Chương 8: Tro trong bếp than
Ông Lạp đi được ba bước thì dừng lại, quay về cái ghế đá, ngồi xuống. Ông đặt hộp cờ lên đùi, hai bàn tay úp lên nắp hộp.
– Cháu ngồi đi. – Ông nói. – Đứng thế người ta tưởng tôi mắng cháu.
Khuê ngồi xuống đầu kia ghế đá.
– Tôi kể một lần. – Ông Lạp nói. – Kể xong thì thôi. Cháu đừng đến hỏi lại. Tôi bảy mươi tuổi đến nơi rồi, tôi không muốn nhớ đi nhớ lại một chuyện mà tôi làm không trọn.
– Vâng ạ.
Ông im một lúc, như để sắp xếp. Rồi ông kể, giọng đều, ngắn, từng câu một như đọc biên bản, nhưng thỉnh thoảng có một chữ rơi ra không ăn nhập với biên bản nào.
Đêm hôm ấy là thứ Ba, cuối tháng Mười năm tám mươi lăm. Ông nhớ là thứ Ba vì sáng thứ Tư ông phải đi học lớp chính trị. Trăng gần tròn, sáng đến mức đi trong phố không cần đèn pin. Phường nhận được một lá thư tố giác, nói nhà số mười một Hàng Phèn cho vay lấy đồ, nhận cả đồ của hàng xóm lẫn người lạ, có sổ ghi chép. Thư không ký tên. Thời ấy cho vay lấy đồ là làm ăn chui, phường không làm thì người ta bảo phường bao che.
Ba người đi. Ông Lạp là người trẻ nhất. Thêm ông tổ trưởng dân phố đi cùng làm chứng.
– Ông cháu ra mở cửa. Mặc áo may ô, quần đùi, tay còn cầm cái tua vít. Không ngạc nhiên. – Ông Lạp nói. – Tôi nhớ nhất là không ngạc nhiên. Người bị khám nhà lúc chín giờ tối, ai cũng ngạc nhiên. Ông ấy thì như đang chờ.
Họ khám từ chín giờ đến gần mười một giờ. Trong quầy chỉ có đồng hồ, đồng hồ đeo tay, đồng hồ treo tường, đồng hồ báo thức, cái nào cũng có tờ giấy ghi tên chủ, ghi "sửa máy", "thay dây cót". Trong nhà có mấy cái nhẫn, cái vòng, ông Quyến bảo của vợ. Bà Nhu đứng ở chân cầu thang, ôm cái chăn, gật đầu.
Rồi ông Quyến tự mở ngăn kéo, đưa ra cuốn sổ.
– Sổ bìa vải xanh. – Ông Lạp nói. – Ông ấy đưa tận tay tôi. Tôi lật. Đúng là sổ cho mượn đồ, ghi từ năm tám mươi tư. Đến tháng Chín thì đứt. Thiếu mấy tờ.
– Sáu tờ ạ.
Ông Lạp liếc sang cô.
– Cháu đếm rồi à?
– Vâng.
– Ừ. Sáu tờ. – Ông gật đầu. – Tôi hỏi sao thiếu. Ông ấy bảo chuột gặm. Tôi nhìn cái gáy sổ. Phẳng như dao cắt. Chuột nhà ai mà gặm được thế. Tôi nhìn ông ấy. Ông ấy nhìn lại tôi, không chớp mắt.
– Thế ông có hỏi tiếp không ạ?
– Không.
Ông Lạp nói chữ "không" ấy rồi im lặng. Một chiếc xe buýt đỗ vào bến sau lưng hai người, cửa mở xì một tiếng, một đám học sinh ùa xuống, cười nói ầm ĩ, rồi xe lại chạy đi.
– Năm tám mươi tư, mẹ tôi cầm cái khuyên tai ở nhà ông ấy. – Ông nói. – Lấy tiền đong gạo, nhà tôi bảy miệng ăn, bố tôi nằm viện. Tôi biết. Tôi không bao giờ nói với ai là tôi biết. Mẹ tôi chuộc về rồi, chắc chuộc từ trước Tết. Nhưng tôi không biết mấy tờ cháy trong bếp hôm ấy có tên mẹ tôi không. Tôi không muốn biết.
Khuê không nói gì. Cô nghĩ đến cái cột "Trả" trong cuốn sổ, cột chỉ có một chữ và ngày tháng.
– Hai đồng chí kia về trước. Tôi ở lại lập biên bản. Ông cháu ký. Kinh doanh không phép, lập biên bản, cảnh cáo, nộp phạt. Ông ấy ký, tay không run. Xong rồi ông ấy pha ấm chè, bày cờ, bảo đánh một ván cho tỉnh ngủ. Tôi đánh. Ông ấy đánh pháo lệch, tôi tưởng ông ấy dốt, tôi thắng. – Ông Lạp cười, lần đầu tiên, một cái cười ngắn và khô. – Bây giờ tôi mới biết ông ấy cố ý thua. Người ta tưởng mình dốt thì người ta nói thật, phải không? Ông ấy dạy cháu thế à?
– Vâng ạ.
– Ông ấy để tôi thắng để tôi nói thật. Mà tôi chả nói gì. Tôi chỉ hỏi ông ấy một câu: "Ông có biết ai viết thư không?" Ông ấy bảo không biết.
– Ông có tin không ạ?
– Không. – Ông Lạp nói, rất nhanh. – Lúc tôi hỏi, ông ấy nhìn lên cầu thang. Nhìn có một cái thôi. Rồi ông ấy cầm con xe, đi một nước rất ngu.
Khuê nhìn ông. Ông Lạp nhìn mặt hồ.
– Lúc ra về, tôi đi lối sau, qua cái bếp than. Bếp còn đỏ. Toàn tro giấy, có một mảnh còn chưa cháy hết, mép quăn lại, giấy kẻ dòng. Tôi cúi xuống nhìn. Chỉ thấy được nửa chữ "trả". Tôi lấy que cời, gạt nó vào trong lửa. Rồi tôi đi.
– Ông không ghi vào biên bản.
– Tôi không ghi vào biên bản. – Ông Lạp nhắc lại. – Ba tháng sau tôi chuyển công tác. Đến bây giờ tôi vẫn không biết tôi làm thế là đúng hay sai. Đúng nghề thì sai. Mà đúng người thì…
Ông bỏ dở câu ấy, đứng dậy.
– Ông ơi. – Khuê gọi. – Sau đêm ấy có ai bị gọi lên phường không ạ? Những người có tên trong sổ ấy?
– Không ai cả.
– Thế thì…
– Thế mà phố này vẫn đồn ông cháu khai. – Ông Lạp nói, đứng quay lưng về phía cô. – Chưa đầy hai tháng sau. Cả phố. Tôi đi tuần, nghe người ta nói ở hàng nước, ở chợ: "Lão Quyến bị khám, khai ra hết người cầm đồ." Buồn cười. Ông ấy có khai ai đâu. Tôi biết, tôi ngồi đấy. Nhưng tôi là công an, tôi đi cải chính chuyện ấy thì thành ra cái gì?
– Ai đồn đầu tiên ạ?
Ông Lạp im một lúc.
– Có một thằng thanh niên. Đứng giữa phố mà chửi. Chửi to lắm. Gọi ông cháu là đồ chỉ điểm. Tôi không nhớ tên nó. Tôi chỉ nhớ nó đeo cái túi da, kiểu túi đựng máy ảnh.
Rồi ông đi, giày da đen gõ đều trên vỉa hè, điếu thuốc giắt lại sau tai, hộp cờ kẹp nách, thẳng như một người vừa đi họp về.
Sáng thứ Sáu, anh Lạc môi giới đến, áo sơ mi trắng mới, mang theo một phong bì nâu khổ lớn.
– Em chào chị Khuê ạ. – Anh ta đứng xa con mèo một khoảng an toàn rất rõ. – Em mang thư chào mua chính thức bên chị Diễm gửi gia đình. Có chữ ký, có dấu công ty đàng hoàng. Chị Diễm dặn em đưa tận tay chị, để chị chuyển cho anh Hiển và cô Hương.
Khuê mở phong bì. Ba trang, giấy dày, in tiêu đề công ty "Mái Ngói". Bốn mươi sáu tỷ. Tiến độ thanh toán ba đợt. Bên mua cam kết giữ nguyên mặt tiền. Bên bán có trách nhiệm hoàn tất việc trả đồ cho khách trước khi bàn giao. Và một điều khoản cuối cùng, đánh số riêng:
"Trước khi ký hợp đồng đặt cọc, bên mua đề nghị được cùng bên bán kiểm kê toàn bộ tài sản không thuộc danh mục cầm cố còn lại trong nhà, bao gồm tủ gỗ nhỏ đặt tại kho phía sau."
Ký tên: Đinh Hoàng Diễm.
Đúng như cô ta nói. Gửi thư, có chữ ký, có dấu.
– Chị Diễm làm ăn rất sòng phẳng, chị ạ. – Anh Lạc nói. – Giá ấy, em nói thật, cả phố không ai trả được.
– Sao chị ấy cứ nhắc đến cái tủ?
Anh Lạc cười, xoa hai bàn tay vào nhau.
– Thì người ta mua nhà cổ, người ta muốn biết trong nhà có gì cổ. Mà em nói chị nghe, chị đừng giận. Em nghe nói ông cụ có giữ một cái máy ảnh cũ phải không chị?
Khuê ngẩng lên khỏi tờ giấy.
– Ai nói với anh?
– Anh Hiển kể. – Anh Lạc nói, rất tự nhiên. – Hôm đi đo nhà, anh Hiển bảo trong tủ chắc là cái máy ảnh của ai đó cầm từ hồi xưa. Em thì không biết gì về máy ảnh đâu, nhưng em có người quen chơi đồ cũ. Máy ảnh từ thời bao cấp, nhất là máy của phóng viên ngày xưa, dân chơi họ săn lắm, chị ạ. Giá trị không phải ít đâu. Nếu gia đình muốn thanh lý…
– Không thanh lý.
– Dạ, em chỉ nói vậy thôi. – Anh Lạc lùi một bước. – Chị cứ giữ thư, chị nghĩ kỹ.
Anh ta đi rồi, Khuê ngồi nhìn tờ thư chào mua. Không phải nhìn con số bốn mươi sáu tỷ. Cô nhìn dòng chữ anh Lạc vừa nói. Anh Hiển kể. Trong tủ chắc là cái máy ảnh của ai đó cầm từ hồi xưa.
Bố cô bảo cô: "Bố không muốn biết trong đó có cái gì."
Nhưng bố cô biết.
Cô gọi cho cô Hương. Cô Hương đang dạy, nhắn lại: "Tối cô gọi." Tối cô Hương gọi, giọng mệt sau một ngày ba tiết với lớp chín.
– Cô ơi, năm tám mươi lăm bố con bao nhiêu tuổi?
– Mười bảy. Sao con hỏi?
– Năm ấy nhà mình có bị công an khám không ạ?
Đầu dây im một lúc.
– Có. – Cô Hương nói. – Cô mười hai tuổi, cô nhớ mang máng. Cô nằm trên tầng ba, nghe dưới nhà người ta nói chuyện to. Mẹ cô lên bảo cô ngủ đi. Cô ngủ. Sáng ra thấy bố cô vẫn ngồi sửa đồng hồ như thường. Cả nhà không ai nhắc lại.
– Bố con thì sao ạ?
– Bố con đêm ấy… – Cô Hương ngừng. – Cô không nhớ. Hình như đi học nhóm. Mà con hỏi chuyện này làm gì?
– Con chỉ hỏi thôi.
– Khuê. – Cô Hương gọi tên cô bằng cái giọng cô dùng để gọi học sinh đang quay cóp. – Có chuyện gì thì nói cô biết.
– Vâng. Khi nào con biết thì con nói.
Chín giờ tối, Khuê đang dọn quầy thì có tiếng gõ ở cửa bên. Cửa bên là một cánh cửa gỗ nhỏ thông ra ngõ, ít ai dùng. Cô mở. Bà Mẫn đứng đó, quấn khăn len, tay ôm cái phích nước có in hình hoa mẫu đơn đỏ đã bong sơn.
– Bà mang chè nóng. – Bà nói, rồi lách vào, không đợi mời.
Bà ngồi xuống cái ghế nhựa trong kho, ngay cạnh cái tủ gỗ nhỏ. Bà đặt cái phích xuống đất, không rót. Bà nhìn cái tủ, nhìn sợi dây đỏ trên cổ Khuê, rồi nhìn Khuê.
– Sáng nay cháu đi gặp thằng Lạp.
– Sao bà biết?
– Giời ạ. Nó đi qua hàng bà mua bao thuốc, mặt như đưa đám. Hỏi gì cũng không nói. Bốn mươi năm nay bà mới thấy nó mặt như thế một lần, là hồi nó đi khám nhà ông cháu.
Khuê ngồi xuống đối diện bà.
– Ông Lạp bảo có một người đứng giữa phố chửi ông cháu. Đeo túi đựng máy ảnh.
Bà Mẫn không trả lời. Bà cúi xuống, mở nắp phích, rót chè ra hai cái chén bà mang theo trong túi áo. Hơi nước bốc lên giữa hai người. Ngoài ngõ, có tiếng ai đó rao bánh mì nóng, tiếng rao kéo dài rồi tắt.
– Cháu muốn biết thì đi hỏi người còn sống. – Bà nói, đẩy chén chè về phía cô. – Cái Mận chết rồi. Ông cháu chết rồi.
Bà ngẩng lên. Sau cặp kính lão buộc dây chun, đôi mắt bà đỏ, nhưng giọng bà không run.
– Nhưng thằng Vĩ còn sống.
— Hết chương 8 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe