AI Truyện
Bốn mươi năm chờ người chuộc

🏙️ Đô thị & làm giàu

Sân thượng Mái Ngói

Bốn mươi năm chờ người chuộc · Chương 15/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 15: Sân thượng Mái Ngói

– Ba chỗ. – Diễm nói, chỉ tay qua lan can. – Cô nhìn kìa. Chỗ gần ống khói, chỗ sát tường nhà số chín, và chỗ ngay trên phòng tầng ba. Mưa xuân là dột.

Khuê đứng cạnh cô ta, nhìn sang. Từ sân thượng khách sạn Mái Ngói, cách hai nhà, mái ngói nhà ông hiện ra dưới ánh đèn đường hắt lên, những viên ngói mũi hài xếp lớp như vảy cá, phủ rêu xám. Ở ba chỗ Diễm chỉ, ngói vỡ, lộ ra những khe tối. Chỗ thứ ba nằm ngay trên phòng cô đang ngủ.

– Chị đếm từ bao giờ?

– Từ năm hai nghìn hai mươi ba. Khi tôi mua lại căn nhà này. – Diễm nói. – Tối nào làm việc khuya tôi cũng lên đây. Tôi nhìn cái mái ấy nhiều hơn nhìn mái nhà mình.

Lúc sáu rưỡi, trước khi đi, Khuê ra hàng chè bà Mẫn mua một gói lạc rang mang theo. Bà Mẫn đưa gói lạc, rồi giữ tay cô lại.

– Ăn gì chưa?

– Cháu đi ăn tối ạ. Bên Mái Ngói mời.

– Thế thì ăn cái bánh mì này trước đã. – Bà Mẫn dúi vào tay cô nửa cái bánh mì pa-tê còn ấm. – Đi ăn cỗ nhà người lạ phải no sẵn. Đói thì người ta nói gì mình cũng gật.

– Bà ơi, đây không phải ăn cỗ.

– Bà biết. Còn hơn ăn cỗ. – Bà Mẫn nói. – Ăn đi. Nhai cho kỹ. Nhai kỹ thì đầu mới tỉnh.

Khuê đứng ăn nửa cái bánh mì bên hàng chè, trong gió lạnh, bà Mẫn nhìn cô nhai như nhìn một đứa trẻ trước giờ đi thi. Ăn xong, bà phủi vụn bánh trên áo khoác cô, chỉnh lại cái khăn len, rồi đẩy cô đi.

Tối thứ Bảy, mười ba tháng Mười Hai. Trời rét, gió đã lặng, sương mù mỏng như khói bếp phủ lên những mái nhà phố cổ. Trên sân thượng, Diễm đã kê sẵn một cái bàn gỗ thấp, hai cái ghế mây có đệm, một cái lò sưởi điện toả ánh cam, hai cái chăn len gấp vuông. Trên bàn có hai bát bún thang còn bốc khói, một đĩa chanh ớt, một lọ mắm tôm nhỏ, một ấm trà gừng.

– Tôi nghe người ta bảo người Hà Nội cũ ăn bún thang vào hôm trời rét. – Diễm nói. – Tôi không biết đúng không. Tôi lớn lên ăn bánh mì đen với xúc xích.

– Đúng ạ. – Khuê nói. – Ông em hay ăn. Ông bảo bún thang là món của người tiếc, cái gì thừa từ mâm cỗ Tết cũng thái nhỏ cho vào, không bỏ cái gì.

Diễm nhìn cô một lúc, rồi cầm đũa lên.

– Thế thì ăn đi. Không có biên bản.

Họ ăn trong im lặng. Bún thang nóng, nước dùng trong, ngọt, thoảng mùi tinh dầu cà cuống. Dưới sân, tiếng đàn của Lâm vọng lên, một bản nhạc không lời chậm rãi. Khuê ăn hết bát bún, dù nửa cái bánh mì của bà Mẫn vẫn còn nằm trong bụng.

Diễm ăn chậm, gắp từng sợi, như người làm một việc cần chính xác. Ăn xong, cô ta đặt đũa song song lên miệng bát, rót trà gừng vào hai cái cốc sứ, đẩy một cốc về phía Khuê.

– Tôi không cần thêm mười phòng, cô Khuê. – Cô ta nói.

Khuê cầm cốc trà, để hơi ấm ngấm vào lòng bàn tay.

– Em biết.

– Tôi có ba khách sạn. Công suất năm nay chưa đến sáu mươi phần trăm. Mua thêm một căn nhà bốn mươi sáu tỷ để làm sảnh là một quyết định kinh doanh tồi. Kế toán của tôi đã nói thế. Ngân hàng của tôi cũng nói thế.

– Thế sao chị vẫn mua?

Diễm không trả lời. Cô ta nhìn sang mái nhà ông, nhìn ba chỗ ngói vỡ.

– Tôi đã làm mọi thứ đúng luật. – Cô ta nói. – Thư chào mua, có chữ ký. Đơn trình báo, có chữ ký. Hợp đồng đặt cọc, có chữ ký. Tôi không thuê ai làm giả giấy tờ. Tôi không dọa ai. Tôi không luồn giấy qua khe cửa nhà ai lúc nửa đêm.

– Em tin chị.

– Thế thì cô cho tôi xem cái bọc.

Khuê đặt cốc trà xuống bàn.

– Không mở. – Diễm nói nhanh, như đã đoán trước. – Tôi không xin cô mở. Tôi chỉ xin cô mang nó ra, đặt lên bàn, để tôi nhìn. Để tôi biết nó còn đó. Một giờ. Cô ngồi bên cạnh suốt.

– Chị muốn biết nó còn đó để làm gì?

– Vì có thể nó không còn đó. – Diễm nói, và lần đầu tiên, giọng cô ta không giống đọc văn bản nữa. – Có thể ông cô đã bán nó từ ba mươi năm trước, rồi gói một cục gạch vào vải dầu, viết một mẩu bìa thật đẹp để không ai nghi. Người ta làm thế suốt.

– Thì ông em giữ một cục gạch bốn mươi năm. – Khuê nói. – Năm nào cũng lau. Năm nào cũng thay miếng nỉ.

Diễm nhìn cô. Gió lại nổi lên một chút, cái lò sưởi điện kêu tách một tiếng.

– Cô không biết những gì tôi biết về ông cô. – Diễm nói.

– Chị cũng không biết những gì em biết.

– Cô biết gì?

Khuê lấy điện thoại ra. Cô mở tấm ảnh cô đã ghép hôm thứ Năm, hai mươi tháng Mười Một, nửa trên của ông, nửa dưới của tờ biên nhận giả. Cô đặt điện thoại lên bàn, quay về phía Diễm.

"Máy ảnh ông Lịch. Đinh Quang Vĩ."

Diễm cúi xuống nhìn. Khuê thấy cô ta nín thở. Ngón tay cái bên phải lại tìm đến mặt đồng hồ, nhưng lần này không miết. Nó dừng lại, ấn xuống, như ấn vào một vết đau.

– Cô đọc được dòng này ở đâu?

– Nửa trên là của ông em, ghim trên cái bọc. Nửa dưới là của tờ biên nhận giả anh Lạc thuê người mang đến. – Khuê nói. – Tờ giả xé sai, ngâm nước chè cho vàng, em nhìn là biết. Nhưng chữ trên tờ giả thì người ta chép đúng từng nét. Không ai bịa được nửa dưới của một dòng chữ mà mình chưa thấy nửa trên. Nghĩa là anh Lạc đã nhìn thấy nửa tờ thật, hoặc một bản sao của nó.

Diễm nhắm mắt lại.

– Tôi photo nó cho luật sư. – Cô ta nói, mắt vẫn nhắm. – Để trên bàn làm việc đúng một buổi chiều. Hôm ấy anh Lạc đến đưa hồ sơ.

– Chị có nửa tờ thật.

– Tôi không có. – Diễm mở mắt. – Tôi được cầm nó đúng một lần, đủ lâu để photo. Người giữ nó không cho tôi mang nó ra khỏi cái ví của người ấy. Không phải cho tôi. Không phải cho ai.

Dưới sân, Lâm chuyển sang một bài hát. Lần này có lời, một bài hát cũ về mùa đông Hà Nội. Giọng anh ta khàn khàn, bay lên giữa những mái ngói.

– Người ấy là ông Vĩ. – Khuê nói.

Diễm không trả lời. Cô ta kéo cái chăn len lên đắp ngang đùi, như người đột nhiên thấy lạnh.

– Cô Khuê. – Cô ta nói, sau một hồi. – Có những người đang quên dần mọi thứ. Không phải quên vì già. Quên vì cơ thể họ không nghe lời họ nữa. Hôm nay họ còn nhớ tên một con phố. Năm sau họ không nhớ. Tôi muốn trước khi họ quên, họ được cầm lại một thứ họ đã mất. Chỉ thế thôi. Tôi không cần bốn mươi sáu tỷ có giá trị. Tôi cần thời gian có giá trị.

Khuê ngồi im. Cô nghĩ đến ông Viêm, đến cái đồng hồ chậm hai phút, đến câu "Tay ông ấy có run đâu".

– Thế thì chị mang nửa kia đến. – Cô nói. – Hoặc mang người giữ nó đến. Ông em ghi rõ: ai mang nửa kia đến chuộc thì trả, không lấy lãi. Em không cần gì hơn. Không cần bốn mươi sáu tỷ. Không cần ai rút đơn. Chỉ cần nửa tờ giấy ấy đặt cạnh nửa tờ của ông trên cái quầy kính.

– Người ấy sẽ không đến.

– Sao chị biết?

– Vì người ấy nói thế. – Diễm nói. – Từ hồi tôi đủ lớn để hỏi, lần nào tôi hỏi, người ấy cũng chỉ nói một câu: "Tôi không chuộc đồ ở nhà kẻ khai báo."

Khuê đặt cốc trà xuống. Trà đã nguội từ lúc nào.

– Ông em không khai báo ai.

– Cô có bằng chứng không?

Câu hỏi ấy Diễm nói không phải để thách. Cô ta hỏi thật, như người đã đi tìm bằng chứng ấy rất lâu mà không thấy.

Khuê nghĩ đến sáu cái cuống giấy ở gáy cuốn sổ. Đến tro trong bếp than. Đến hai chục nhà trên phố không ai bị gọi lên phường. Đến ông Lạp gạt mảnh giấy chưa cháy vào lửa. Cô có thể kể. Nhưng cô biết những thứ ấy, với một người đã tin điều ngược lại bốn mươi năm, sẽ chỉ là lời kể của gia đình cô.

– Em có người. – Cô nói. – Không có giấy.

Diễm nhìn cô một lúc. Rồi cô ta gật đầu, rất chậm, như người vừa nghe một câu trả lời mình không thích nhưng không cãi được.

– Vậy để tôi tìm người chuộc cho cô. – Diễm nói. – Còn cô, cô đi tìm người của cô đi.

Khuê xuống cầu thang lúc chín giờ. Tầng ba, tầng hai, những cánh cửa phòng sơn xanh rêu, những tấm biển đồng khắc tên đồ cổ. "Phòng Ấm Đất." "Phòng Đèn Dầu." Cô đi ngang qua văn phòng tầng bốn lúc nãy. Cửa khép. Bức ảnh đen trắng năm tám mươi lăm treo phía sau cánh cửa ấy, ông nội cô bốn mươi tư tuổi đứng sau quầy kính còn nguyên.

Điện thoại cô rung. Tin nhắn của anh Thuận.

"Tôi tan ca. Chị đang ở Mái Ngói à? Tôi đi ngang. Chị cần người đi cùng về không?"

Khuê đứng giữa cầu thang, đọc tin nhắn, rồi bật cười.

"Em về hai nhà thôi anh."

Mười giây sau.

"Hai nhà cũng là đường."

Cô đứng nhìn dòng chữ ấy, môi hơi cong lên. Rồi cô nhắn: "Anh đứng chỗ hàng chè bà Mẫn. Em ra." Cô cất điện thoại, đi nốt mấy bậc thang, và nhận ra mình đang đi nhanh hơn lúc nãy.

Dưới sân, Lâm đã hát xong, đang lau đàn, cất vào hộp. Mấy vị khách đã lên phòng. Cây khế già trong chậu sành rủ những chiếc lá nhỏ xuống ánh đèn lồng.

– Chị Khuê. – Lâm gọi. – Chị về à?

– Ừ. Anh hát hay lắm.

– Dạ. – Lâm kéo khoá hộp đàn, rồi ngập ngừng. – Chị ơi, em có chuyện này, em không biết có nên nói không.

Khuê dừng lại.

– Anh cứ nói.

– Chủ nhật tuần trước, em đi giao một cây đàn cũ cho khách ở bên hồ Tây. – Lâm nói. – Chỗ ấy có một cái viện dưỡng lão, sân rộng, nhìn ra hồ. Em đi ngang, em thấy chị Diễm. Chị ấy đang đẩy xe lăn cho một ông cụ đi dọc bờ hồ. Ông cụ gầy lắm, tay run run. Chị ấy cúi xuống nói gì đó với ông cụ, rồi lấy khăn lau tay cho ông cụ. Lau từng ngón.

Lâm nhìn cô.

– Em hỏi bác bảo vệ ở đấy. Bác ấy bảo chiều Chủ nhật nào chị ấy cũng đến. Bốn giờ đến, sáu giờ về. Chưa lỡ tuần nào.

— Hết chương 15 —

Mục lục Bốn mươi năm chờ người chuộc

  1. 1Ông có lên dây cho cái đồng hồ không?11 phút
  2. 2Chậm hai phút12 phút đọc
  3. 3Giấy phép mang tên người đã mất11 phút đọc
  4. 4Bộ ấm của mẹ10 phút đọc
  5. 5Cây đàn đi về mỗi tuần11 phút đọc
  6. 6Bà chủ Mái Ngói10 phút đọc
  7. 7Người chơi cờ ven hồ10 phút đọc
  8. 8Tro trong bếp than10 phút đọc
  9. 9Biên nhận số bốn trăm mười bảy10 phút đọc
  10. 10Nửa tờ giấy pơ-luya11 phút đọc
  11. 11Tấm huân chương không cầm10 phút đọc
  12. 12Ông Đoái đứng gác11 phút đọc
  13. 13Chiếc váy cưới hai lần10 phút đọc
  14. 14Tiền cọc10 phút đọc
  15. 15Sân thượng Mái Ngói10 phút đọc
  16. 16Ông Viêm nhớ một người11 phút đọc
  17. 17Đêm Noel phố Nhà Chung10 phút đọc
  18. 18Người ngồi xe lăn11 phút đọc
  19. 19Hai nửa tờ biên nhận12 phút đọc
  20. 20Chiếc khánh bạc10 phút đọc
  21. 21Năm 1985 của người khác12 phút đọc
  22. 22Video của thằng Tũn12 phút đọc
  23. 23Bộ ấm về nhà10 phút đọc
  24. 24Chữ học trò11 phút đọc
  25. 25Cái máy khâu ở Hàng Gai12 phút đọc
  26. 26Hai mươi ba tháng Chạp10 phút đọc
  27. 27Bà Mẫn nằm viện10 phút đọc
  28. 28Tết chuộc đồ11 phút đọc
  29. 29Đoàn viên mười bảy tuổi11 phút đọc
  30. 30Lời thề với bà Mẫn10 phút đọc
  31. 31Bố đi hồ Tây11 phút đọc
  32. 32Những người được che11 phút đọc
  33. 33Hai nửa khớp nhau12 phút đọc
  34. 34Hai mươi mốt kiểu ảnh12 phút đọc
  35. 35Rằm tháng Giêng11 phút đọc
  36. 36Bảy giờ sáng10 phút đọc

Về truyện này

Bốn mươi năm chờ người chuộc là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →