩa lạc rang trước mặt cô.
– Cái thằng Duy ấy, ngày xưa nó học giỏi nhất phố. – Bà nói. – Đi thi học sinh giỏi thành phố được giải ba. Bố nó mất, nó đi làm công ty, công ty phá sản, nó đánh bóng đá qua mạng. Chết chửa. Phố này nhìn nó lớn lên đấy cháu ạ.
– Bà biết hết mọi người ở phố này ạ?
– Năm mươi năm ngồi đây, không biết thì bà là cái cột điện à.
Khuê thò tay vào túi áo khoác, lấy ra tờ giấy gấp đôi. Cô đã nghĩ suốt từ đêm thứ Tư nên có cho ai xem không. Cô không cho cô Hương xem. Không cho Tũn. Không gọi cho bố. Cô mở tờ giấy, đặt lên bàn gỗ, quay về phía bà Mẫn.
"CÁI MÁY ẢNH CỦA NHÀ HỌ ĐINH VẪN CÒN TRONG ẤY PHẢI KHÔNG?"
Bà Mẫn đang cầm ấm rót chè cho một ông xe ôm. Bà đọc tờ giấy. Nước chè vẫn chảy ra từ vòi ấm, tràn khỏi miệng chén, chảy xuống mặt bàn, nhỏ tong tong xuống đất. Ông xe ôm kêu lên "ấy ấy bà Mẫn". Bà giật tay lại, đặt ấm xuống, lấy cái khăn vắt vai lau bàn, lau rất lâu, lau cả những chỗ không có nước.
– Ai đưa cháu cái này?
– Cháu không biết. Có người luồn qua khe cửa, đêm thứ Tư.
– Thứ Tư. – Bà Mẫn nhắc lại. Bà nhìn lên tán cây hoa sữa, mắt nheo lại sau cặp kính, như đang đếm cái gì. – Hai mươi chín tháng Mười. Đúng ngày.
– Đúng ngày gì ạ?
Bà Mẫn không trả lời. Bà gấp tờ giấy lại, gấp làm tư, nhét vào túi áo khoác của Khuê, vỗ vỗ lên túi hai cái.
– Cháu cất đi. Đừng đưa ai xem.
– Bà ơi, nhà họ Đinh là ai ạ? Trong tủ của ông cháu có cái gì?
Bà Mẫn rót một chén chè mới, đẩy về phía cô. Tay bà không run nữa. Giọng bà cũng không to nữa, lần đầu tiên từ sáng tới giờ.
– Cái đó cháu đừng hỏi ở phố này.
– Sao lại không hỏi được ạ?
– Vì phố này nhớ lâu. – Bà Mẫn nói. – Nhớ cả những cái sai không phải của mình.
Rồi bà quay sang ông xe ôm, giọng to trở lại như chưa có chuyện gì:
– Ông Tư uống nốt chén này rồi đi đón khách đi, ngồi đấy mãi, khách người ta đi bộ hết rồi kia kìa.
Khuê ngồi lại một mình bên cái bàn gỗ ướt, nhìn chén chè bốc khói. Bà Mẫn đã nói "đúng ngày". Cô không biết đúng ngày của cái gì, chỉ biết một người bán chè năm mươi năm ở đầu phố này không bao giờ lỡ lời.
— Hết chương 4 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe