Chương 32: Những người được che
– Họp tổ dân phố thì ngồi hàng. Đi thăm người thì ngồi vòng.
Bà Mẫn đứng giữa phòng sinh hoạt chung của viện dưỡng lão, một tay chống gậy, một tay chỉ vào hai mươi cái ghế nhựa. Diễm đã cho xếp chúng thành bốn hàng ngay ngắn, quay về phía một cái bàn có lọ hoa.
Diễm đứng ở cửa, mặc áo len cổ lọ màu kem, tay cầm tờ danh sách. Cô ta nhìn bà Mẫn, nhìn hai mươi cái ghế, rồi nhìn tờ danh sách.
– Tôi xếp theo…
– Xếp theo cái gì thì xếp lại. – Bà Mẫn nói. – Thằng Tũn, kéo ghế.
Thằng Tũn kéo ghế. Lâm kéo ghế. Anh Duy con bà Nụ kéo ghế. Mười phút sau, hai mươi cái ghế thành một vòng tròn, chừa một khoảng trống ở phía cửa sổ nhìn ra hồ, đủ rộng cho một chiếc xe lăn.
Diễm nhìn vòng tròn ghế. Cô ta gấp tờ danh sách lại, cho vào túi.
Ba giờ chiều thứ Tư, hai mươi lăm tháng Hai. Mồng chín Tết. Khuê đứng ở góc phòng, đếm người. Cô không định đếm, nhưng cô đếm.
Bà Mẫn. Ông Viêm và bà Lụa, ông Viêm ôm trong lòng một cái đài bán dẫn to bằng viên gạch, vỏ da nâu đã nứt. Con dâu bà Tâm số bảy, tám mươi tuổi, má hóp, xách một gói chè buộc lạt. Con gái ông Thặng bán than, một bà cụ bảy mươi, tóc bạc trắng. Con trai ông Khải đầu ngõ, ông Khải mất đã lâu, anh con trai sáu mươi tuổi, bảo bố anh hồi trước cầm cái xe đạp, "bố tôi kể mãi chuyện cái xe đạp". Ông Lạp, áo len cổ lọ, giày da đen bóng, điếu thuốc giắt sau tai. Ông Đoái mặc quân phục, đeo tấm huân chương, anh Toàn đi bên cạnh. Bà Nụ và anh Duy. Bà Lài, đi từ Bát Tràng lên từ sáng sớm, xách theo một túi cốc men lam.
Rồi bố Khuê, cô Hương, thằng Tũn, Lâm. Và anh Thuận, mặc thường phục, đứng ở cửa, không vào, như người gác.
Mười bảy người. Không, mười tám, cả cô.
Lâm ngồi ở góc phòng, ôm đàn, gảy một bài hát cũ rất nhỏ, chỉ có tiếng đàn, không hát. Những người già ngồi vào ghế, nói chuyện khe khẽ, như người ta nói chuyện trong đám hiếu chưa đến giờ.
Ba giờ mười lăm, cửa phòng mở.
Cô điều dưỡng Hạnh đẩy chiếc xe lăn vào. Ông Vĩ đội mũ dạ, quàng khăn kẻ ô, chăn đắp trên đùi, cái ví da nâu trên chăn. Ông gầy hơn hẳn hồi tháng Một. Viêm phổi đã lấy đi của ông thêm mấy cân, gò má nhô hẳn ra, cổ tay trong ống tay áo như cổ tay đứa trẻ. Nhưng đôi mắt dưới vành mũ vẫn thế, nheo lại, nhìn từng người như nhìn qua một cái kính ngắm.
Lâm ngừng đàn.
Cô điều dưỡng đẩy xe lăn vào khoảng trống trong vòng ghế. Ông Vĩ ngồi đó, giữa mười tám người, quay lưng về phía cửa sổ, nhìn quanh.
Không ai nói gì.
Rồi ông Viêm đứng dậy. Ông chống gậy ba chân, bà Lụa đỡ một bên. Ông đi đến trước xe lăn, nhìn ông Vĩ qua cặp kính trắng.
– Thằng Vĩ. – Ông Viêm nói. – Mày là thằng Vĩ.
– Thầy Viêm. – Ông Vĩ nói.
– Mày hay đứng ở chiếu nghỉ chụp cái đỉnh đầu ông Quyến. – Ông Viêm nói, giọng thầy giáo. – Ông Quyến bảo mày chụp cái đỉnh đầu tao làm gì. Mày bảo đỉnh đầu bác có cái xoáy đẹp.
Có mấy người bật cười. Ông Vĩ không cười. Nhưng bàn tay phải của ông, đang gõ trên tay vịn, dừng lại.
– Thầy nhớ à.
– Cái gì lẫn thì lẫn. Cái này không lẫn. – Ông Viêm nói. Ông nhấc cái đài bán dẫn khỏi ngực, đặt lên tấm chăn trên đùi ông Vĩ. – Mày xem. Cái đài này tôi cầm ở nhà ông Quyến tháng Chín năm ấy. Tháng Mười Một ông ấy mang sang trả tận nhà tôi. Tôi đưa tiền, ông ấy không lấy. Ông ấy bảo sổ cháy rồi, không ai nợ ai. Tôi giữ cái đài này bốn mươi năm. Chủ nhật nào tôi cũng bật nó nghe báo giờ, để chỉnh cái đồng hồ ông Quyến cố tình lên dây chậm hai phút.
Ông Vĩ nhìn cái đài trên đùi mình. Ông đặt bàn tay trái lên lớp vỏ da nứt.
Rồi người thứ hai đứng dậy. Con dâu bà Tâm. Bà cụ đặt gói chè lên mép chăn, cạnh cái đài.
– Mẹ chồng tôi là bà Tâm số bảy. – Bà nói. – Năm ấy bà cầm cái nhẫn. Đến lúc chết, mẹ chồng tôi vẫn bảo: "Ông Quyến khai cả phố, nhà mình may." Tôi nghe bốn mươi năm. – Bà cụ nhìn ông Vĩ. – Nhà tôi không may. Nhà tôi được che. Tôi mang cân chè này lên, vì năm nào mẹ chồng tôi cũng biếu ông Quyến một cân. Năm nay ông ấy không còn. Tôi biếu anh.
Người thứ ba. Con gái ông Thặng bán than.
– Bố tôi cầm cái cân đồng. – Bà nói, ngắn. – Không ai gọi bố tôi lên phường.
Người thứ tư. Con trai ông Khải.
– Bố tôi cầm cái xe đạp. Bố tôi bảo nếu bị gọi lên phường thì mất việc ở nhà máy. Không ai gọi. Bố tôi đi cái xe ấy đến lúc về hưu.
Người thứ năm. Ông Lạp. Ông không đứng dậy. Ông ngồi trên ghế, lưng thẳng, hai tay đặt lên đùi.
– Đêm ấy tôi ngồi đấy. – Ông nói. – Anh biết rồi.
– Thằng Lạp. – Ông Vĩ nói. – Mày già rồi.
– Anh cũng thế.
Ông Vĩ nhìn ông Lạp một lúc, rồi khoé miệng ông giật lên, không hẳn là cười.
Rồi ông Đoái đứng dậy. Ông đứng thẳng, quân phục cài kín cổ, huân chương trên ngực.
– Tôi không có tên trong sáu tờ sổ. – Ông nói, to, như mọi khi, nhưng rồi ông tự hạ giọng xuống. – Tôi biết ông Quyến từ năm chín mươi. Tôi xuất ngũ về, không có nghề, ông ấy cho tôi ngồi ở góc tiệm ba tháng học sửa đồng hồ. Tôi không học được. Nhưng ba tháng ấy tôi có cơm ăn. Thế là tôi cũng được che.
Ông nhìn ông Vĩ.
– Năm bảy hai, tôi nằm hầm ở Quảng Trị. – Ông nói. – Có những người đeo máy ảnh chạy lên trước cả lính. Tôi không biết tên ai. Tôi chỉ biết họ chạy lên. Có người không chạy về.
Ông Vĩ ngẩng lên nhìn ông Đoái.
– Bố tôi chết ở Quảng Trị năm ấy. – Ông nói.
Ông Đoái gật đầu. Ông không nói "tôi biết". Ông không nói "tôi xin chia buồn". Ông tháo cái mũ cối trên đầu xuống, ôm vào ngực, cúi đầu một cái, rồi đội mũ lên, ngồi xuống.
Bà Nụ đứng dậy, nói một câu, giọng rất nhỏ: "Ông Quyến chả bao giờ hỏi tôi vay làm gì." Rồi bà ngồi xuống, nắm tay con trai.
Rồi không ai đứng dậy nữa.
Ông Vĩ ngồi giữa vòng ghế, trên đùi một cái đài cũ vỏ da nứt, một gói chè buộc lạt. Ông nhìn quanh từng khuôn mặt. Khuê thấy mắt ông dừng lại ở bố cô một lúc, rồi đi tiếp. Dừng lại ở cô. Rồi dừng lại ở bà Mẫn.
Bà Mẫn chống gậy đứng dậy.
– Thôi. – Bà nói. – Mọi người ra vườn ngồi. Ngoài vườn có nắng. Thằng Tũn mang phích chè ra. Thằng Lâm ra đàn cho các cụ nghe.
Mọi người đứng dậy. Không ai hỏi vì sao.
– Cháu Khuê ở lại. – Bà Mẫn nói. – Cái Lài ở lại. Con Diễm ở lại.
Bố Khuê đứng ở cửa, ngập ngừng.
– Mày ra. – Bà Mẫn nói. – Phần mày mày nói rồi. Đây là phần cái Mận.
Bố Khuê ra. Cánh cửa khép lại.
Trong phòng còn năm người. Ông Vĩ trên xe lăn. Bà Mẫn trên cái ghế kéo đến sát xe lăn. Bà Lài ngồi bên kia. Diễm đứng sau lưng bố. Khuê ngồi cách một quãng, gần cửa sổ.
Bà Mẫn kể.
Khuê đã nghe câu chuyện ấy một lần, tối mồng bốn, trên tầng hai. Nhưng lần này bà Mẫn kể khác. Chậm hơn. Ít chữ hơn. Bà không nhại giọng bà Mận nữa. Bà kể như người ta trả lại một món đồ đã giữ hộ: đặt từng thứ lên mặt quầy, từng thứ một, để người kia đếm.
Chiều hai mươi tháng Mười Một. Mưa phùn. Ba giờ. Cái Mận đi dép, mặc áo bông, không đội nón.
Ông Vĩ ngồi im.
Cái Mận bảo thằng Vĩ nợ bạc ở bãi sông. Thằng kia hứa mua cái máy tám nghìn.
Bàn tay phải của ông Vĩ, đang đặt trên cái đài, nắm chặt lại.
Cái Mận bảo cái máy ấy là bố nó. Nó bán đi là nó bán bố nó. Ông giữ hộ tôi. Đừng trả nó.
Bà Lài đưa tay lên miệng.
Thì ông bảo nó công an thu mất rồi.
Ông Quyến hỏi: đến lúc nó tỉnh thì sao. Cái Mận bảo: thì ông trả nó. Ông Quyến bảo: đến lúc ấy nó ghét tôi. Cái Mận bảo: ông chịu khó.
– Chị về đi. Tôi giữ. – Bà Mẫn nói. – Ông Quyến nói thế. Rồi cái Mận đi về trong mưa. Đêm ấy nó sốt.
Bà Mẫn ngừng lại.
– Bà hết rồi. – Bà nói. – Ông Quyến bắt bà thề, chỉ được nói với mày, khi mày tự về chuộc. Mày chưa tự về. Nhưng bà già rồi. Bà nói rồi.
Ông Vĩ không động đậy.
Rất lâu. Lâu đến mức Diễm cúi xuống, đặt tay lên vai bố. Ông không gạt ra. Ông không quay lại. Ông nhìn xuống cái đài bán dẫn trên đùi, cái gói chè buộc lạt, cái ví da nâu.
– Buổi chiều mưa phùn. – Ông nói. Giọng ông khàn đến mức gần như không thành tiếng. – Tôi về, mẹ tôi không có trên giường. Bốn mươi năm tôi không biết mẹ tôi đi đâu.
– Đi sang nhà ông Quyến. – Bà Mẫn nói.
– Đi sang xin lão đừng trả cái máy cho tôi.
– Ừ.
Ông Vĩ nhắm mắt.
– Thằng ở bãi sông. – Ông nói, mắt vẫn nhắm. – Tên nó là gì tôi quên rồi. Tôi cố quên bốn mươi năm, quên được. Nó bảo tám nghìn. Tôi hứa với nó. Tháng Mười Hai, mẹ tôi chết được hai tuần, nó đến tìm tôi. Nó đưa tôi hai nghìn rưởi, bảo đi chuộc cái máy về, đưa nó, nó trả nốt phần còn lại.
Diễm siết tay trên vai bố.
– Hai nghìn rưởi tôi mang sang nhà lão. – Ông Vĩ nói. – Là tiền của thằng ấy. Tôi chuộc để bán.
Không ai nói gì. Ngoài vườn, tiếng đàn của Lâm vọng vào, một bài hát cũ, chậm, nhẹ, như tiếng nước.
– Lão bảo công an thu rồi. – Ông Vĩ nói. – Tôi đập vỡ kính nhà lão. Tôi chửi lão giữa phố. Tôi chửi lão khai tên tôi. Tôi chửi lão nuốt cái máy của bố tôi. Tôi chửi đến khàn tiếng.
Ông mở mắt. Mắt ông đỏ, ướt, nhìn thẳng ra cửa sổ, ra mặt hồ.
– Lão không cho tôi bán bố tôi. – Ông nói. – Bốn mươi năm tôi chửi lão vì lão không cho tôi bán bố tôi.
Bà Lài khóc thành tiếng. Bà đứng dậy, đi đến bên anh, ôm lấy cái đầu đội mũ dạ của anh vào ngực mình. Ông Vĩ để yên.
– Lúc mẹ mất. – Ông nói, giọng nghẹt trong vạt áo em gái. – Mẹ nói với anh một câu, Lài ạ. Mẹ bảo: "Vĩ ơi, con giữ…" rồi mẹ không nói hết. Bốn mươi năm anh đoán. Anh đoán mẹ bảo con giữ sức khoẻ. Con giữ em. Con giữ nhà.
Ông dừng lại. Bàn tay phải của ông, run, run mạnh, tìm đến cái ví da trên đùi, nắm lấy nó.
– Mẹ bảo con giữ lấy bố. – Ông nói. – Mẹ không nói hết. Mẹ không nói hết vì mẹ biết anh không giữ.
Khuê quay mặt ra cửa sổ. Cô không nhìn được nữa. Mặt hồ bên ngoài phẳng và sáng, có một đàn vịt trời đang bơi thành hàng về phía vạt sen tàn.
Một lúc lâu sau, ông Vĩ nói, giọng đã khô lại.
– Con Diễm.
– Dạ.
– Đưa bố về Hàng Phèn.
Diễm cúi xuống, ngang tầm mắt bố.
– Bố chưa khoẻ.
– Thứ Bảy. – Ông Vĩ nói. – Bảy giờ sáng. Lão mở cửa bảy giờ.
Ông quay đầu, tìm Khuê.
– Cô. Cháu lão Quyến. Cô mở cửa mấy giờ?
– Bảy giờ ạ. – Khuê nói.
– Thế thì đúng. – Ông Vĩ nói. Rồi ông quay sang bà Mẫn, nhìn bà cụ bằng đôi mắt đỏ. – Cái Mẫn.
– Gì.
– Để sẵn chè. – Ông nói. – Hai chén.
— Hết chương 32 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe