Chương 3: Giấy phép mang tên người đã mất
Người công an đứng ở ô cửa lúc bảy giờ mười lăm sáng thứ Hai, đúng lúc con mèo Lãi quyết định nhảy từ nóc két lên mặt quầy.
Anh ta lùi lại một bước. Một bước rất dài, nhanh, như tránh xe máy. Rồi anh ta đứng thẳng lên, chỉnh lại cái cặp tài liệu kẹp nách, mặt bình thản như chưa hề có bước lùi nào.
– Chào chị. Tôi là Mông Đức Thuận, công an phường Hoàn Kiếm. – Anh ta giơ thẻ ngành qua song sắt. – Chị là người nhà ông Khuất Đình Quyến?
– Vâng, tôi là cháu nội. Khuê.
– Tôi xin chia buồn với gia đình.
Anh ta chừng ba mươi, cao, gầy, tóc cắt ngắn sát gáy, quân phục là phẳng đến mức nếp gấp ở tay áo sắc như lưỡi dao. Mắt anh ta không rời con mèo đang ngồi chễm chệ giữa quầy.
– Nó không cắn đâu. – Khuê nói.
– Tôi không lo việc đó.
– Anh sợ mèo à?
– Tôi đến vì việc khác. – Anh ta mở cặp, rút ra một tờ giấy. – Tiệm này kinh doanh dịch vụ cầm đồ, là ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự. Giấy chứng nhận đủ điều kiện đứng tên ông Quyến. Ông mất rồi thì giấy ấy không dùng tiếp được nữa. Từ hôm nay, tiệm không được nhận cầm cố món nào mới.
Khuê nhìn tờ giấy anh ta đưa qua. Chữ in, có dấu đỏ, có chữ ký của ai đó cô không đọc được.
– Thế còn sáu mươi ba món đang ở trong két?
– Người ta đến chuộc thì gia đình vẫn phải trả. – Anh ta nói, không cần nhìn giấy. – Người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản người mất để lại, trong phạm vi di sản. Đồ của khách vẫn là đồ của khách. Chị lập danh sách, liên hệ từng người, ai chuộc thì làm thủ tục trả, có ký nhận. Còn nếu gia đình muốn kinh doanh tiếp thì phải đăng ký lại, đứng tên người mới, làm hồ sơ xin giấy chứng nhận mới.
– Mất bao lâu?
– Tuỳ hồ sơ có đủ không.
– Anh nói như kiểm toán viên.
– Chị làm kiểm toán à?
– Từng làm.
– Thế thì chị hiểu. – Anh ta gật đầu, như vừa xác minh xong một thông tin. – Tôi để lại số điện thoại. Chị cần gì về thủ tục thì gọi giờ hành chính.
Anh ta đưa tấm danh thiếp qua ô cửa, cẩn thận để ngón tay không lọt vào phạm vi của con mèo. Lúc rút tay về, anh ta liếc xuống mặt kính, chỗ vết nứt chân chim dán băng dính màu mật ong.
– Kính này nên thay, chị ạ. Không phải quy định gì đâu, nhưng nứt thế này, khách tì tay vào.
– Nó có làm ai đứt tay đâu. – Khuê nói. Cô nói xong mới nhận ra đó là câu của ông.
Người công an nhìn cô một lúc, có vẻ định nói gì nữa, thì có một thằng bé chui qua dưới khuỷu tay anh ta, đặt bộp một con rô-bốt nhựa lên mặt quầy.
Thằng bé chừng mười tuổi, áo đồng phục trắng, khăn quàng đỏ thắt lệch, cặp sách đeo một quai. Con rô-bốt cao bằng gang tay, màu xanh dương, một cánh tay đã gãy được dán lại bằng băng keo đen.
– Cô ơi, cái này cầm được bao nhiêu?
Khuê nhìn con rô-bốt, rồi nhìn thằng bé, rồi nhìn người công an. Anh ta đã lùi ra một bước, khoanh tay, có vẻ rất muốn xem chuyện gì xảy ra tiếp.
– Cháu cầm để làm gì?
– Mai sinh nhật mẹ cháu. Cháu cần năm mươi nghìn. – Thằng bé nói một mạch, như đã tập trước. – Thứ Bảy cháu được ông ngoại cho tiền, cháu chuộc lại. Cháu trả lãi. Cháu trả lãi cao.
– Lãi cao là bao nhiêu?
Thằng bé nghĩ một lúc.
– Mười nghìn.
– Một tuần mười nghìn trên năm mươi nghìn là hai mươi phần trăm một tuần. – Khuê nói. – Một năm là hơn một nghìn phần trăm. Cháu biết thế là gì không?
– Là nhiều ạ?
– Là phạm luật. – Người công an nói từ phía sau.
Thằng bé quay phắt lại, thấy bộ quân phục, mặt tái đi một nửa. Nhưng nó vẫn đứng yên, bám tay vào mép quầy. Khuê thấy quý nó.
– Tiệm cô không nhận đồ của trẻ con. – Cô nói. – Ông cô dặn thế. Mà hôm nay tiệm cũng không nhận của ai cả. Nhưng cô hỏi cháu một câu thôi: con rô-bốt này của ai?
Thằng bé nhìn con rô-bốt.
– Của anh cháu.
– Anh cháu có biết cháu mang đi cầm không?
Thằng bé im.
– Mang đồ của người khác đi cầm là không được. – Khuê nói. – Đồ mang đi cầm phải là đồ của mình. Cháu hỏi chú công an xem có đúng không.
– Đúng. – Người công an nói, mặt nghiêm như đang làm biên bản. – Mang đồ người khác đi cầm, không có sự đồng ý của chủ, là chú phải mời lên phường làm việc.
Thằng bé vồ lấy con rô-bốt, ôm vào ngực, chạy biến. Cái cặp một quai đập vào lưng nó bồm bộp đến tận đầu phố.
Người công an nhìn theo, khoé miệng hơi giật.
– Chị dọa trẻ con giỏi.
– Anh dọa giỏi hơn. – Khuê nói. – "Mời lên phường làm việc."
– Tôi nói đúng quy định. – Anh ta chỉnh lại cặp tài liệu. – Chào chị. Chị nhớ, từ hôm nay không nhận món mới.
Anh ta đi rồi, Khuê mới thấy con mèo Lãi vẫn ngồi giữa quầy, nhìn theo bóng quân phục với vẻ mặt rất thoả mãn.
Mười giờ, thằng Tũn đến.
Tũn là con cô Hương, mười chín tuổi, sinh viên năm hai công nghệ thông tin, cao lêu nghêu, tóc nhuộm một vệt nâu ở mái mà cô Hương bảo là "vết bẩn trên đầu". Nó đứng ở cửa, giơ điện thoại lên quay một vòng quanh tiệm.
– Chị Khuê ơi, mẹ em sai em sang phụ chị. Mà chỗ này xịn thật đấy. Cảm giác như phim ấy. Em quay một cái video "một ngày ở tiệm cầm đồ phố cổ" là triệu view.
– Cất điện thoại đi. Gọi điện cho khách.
– Gọi điện á? – Tũn nhăn mặt như bị bắt uống thuốc đắng. – Chị ơi, thời này ai gọi điện. Nhắn tin thôi chị.
– Khách của ông bảy mươi tuổi. Gọi.
Khuê chia danh sách làm đôi. Cô gọi những người quá hạn, Tũn gọi những người còn hạn. Mỗi cuộc gọi, cô nói giống nhau: ông Quyến đã mất, đồ của bác vẫn còn nguyên, bác chuộc lúc nào cũng được, lãi tính như cũ.
Đến trưa, cô gọi được ba mươi mốt người. Có người khóc. Có người im lặng rất lâu rồi bảo "thế à". Có một ông cụ hỏi lại ba lần "ông Quyến nào", đến lần thứ ba thì nhớ ra và bảo cô chờ, ông đi lấy kính, rồi không quay lại máy nữa. Có một chị nói nhanh: "Em xin lỗi, em chưa có tiền, chị cho em thêm một tháng được không, ông vẫn cho em thêm." Khuê bảo được.
Bên cạnh cô, Tũn gọi điện với cái giọng mà cô chưa nghe bao giờ: chậm, rõ, lễ phép, "dạ cháu thưa bác", "dạ bác cứ thong thả". Lúc cúp máy một cuộc, nó ngẩng lên, thấy cô đang nhìn.
– Gì ạ?
– Không. Gọi tiếp đi.
– Bác này bảo em giống ông. – Tũn nói, gãi đầu. – Kỳ ghê. Em có giống ông đâu.
Tối thứ Ba, cả nhà họp qua điện thoại. Cô Hương ngồi ở tiệm, cạnh Khuê, cái điện thoại dựng vào hộp tăm trên bàn gấp. Trên màn hình, bố cô ngồi trong văn phòng xưởng, sau lưng là chồng thùng carton cao đến trần, tiếng máy in ầm ầm.
– Sáu mươi ba món thì trả cho người ta, cần gì đến tận Tết. – Bố cô nói. – Ai không chuộc thì hết hạn thanh lý, đúng hợp đồng.
– Hai mươi hai món đã quá hạn từ lâu, ông không thanh lý. – Khuê nói. – Ông nhắn người ta cứ thong thả. Bây giờ mình thanh lý là mình làm sai lời ông hứa.
– Ông hứa thì ông chết rồi.
Cô Hương đặt cái chén nước xuống bàn, tiếng sứ chạm gỗ hơi mạnh.
– Anh nói thế mà được à.
– Thì anh nói thật. – Bố cô thở ra. – Cô Hương, anh nói thật với cô. Ngân hàng của anh không chờ. Tháng Ba anh phải có tiền.
– Thế thì anh phải chờ em. – Cô Hương nói. – Muốn bán nhà phải làm khai nhận di sản, phải có chữ ký của cả em. Em chưa ký.
Trên màn hình, bố cô nhìn sang bên, như nhìn ai đó ngoài khung hình. Rồi ông nhìn lại.
– Cô muốn gì?
– Cho con bé đến rằm tháng Giêng. – Cô Hương nói. – Nó trả xong đồ cho người ta, nó làm lại giấy tờ, nó thử giữ cái tiệm. Đến rằm tháng Giêng mà cái tiệm không tự nuôi được nó, em ký. Anh bán cho ai thì bán.
Khuê quay sang cô Hương. Chuyện này cô Hương chưa bàn với cô.
– Rằm tháng Giêng là mùng ba tháng Ba dương. – Bố cô nói. Khuê nghe tiếng ông gõ ngón tay lên bàn, đều đều, như đang tính. – Sát nút.
– Thì sát nút.
Bố cô im lặng một lúc lâu. Tiếng máy in sau lưng ông ngừng, rồi lại chạy.
– Khuê. – Ông gọi. – Con nghe bố nói. Một cái tiệm cả năm lãi bốn mươi triệu thì không nuôi nổi ai. Con làm kiểm toán, con biết. Con đang ôm một cái xác.
– Con biết, bố.
– Biết mà vẫn làm?
– Con làm kiểm toán. – Khuê nói. – Con phải tự đếm thì mới ký.
Bố cô nhìn cô qua màn hình, như nhìn một bản báo cáo có dòng ký tên quen quen. Rồi ông bảo "tuỳ hai cô cháu", rồi cúp máy.
Cô Hương ngồi yên một lúc, hai tay ôm chén nước đã nguội.
– Cô liều thế ạ? – Khuê hỏi.
– Cô không liều. – Cô Hương nói. – Cô mua thời gian. Bốn tháng. Con dùng cho tốt.
Tối thứ Tư, ngày hai mươi chín tháng Mười, Khuê ở lại tiệm một mình.
Cô ăn bát mì gói trên mặt quầy, con mèo Lãi ngồi đối diện, nhìn từng sợi mì với vẻ khinh bỉ. Ngoài phố, mấy quán bia phố bên đã lên đèn, tiếng nhạc dội về từng đợt, tiếng khách Tây cười. Cửa cuốn cô đã kéo xuống, chỉ chừa một khe sát đất cỡ ba đốt ngón tay cho thoáng.
Mười một giờ kém, cô đang cộng lại cột tiền những món đã có người hẹn chuộc thì nghe một tiếng sột soạt.
Một tờ giấy trượt vào qua khe cửa, nằm trên nền gạch hoa.
Con mèo Lãi nhảy xuống trước cô. Nó ngửi tờ giấy, lùi lại, xù lông.
Khuê đứng dậy. Tim cô đập nhanh, nhưng tay vẫn vững. Cô cúi xuống nhặt tờ giấy. Giấy trắng, gấp đôi, loại giấy in văn phòng. Bên trong, chữ viết tay bằng bút mực xanh, nét chữ in hoa nắn nót, cố ý không để lộ chữ thật:
"CÁI MÁY ẢNH CỦA NHÀ HỌ ĐINH VẪN CÒN TRONG ẤY PHẢI KHÔNG?"
Cô kéo bật cửa cuốn lên. Tiếng tôn rít vang cả dãy phố.
Phố Hàng Phèn vắng tanh. Đèn đường vàng vọt soi một vệt xuống vỉa hè. Một cái túi nilon bay lật phật dưới gốc cây. Cách hai nhà, cửa kính khách sạn Mái Ngói sáng đèn, một người gác cửa mặc áo vest đen đứng hút thuốc, quay lưng về phía cô. Ở bậc cửa nhà số chín bên cạnh, chỗ bóng tối đặc nhất, có một khối gì đó lù mù, có thể là cái thùng rác, có thể là đống bao tải ai để quên.
Không có ai chạy. Không có ai đi. Chỉ có mùi hoa sữa, nồng như đêm đầu tiên.
Khuê đứng ở cửa, tay cầm tờ giấy, nhìn ngược vào trong tiệm tối, về phía cái kho, nơi trong cái tủ gỗ nhỏ có một cái bọc vải dầu to cỡ hai bàn tay chụm lại. Cô chưa bao giờ nghĩ nó là gì.
Bây giờ thì cô biết nó nặng cỡ nào. Cô đã nhấc nó lên một lần, hôm thứ Sáu, khi đặt lại cho ngay ngắn trên tấm nỉ. Nặng tay. Cứng. Có một chỗ lồi tròn ở một đầu.
Như một cái ống kính.
— Hết chương 3 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe