AI Truyện
Bốn mươi năm chờ người chuộc

🏙️ Đô thị & làm giàu

Năm 1985 của người khác

Bốn mươi năm chờ người chuộc · Chương 21/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 12 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 21: Năm 1985 của người khác

Cô điều dưỡng cạo râu cho ông Vĩ lúc bảy giờ, và ông bắt cô cạo lại hai lần chỗ dưới cằm.

– Ông ơi, nhẵn rồi mà.

– Chưa. – Ông nói. – Sờ vào còn ram ráp.

Cô điều dưỡng tên Hạnh, hai mươi ba tuổi, quê Nam Định, chăm ông từ đầu năm ngoái. Cô quen cái tính của ông: cái gì cũng phải làm lại một lần nữa. Cả đời làm thợ ảnh, cái gì ông cũng chụp hai kiểu, phòng kiểu thứ nhất người ta nhắm mắt. Tay ông bây giờ không cầm nổi cái máy, nhưng cái thói quen thì không run.

Cô Hạnh lau mặt cho ông bằng khăn ấm, chải tóc ngược ra sau, rồi lấy cái mũ dạ trên móc xuống.

– Hôm nay ông đội mũ à? Ông ngồi trong phòng mà.

– Đội.

Cô đội mũ cho ông. – Tám rưỡi rồi ông ạ. Chín giờ chị ấy đến.

– Biết rồi.

Cô Hạnh ra ngoài. Ông Vĩ ngồi một mình bên cửa sổ, hai bàn tay đặt trên tấm chăn, tay phải gõ nhè nhẹ lên lớp len, đều như kim giây. Ông nhìn bàn tay ấy. Sáu năm nay nó tự gõ, không hỏi ý ông. Bác sĩ bảo đấy là run lúc nghỉ. Ông bảo bác sĩ, thế thì tôi không nghỉ nữa. Bác sĩ cười. Ông không đùa.

Ngoài cửa sổ, hồ Tây sáng Chủ nhật phẳng như một tấm phim chưa phơi sáng.

Bốn mươi năm, ông tập không nghĩ về phố Hàng Phèn. Ông giỏi việc ấy. Ông có thể đi qua đầu phố Hàng Bè mà không quay sang.

Từ hôm cháu gái lão đứng trên bãi cỏ kia, nói "Ông cháu dán băng dính, bốn mươi năm", ông không làm được việc ấy nữa.

Ông nhắm mắt.

Mùa thu năm tám mươi lăm, ông hai mươi tư tuổi, thợ ảnh của hiệu ảnh quốc doanh phố Tràng Tiền. Tháng Chín đổi tiền, mười đồng cũ thành một đồng mới, rồi giá cả cứ thế phi lên như ngựa không cương. Mẹ ông ho từ mùa hè. Đến tháng Chín thì ho ra máu. Bác sĩ phố bên bảo lao, phải có thuốc. Thuốc thì phải mua ngoài.

Ông chạy. Ông vay đồng nghiệp, vay hàng xóm, vay cả ông thợ cắt tóc đầu ngõ. Đến cuối tháng Chín thì không ai cho vay nữa.

Rồi có một chỗ. Có một chỗ, bên bãi sông, người ta ngồi trên chiếu đến khuya. Bốn mươi năm ông không kể với ai. Ông tự bảo mình ông đi đến đấy một lần, hai lần. Ông không đếm.

Sáng thứ Bảy, mười chín tháng Mười, ông mở cửa sổ phòng mẹ.

Đó là cái cửa sổ duy nhất của nhà số bốn trông ra phố, khung gỗ sơn xanh đã bạc, hai cánh chớp. Mẹ ông ngồi trên cái ghế tựa kê sát cửa, đắp chăn, nhìn xuống phố. Nắng tháng Mười chiếu vào nửa khuôn mặt bà.

– Mẹ ngồi yên. – Ông nói. – Con chụp mẹ một kiểu.

– Chụp làm gì. – Mẹ ông nói, nhưng đưa tay lên vuốt tóc. – Mặt mẹ như cái bánh đa nhúng nước.

– Mẹ chải tóc đi.

Bà lấy cái lược sừng ở đầu giường, chải. Chải chậm, vì tay bà đã yếu. Bà vấn tóc lại, cài cái trâm nhôm, rồi kéo cái áo cánh nâu cho phẳng cổ. Ông đứng ở góc phòng, ngắm qua cái khung ngắm nhỏ, chờ. Bà quay ra cửa sổ, nhìn xuống phố, như đã quên ông đang đứng đó. Ông bấm. Bà đưa tay lên sửa lại cái trâm. Ông lên phim, bấm kiểu thứ hai.

Rồi bà quay lại nhìn ông, hơi cười vì thấy con trai mình nghiêm trọng quá. Ông bấm kiểu thứ ba.

Đến hôm nay ông vẫn nhớ tiếng màn trập của ba kiểu ấy. Ông không nhớ mặt bà.

Rồi ông tháo dây đeo, cuộn quanh thân máy, cho vào cái túi da, đi bộ mấy chục bước sang nhà số mười một.

Lão Quyến ngồi sau quầy kính, kính lúp đẩy lên trán, đang sửa một cái đồng hồ báo thức. Thấy ông, lão đặt tua vít xuống. Ông đặt cái máy lên mặt kính. Lão cầm lên, lật đi lật lại, rồi gõ nó hai cái lên quầy. Gõ hai cái là định giá.

– Mày cầm thật à?

– Thật.

Lão nhìn ông rất lâu. Lâu đến mức ông phải nhìn đi chỗ khác. Lão không hỏi ông cầm làm gì. Lão không bao giờ hỏi ai câu ấy. Nhưng ông có cảm giác lão đã biết, và chính vì lão không hỏi mà ông thấy mình bị hỏi.

Lão viết lên giấy pơ-luya. Lão gấp đôi. Lão xé, chậm. Lão đưa ông một nửa, cùng hai nghìn rưởi đồng tiền mới, đếm hai lần.

– Cuộn phim trong máy chưa hết. – Ông nói. – Bác đừng mở nắp.

– Tao không mở.

Đấy là câu cuối cùng lão nói với ông mà ông còn tin.

Ông Vĩ mở mắt. Bàn tay phải vẫn gõ.

Mười ngày sau, công an khám nhà lão. Cả phố biết. Cả phố nín thở. Rồi không ai bị gọi. Rồi mẹ ông yếu dần.

Rồi đến tháng Mười Một.

Tháng Mười Một ông bỏ qua. Ông đã quen bỏ qua nó. Như người ta lướt ngón tay qua một đoạn phim bị lộ sáng, không nhìn. Trong tháng Mười Một có một buổi chiều mưa phùn ông về nhà thấy mẹ không có trên giường, rồi bà về, ướt vai áo, sốt cao từ tối hôm ấy. Có một cái tên ông tập quên trước cả tên lão Quyến. Có một lời hứa ông đã hứa với cái tên ấy, ở bãi sông.

Đầu tháng Mười Hai, mẹ ông mất. Chủ nhật. Trời rét. Ông ngồi bên giường, cầm tay bà, tay bà nhẹ như một cái lá khô. Lúc gần đi, bà nói một câu ông nghe không rõ. Bà nói "Vĩ ơi, con giữ…" rồi không nói hết.

Con giữ cái gì? Bốn mươi năm ông đoán. Ông đoán bà bảo con giữ sức khoẻ. Con giữ cái Lài. Con giữ nhà. Ông không bao giờ đoán bà bảo con giữ cái máy, vì nếu bà bảo thế, nghĩa là bà biết ông định làm gì với nó.

Hai tuần sau, ông cầm đủ hai nghìn rưởi sang nhà số mười một. Tiền ở đâu ra, ông cũng bỏ qua.

Lão Quyến đứng sau quầy. Lão nhìn nửa tờ biên nhận ông đặt lên mặt kính. Lão không cầm lên. Lão nói:

– Công an thu mất rồi.

Ông hỏi thu bao giờ. Lão bảo đêm khám nhà. Ông hỏi sao không nói. Lão không trả lời. Ông hỏi lão có khai tên ông không. Lão không trả lời. Ông hỏi lần thứ ba, lần thứ tư, mỗi lần to hơn. Lão đứng im, hai tay chống lên mặt quầy, mắt nhìn ông, không chớp. Cái nhìn ấy không phải của người có lỗi. Đấy là điều ông không chịu được. Nếu lão cúi mặt, ông đã đi về. Lão không cúi.

Ông đập tay xuống.

Mặt kính không vỡ tung. Nó chỉ kêu một tiếng khô, rồi nứt ra từ dưới nắm tay ông, những đường chỉ trắng toả ra như chân chim. Máu ông chảy trên mặt kính. Lão Quyến vẫn không nhúc nhích. Lão chỉ nhìn bàn tay ông.

Ông vơ nửa tờ biên nhận bằng tay trái, chạy ra phố. Ông chửi. Ông chửi đến khi khàn tiếng, đến khi cửa sổ cả phố mở ra, đến khi cái Mẫn chè chạy đến kéo áo ông. Ông không nhớ hết mình đã chửi những gì. Ông chỉ nhớ một câu, vì câu ấy về sau cả phố nhắc lại thay ông: "Lão khai tên tôi!"

Ông không biết lão có khai không. Ông chỉ biết lão không cãi. Với ông năm hai mươi tư tuổi, không cãi tức là nhận.

Năm tám mươi bảy, ông đi Đông Đức, làm ca đêm ở một nhà máy dệt ở Leipzig. Bức tường đổ, nhà máy đóng cửa, ông ở lại, bán quần áo ở chợ, rồi mở một quầy chụp ảnh thẻ. Ông lấy vợ. Năm chín mươi, con bé ra đời. Ông đặt tên nó là Diễm. Ngày trước mẹ ông hay bảo, có cháu gái thì đặt tên Diễm.

Cũng năm chín mươi, một lá thư từ Hà Nội đến cái hộp thư dưới chân cầu thang khu nhà ông ở. Phong bì trắng, tem Việt Nam, chữ ghi địa chỉ nghiêng nghiêng, mực tím.

Ông nhận ra chữ ấy ngay. Chữ trên nửa tờ biên nhận trong ví ông.

Ông không bóc. Ông viết lên phong bì một chữ tiếng Đức nghĩa là "từ chối nhận", cho vào một phong bì khác, gửi về cho cái Lài, dặn nó mang trả lão. Ba tháng sau, lá thứ hai. Ông trả. Lá thứ ba. Ông trả. Rồi không có lá nào nữa.

Lão viết để làm gì? Để xin lỗi? Để thanh minh? Cả hai ông đều không muốn đọc. Không bóc thì lão vẫn là lão, cái người không cãi. Bóc ra, nhỡ lão nói một câu gì đó, thì ông phải nghĩ lại cả năm năm.

Ông không bóc, và ông nghĩ lại mất bốn mươi năm.

Năm hai nghìn lẻ năm, ông đưa con bé về. Vợ ông ở lại. Ông mở một nhà nghỉ trên phố Hàng Bè, cách Hàng Phèn hai lối rẽ. Hai lối rẽ, hai mươi năm, ông không đi. Có một lần, cái Mẫn chè đứng ở đầu phố, nhìn ông. Ông nhìn bà ta. Ông quay đi. Ông đếm được mười lăm bước mới thở lại được.

Năm hai nghìn mười chín, bác sĩ nói chữ Parkinson. Năm hai mươi ba, con bé mua lại căn nhà số mười lăm Hàng Phèn, làm khách sạn. Ông chửi nó. Nó không cãi. Đầu năm ngoái ông vào đây.

Rồi tháng Chín, con bé bảo: "Bố ơi, ông Quyến mất rồi."

Đêm hai mươi chín tháng Mười, đúng bốn mươi năm sau đêm người ta khám nhà lão, ông ngồi trong xe ở đầu phố, viết một câu trên tờ giấy mất gần một tiếng. Ông không định chọn ngày ấy. Ông chỉ không ngủ được.

Ông đi bộ vào phố, luồn tờ giấy qua cái khe sát đất. Rồi ông không đi được nữa. Chân ông không nghe. Ông nép vào bậc cửa nhà số chín, chờ chân. Cánh cửa cuốn bật lên, rít một tiếng dài cả phố, và một con bé đứng đó, cầm tờ giấy của ông, nhìn ra bóng tối. Ông đứng sát vào tường. Con bé không thấy ông. Con bé đứng nhìn ngược vào trong tiệm, và ông thấy, qua cái khung cửa vừa mở, sau quầy kính, một vệt sáng vàng nhạt trên góc trái mặt kính.

Băng dính. Ông không biết đấy là băng dính. Ông chỉ thấy cái vệt sáng ấy, đúng chỗ ấy.

Tiếng gõ cửa. Cô Hạnh thò đầu vào.

– Ông ơi, chị Khuê đến rồi ạ.

Ông Vĩ chỉnh lại cái mũ dạ.

Cháu gái lão bước vào, cởi khăn quàng, chào ông. Hôm nay con bé mặc áo len xám, tóc buộc gọn, cổ đeo sợi dây đỏ. Ông nhìn sợi dây đỏ. Lần đầu gặp, con bé không đeo.

– Cô ngồi đi.

Con bé ngồi xuống mép giường. Ông nhìn cái cằm. Nhọn, lệch sang trái. Ông nhìn đôi mắt. Không giống lão. Mắt lão thì như đang nghe một câu đùa. Mắt con bé như đang đếm.

– Tôi gọi cô lên vì một việc. – Ông nói. – Hôm trước cô kể chuyện lão. Bây giờ tôi kể cô nghe chuyện tôi. Cô nghe xong thì cô về. Không hỏi. Được không?

– Vâng ạ.

Ông kể. Không phải tất cả. Cái cửa sổ, cái lược sừng, ba tiếng màn trập. Lão gõ máy hai cái lên quầy. Leipzig, ca đêm, ba lá thư, chữ tiếng Đức nghĩa là từ chối. Đêm hai mươi chín tháng Mười vừa rồi, bậc cửa nhà số chín, cái vệt vàng trên mặt kính.

Ông không kể bãi sông.

Con bé ngồi nghe, không ngắt lời. Lúc ông kể đến ba lá thư, tay con bé đặt lên sợi dây đỏ trên cổ. Khi ông kể xong, con bé hỏi một câu, nhẹ đến mức ông không mắng được.

– Ba lá thư ấy ông cháu có giữ không, ông có biết không ạ?

– Cái Lài bảo lão giữ. – Ông nói. – Lão không vứt cái gì. Lão giữ cả cái kính vỡ.

Con bé gật đầu.

– Còn một chuyện. – Ông nói. Ông không định nói chuyện này. Nó tự bật ra, như bàn tay phải tự gõ. – Tháng Mười Một năm ấy, mẹ tôi đi ra khỏi nhà một lần. Một buổi chiều mưa phùn. Bà đang ốm, không đi nổi ra đến đầu ngõ. Thế mà bà đi. Về thì sốt. Tôi hỏi bà đi đâu, bà không nói. Bốn mươi năm tôi không biết bà đi đâu.

Ông nhìn ra hồ.

– Cái Mẫn chè biết hết mọi chuyện ở phố ấy. Cô về hỏi nó giúp tôi. Đừng bảo tôi hỏi.

Con bé ngồi im một lúc, rồi đứng dậy.

– Cháu hỏi ạ.

Ông nhìn con bé quàng lại khăn, đi ra cửa. Đến cửa, con bé quay lại, như lần trước.

– Ông ơi. – Con bé nói. – Cái vệt vàng ông thấy đêm ấy. Đấy là băng dính. Ông cháu dán mấy lớp, mép thẳng tắp. Lớp nào bong mép thì ông dán lớp mới đè lên, không bao giờ bóc lớp cũ.

Rồi con bé đi.

Ông Vĩ ngồi một mình bên cửa sổ. Bàn tay phải ông thôi gõ. Ông nhìn nó, ngạc nhiên. Rồi nó lại gõ.

Không bao giờ bóc lớp cũ. Ông không hình dung được những lớp băng dính chồng lên nhau. Ông chỉ hình dung được bàn tay lão, vào một buổi tối nào đó, cẩn thận kéo một đoạn băng, đặt nó lên đúng chỗ nắm tay ông đã đập xuống, miết cho phẳng.

Như người ta băng một vết thương. Của ai thì ông không dám nghĩ.

— Hết chương 21 —

Mục lục Bốn mươi năm chờ người chuộc

  1. 1Ông có lên dây cho cái đồng hồ không?11 phút
  2. 2Chậm hai phút12 phút đọc
  3. 3Giấy phép mang tên người đã mất11 phút đọc
  4. 4Bộ ấm của mẹ10 phút đọc
  5. 5Cây đàn đi về mỗi tuần11 phút đọc
  6. 6Bà chủ Mái Ngói10 phút đọc
  7. 7Người chơi cờ ven hồ10 phút đọc
  8. 8Tro trong bếp than10 phút đọc
  9. 9Biên nhận số bốn trăm mười bảy10 phút đọc
  10. 10Nửa tờ giấy pơ-luya11 phút đọc
  11. 11Tấm huân chương không cầm10 phút đọc
  12. 12Ông Đoái đứng gác11 phút đọc
  13. 13Chiếc váy cưới hai lần10 phút đọc
  14. 14Tiền cọc10 phút đọc
  15. 15Sân thượng Mái Ngói10 phút đọc
  16. 16Ông Viêm nhớ một người11 phút đọc
  17. 17Đêm Noel phố Nhà Chung10 phút đọc
  18. 18Người ngồi xe lăn11 phút đọc
  19. 19Hai nửa tờ biên nhận12 phút đọc
  20. 20Chiếc khánh bạc10 phút đọc
  21. 21Năm 1985 của người khác12 phút đọc
  22. 22Video của thằng Tũn12 phút đọc
  23. 23Bộ ấm về nhà10 phút đọc
  24. 24Chữ học trò11 phút đọc
  25. 25Cái máy khâu ở Hàng Gai12 phút đọc
  26. 26Hai mươi ba tháng Chạp10 phút đọc
  27. 27Bà Mẫn nằm viện10 phút đọc
  28. 28Tết chuộc đồ11 phút đọc
  29. 29Đoàn viên mười bảy tuổi11 phút đọc
  30. 30Lời thề với bà Mẫn10 phút đọc
  31. 31Bố đi hồ Tây11 phút đọc
  32. 32Những người được che11 phút đọc
  33. 33Hai nửa khớp nhau12 phút đọc
  34. 34Hai mươi mốt kiểu ảnh12 phút đọc
  35. 35Rằm tháng Giêng11 phút đọc
  36. 36Bảy giờ sáng10 phút đọc

Về truyện này

Bốn mươi năm chờ người chuộc là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →